|
Tông Môn Cảnh Huấn 3
50. Những điểm thiết yếu trong sự tu
Nhiều người cho rằng tu phải làm từ thiện cứu kẻ này người kia mới thật là từ bi. Hoặc tu phải thành tâm tụng kinh cầu nguyện cho bá tánh được bình an, cầu cho người chết sanh về cõi Phật. Ở đây tôi bắt Tăng Ni ngồi thiền im lìm, không làm từ thiện cũng không tụng kinh cầu nguyện, như vậy có tu chưa? Đó là vấn đề quan trọng chúng ta phải hiểu cho tường tận, biết rõ đâu là việc đáng làm và không đáng làm. Trong kinh Phật dạy, nghiệp là đầu mối dẫn chúng sanh trầm luân sanh tử, qua lại liên tục trong sáu đường. Nhân quả lành dữ tạo thành nghiệp lành nghiệp dữ. Nhân quả đi liền nghiệp báo, do tạo nhân nên phải lãnh quả. Vì thế nhân quả có sức mạnh lôi kéo chúng sanh tạo nghiệp luân hồi. Ngoài thế gian có nhiều gia đình vợ chồng sống bất hòa nhưng không bao giờ ly dị. Bởi chưa trả hết nợ nần nên phải tiếp tục chung sống để trả, đó là lẽ thường. Cha mẹ có đứa con hư dở mà không nỡ bỏ, phải đeo mang v.v... Tất cả nghiệp báo này do nhân đời trước làm lành làm dữ nên đời này gặp để trả. Những chuyện vui buồn chúng ta không thể tránh khỏi cũng là nghiệp báo của quá khứ, bây giờ phải đền trả lại một cách công bằng. Phật dạy, chúng sanh có sáu đường luân hồi, ba đường ác là: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh; ba đường lành là: người, a-tu-la và trời. Tạo nghiệp dữ sẽ đi ba đường ác, tạo nghiệp lành sẽ đi ba đường lành. Được làm thân người do đời trước tạo duyên tốt, vậy mà ai đó buồn nản đòi tự tử thì thật quá khờ dại. Kinh nói được thân người là khó, phải biết tranh thủ dùng nó để tu hành, tạo thiện nghiệp tăng trưởng phước đức và trí tuệ. Nghiệp phát xuất từ ý niệm. Ý nghĩ tốt miệng nói tốt thân làm tốt, ý nghĩ xấu miệng nói xấu thân làm xấu. Gốc sự tu phải chặn ngay ý nghiệp, giữ ý trong sạch thì thân miệng thanh tịnh không làm bậy. Ngồi thiền không cho nghĩ xấu là tiến một bước, nhưng đối với niệm tốt cũng không khởi luôn. Chỗ này nhiều người thắc mắc, tu là gạn lọc điều xấu giữ lại điều tốt, bây giờ bỏ luôn ý tốt là sao? Nếu chưa nắm vững điều này tâm dễ sanh nghi ngờ, không biết ngồi thiền như vậy kết quả sẽ thế nào. Tu có hai chặng. Thứ nhất, tu để gạn lọc thân tâm, chuyển nghiệp xấu ác trở thành lương thiện, sanh vào ba đường lành. Lâu nay chúng ta quen quan niệm tu trong đối đãi hoặc tốt hoặc xấu. Bỏ được cái xấu còn cái tốt là một bước đáng khen, nhưng giác ngộ giải thoát mới thực là mục đích cứu cánh. Giác là thấy đúng lẽ thật về con người và các pháp xung quanh một cách tường tận hợp chân lý. Ai chẳng biết thân này giả nhưng khi đối diện với mọi người lại thấy thật như thường, thành thử mê nhiều hơn tỉnh. Nếu thân này thật, chắc tổ tiên chúng ta tới giờ còn nguyên. Vậy mà lớp trước lớp sau đi gần hết, sắp tới phiên mình cũng phải đi luôn. Khi còn làm thái tử, đức Phật thấy cảnh người già, người bệnh và người chết mà chấn động phát tâm đi xuất gia. Ngài biết chắc chắn mai này mình sẽ như vậy, không nghi ngờ. Chúng ta thấy người khác già nghĩ mình chưa già, thấy người khác bệnh nghĩ mình còn khỏe mạnh, thấy người khác chết nghĩ mình chưa chết, mặc tình ung dung qua ngày, không lo tìm đường giải thoát. Thật quá đáng thương! Từ mê lầm chấp thân thật nên chúng ta mải chạy theo những gì nó ham muốn ưa thích. Cả một đời dồn hết công sức lo cho cái giả, cuối cùng vẫn không giữ được. Trong cuộc sống luôn luôn bất an, vui khi thuận buồn khi nghịch, tất cả những nghĩ suy vọng động, tính toán đó đều không thật. Mê lầm về thân, mê lầm về tâm là hai nỗi khổ lớn lao của con người. Tâm vọng động xúi giục miệng nói, thân làm những điều tội lỗi kết thành nhân đi trong luân hồi sanh tử. Cho nên tu là thấu suốt thân tâm không thật, buông sạch chấp trước mới mong thoát ly sanh tử. Chúng sanh tạo nghiệp lành tùy theo mức độ mà được trở lại làm người, a-tu-la hoặc sanh lên cõi trời. Tuy nhiên đức Phật không khuyến khích chúng ta tu để sanh về cõi trời, bởi vì lên đó hưởng phước muốn gì được nấy, muốn ăn ngon