Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 3
16. Nguyện vọng của tôi

Ngày 01/01/ Canh Thìn - 05/02/2000

Hôm nay là ngày Tết Nguyên đán, ở chùa cũng như ngoài thế gian, dân tộc Việt Nam rất quý trọng ngày Tết Nguyên đán. Cho nên đầu năm con cháu trong nhà đến chúc mừng cho ông bà, cha mẹ. Năm nay, ở trong chùa cũng thể theo thông lệ chung đó mà có buổi lễ chúc Tết đầu năm do Tăng Ni và Phật tử tới đây chúc mừng năm mới. Vì vậy buổi lễ này bắt đầu bằng lời chúc Tết của Tăng Ni và Phật tử. Sau đó chúng tôi mới nhắc nhở, chuẩn bị cho một năm mới được tốt đẹp hơn. 

Tăng Ni đã chúc Tết tôi rồi. Giờ đến phần tôi. Tôi có lời chúc mừng lại, mà cũng là lời khuyến khích tu hành. Trong đây tôi có chia ra hai phần: 

- Phần thứ nhất là tôi chúc mừng quý vị đầu năm. 

- Phần thứ hai là tôi nói nguyện vọng của tôi cho tất cả quý vị nghe. Chư Tăng Ni biết để sau này tiếp nối những gì tôi muốn làm, tôi đang làm cho được tốt đẹp. 

Trước hết tôi chúc Tết cho Tăng Ni và toàn thể Phật tử. Tất cả chúng ta là người Việt Nam, sống trên đất nước Việt Nam, tự nhiên chúng ta cũng theo phong tục tập quán của người Việt Nam. Tổ tiên chúng ta ngày xưa rất quan trọng ngày mùng 1 Tết. Những việc gì xấu hoặc người không hạp tuổi thì không nên đến nhà, sợ mang cái không tốt lại cho người. 

Ở chùa chúng ta lý đáng đã vượt qua khỏi những phong tục tập quán đó. Nhưng cái gì hay của tổ tiên mình, chúng ta dù tu cũng không thể bỏ qua trừ những điều gì vô nghĩa thì chúng ta không làm. Vì vậy ở chùa cũng nhân ngày đầu năm chúc mừng nhau. Chúng ta dùng những lời đạo đức để khuyến khích, sách tấn nhau tu hành, để nhớ ngày kỷ niệm đầu năm mà cố gắng thực hành, cố gắng ứng dụng cho đời tu được hữu ích. Đó cũng là lợi lạc lớn.

Sang năm Canh Thìn này, tôi cầu nguyện Tam bảo gia hộ cho Tăng Ni và Phật tử một năm an vui, tinh tấn tu hành và luôn luôn tỉnh giác, không để cho những cái mê lầm che lấp tâm mình. Tôi cầu nguyện tất cả quý vị lúc nào cũng thấy rõ đạo đức là ngọn đuốc sáng. Mình phải ráng mồi, ráng thắp cho cháy ngọn đuốc của mình, để rồi mình sẽ mở cho cháy những ngọn đuốc của người sau. Chúng ta thấy đường đi, cũng muốn cho tất cả người cùng thấy như mình, mãi về sau đều được sáng suốt luôn. Ngọn đuốc chánh pháp chúng ta mồi được, không bao giờ để cho nó tắt, phải tiếp nối mãi mãi. Đó là lời chúc chân thành của tôi, cũng là ước nguyện của tôi. Mong tất cả Tăng Ni và Phật tử thành tâm ghi nhớ.

Phần chúc Tết đã xong, giờ tới phần nguyện vọng của tôi. 

Nguyện vọng của tôi thế nào? Muốn biết nguyện vọng của tôi thật rõ thì câu hỏi đặt ra ở đây là: Tại sao tôi đặt tên thiền viện này là Trúc Lâm? Quý vị nghe dường như lạc đề. Nhưng thật ra khi tôi đặt tên một ngôi thiền viện nào, thì đó là tất cả nỗi lòng ôm ấp của tôi. Nó thể hiện qua những từ ngữ đó, chứ không phải chuyện ngẫu nhiên hay bắt chước ai, mà là tất cả nỗi lòng tôi đang ôm ấp.