có ăn ngon, muốn mặc đẹp được mặc đẹp, cái gì cũng toại ý thì rất khó tu. Giả sử sống trên cõi trời hưởng thụ một hai ngàn năm, tới chừng hết phước lại bị tuột xuống. Bỏ thời gian lâu dài chỉ để hưởng thụ, rốt cuộc thân cũng bại hoại như thường. Cho nên Phật dạy tu Thập thiện để chuyển tâm ác thành thiện, rồi tiếp tục tiến lên nữa, chứ không cầu mong phước báo cõi trời. Chặng thứ hai, Phật dạy lúc tọa thiền bỏ nghĩ xấu và nghĩ tốt, vì suy nghĩ là nhân đi trong lục đạo luân hồi. Nghĩ tốt sanh ba đường lành, nghĩ xấu sanh ba đường dữ, muốn thoát ly luân hồi sanh tử phải vô niệm. Vô niệm mà hằng biết chứ không phải khờ khạo, không ngơ. Khi xưa đức Phật Thích Ca ngồi thiền dưới cội bồ-đề 49 ngày đêm tâm hoàn toàn an định chứng được Tam minh, Lục thông, Tứ vô sở úy v.v... Nghĩa là lúc tâm vắng lặng thanh tịnh sẽ phát ra những điều kỳ diệu không ngờ. Đó là Phật tánh sẵn có, bất sanh bất diệt trong mỗi chúng sanh. Trong kinh Pháp Hoa phẩm Tín Giải kể về anh chàng cùng tử lang thang đói khổ, thuở nhỏ xuất thân trong gia đình giàu sang sung túc, lớn lên bỏ cha trốn qua nước khác. Trải qua mấy chục năm mà vẫn nghèo cùng khốn khổ, rong ruổi bốn phương tìm cầu sự ăn mặc. Đi mãi đi mãi tình cờ trở về quê hương gặp lại cha già, cuối cùng được giao hết toàn bộ gia tài. Chúng ta cũng từng lang thang khổ sở trong sanh tử, bây giờ muốn trở về quê cũ phải chịu khó quay đầu. Thức tỉnh biết rõ mỗi bước trở về là mỗi bước gần với quê hương, chỉ khác nhau ở chỗ chậm hay nhanh thôi. Mỗi chúng sanh đều có tánh Phật hiện tiền không thiếu vắng nhưng lại bỏ quên rồi tiếp tục tạo nghiệp. Càng sanh càng khổ, mỗi đời chồng thêm một mớ nghiệp, thử hỏi nhiều đời nhiều kiếp nghiệp chừng bao nhiêu? Đó là cái khó khi chúng ta ngồi lại tu, chuyện năm trên năm dưới nhớ hoài không hết. Lẽ ra ngồi để buông bỏ mà chuyện đâu đâu cứ nhảy ra trong đầu. Tất cả đều là chủng tử nghiệp mình từng chất chứa, huân tập từ nhiều đời. Có học tăng hỏi vị thiền sư thế nào là Phật tánh? Phật tánh ở đâu? Thiền sư chỉ ngay dưới gót chân học tăng. Không xa cũng không rời mình, chỉ vì chúng ta đeo mang những thứ hư dối nên quên bẵng tâm chân thật. Mỗi đêm tụng kinh Bát-nhã để thấy thân tâm này không thật, từ đó buông sạch lầm chấp mê muội. Tâm lăng xăng sanh diệt lặng rồi, tâm chân thật mới hiện tiền. Tu là dùng trí tuệ thấy rõ cái giả của thân tâm để không còn dính mắc, buông xả hết rồi mới xứng đáng được trưởng giả trao cho sự nghiệp. Tu thiền là trở về với tâm chân thật của chính mình. Ngồi lại để lặng tâm dính mắc, đối đãi phân biệt. Thiền sư Nhật Bản hiệu Đạo Nguyên từng nói, một giờ ngồi thiền là một giờ làm Phật. Vừa nghĩ đến thân biết thân giả, bỏ niệm nghĩ ấy liền là giác. Vừa nghĩ lăng xăng biết tâm giả, bỏ tâm suy nghĩ liền là giác. Tu Phật để trở về chỗ giác ngộ viên mãn. Muốn vậy trước phải giác ngộ ngay nơi thân tâm, biết rõ cái giả để không mắc kẹt thiện ác hai bên, nhận và sống được với tâm chân thật là người tu hành siêu thoát ra khỏi sanh tử. Bài pháp đầu tiên Lục Tổ nói cho thượng tọa Minh chỉ vỏn vẹn trong một câu: “Không nghĩ thiện không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh”. Bản lai diện mục là mặt thật muôn đời của chính mình, luôn luôn sẵn có. Chúng ta ngồi thiền để dừng hết tâm niệm thiện ác, trở về sống với tâm chân thật. Đó là mục đích cứu cánh người tu Phật phải thấy hiểu tường tận. Tóm lại tu thiền để lặng tâm sanh tử, trở về thể chân thật bất sanh bất diệt. Vọng tưởng khởi cứ buông đừng chạy theo, bỏ cái giả thì cái thật tự hiện, khỏi cần tìm kiếm đâu xa. Đó là những điều thiết yếu trong pháp tu chúng ta đang thực hành. Mong tất cả quý vị hiểu rõ để trên đường tu không còn ngờ vực. Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 3
Phần I - Giáo huấn chư Tăng nội viện
Phần II - Giáo huấn chư Ni nội viện
|
Phần I - Giáo huấn chư Tăng nội viện
Phần II - Giáo huấn chư Ni nội viện
39. Sự khác biệt giữa hồi quang phản chiếu và phản quan tự kỷ
50. Những điểm thiết yếu trong sự tu