Tại sao tôi đặt tên thiền viện Trúc Lâm, quý vị chịu khó nghe cho kỹ dòng thời gian từ trước đến nay, mới thấy rõ ý nghĩa đó. Bây giờ tôi nói xa xôi một chút. Đọc lịch sử Việt Nam, tất cả chúng ta đều thấy, đều biết rõ rằng nước Việt Nam đã bị Bắc thuộc hơn một ngàn năm, rồi Tây thuộc cả một trăm năm. Trong thời Tây thuộc, tôi đã có mặt vào thời gian cuối. Có mặt trong lúc đất nước bị lệ thuộc ngoại bang, chúng tôi thấm sâu nỗi đau khổ tủi nhục của dân tộc bị ngoại bang cai trị. Bởi vậy tôi mong mỏi, trông chờ đất nước Việt Nam được độc lập vững bền, dài lâu, để cho nỗi khổ đau và tủi nhục của dân tộc được chữa lành. Vì vậy lúc nào tôi cũng có tâm niệm nguyện cầu cho đất nước chúng ta được độc lập vững bền, cho dân tộc chúng ta được an vui hạnh phúc. Đó là nguyện vọng của tôi đối với đất nước.

Một đất nước thực sự độc lập đòi hỏi phải độc lập về chính trị, độc lập về quân sự, độc lập về văn hóa, độc lập về kinh tế. Nhưng chúng tôi lại có duyên sâu trong Phật pháp. Cho nên ở trên đất nước Việt Nam, mà tôi chỉ có mặt trong lĩnh vực Phật giáo, chứ không có mặt trong những lĩnh vực khác. Vì thế ở lĩnh vực Phật giáo, tôi phải làm thế nào cho Phật giáo Việt Nam đóng góp một phần lớn cho dân tộc, cho đất nước. Làm sao đem được ánh đuốc sáng của Phật giáo soi cho người dân Việt Nam thấy được con đường sáng suốt, tránh những hầm hố để không bị vấp ngã, không bị những điều khó khăn làm trở ngại trên bước đường tiến tới.

Vì vậy tôi nghĩ phải làm sao tạo duyên cho Tăng Ni tu và truyền bá Phật pháp cho hàng Phật tử hiểu. Đến đây, tôi thấy cơ duyên thuận lợi cho nên mới thành lập thiền viện Trúc Lâm. Khi thành lập thiền viện, tôi xem lại kỹ trong dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam, những mốc nào điểm nào thích hợp với hoàn cảnh, với đất nước hiện tại để chọn làm mốc son. Chúng ta tu, truyền bá, đem ra phổ biến cho mọi người thấy biết mà ứng dụng. Được như vậy mới phù hợp với tinh thần dân tộc của mình trong giai đoạn hiện tại này.

Khi chọn lựa, tôi chấm ngay thời điểm Phật giáo đời Trần. Tôi cho đó là một điểm son. Đó là thời gian xứng đáng để chúng ta đánh dấu, nương theo tu và truyền bá chánh pháp, đồng thời thể hiện được tinh thần lợi dân ích nước. Đem tất cả khả năng đức độ của mình gieo rắc cho người dân, cho đất nước được những mầm non tươi đẹp và cường tráng. Do đó chúng tôi lấy Phật giáo đời Trần làm mốc chính. 

Khi xây dựng xong thiền viện, tôi đặt tên là thiền viện Trúc Lâm, đúng với ý nghĩa là Trúc Lâm Yên Tử. Chữ Trúc Lâm có hai ý:

1 Trúc Lâm khi đức Phật còn tại thế, ngài đã được nhà vua xây dựng một ngôi tịnh xá để tên là tịnh xá Trúc Lâm. Đó là Trúc Lâm thời đức Phật. 2. Trúc Lâm hiện nay của chúng ta là Trúc Lâm Yên Tử, chứ không phải Trúc Lâm của ngôi tịnh xá thuở kia. Trúc Lâm Yên Tử để nói lên một hệ thống truyền bá Phật pháp ngay trong đời Trần. Hệ thống truyền bá đó có những ưu điểm gì, đặc điểm nào mà tôi chọn?

Khi tôi đặt tên thiền viện Trúc Lâm, trong đó có ý hướng về Phật pháp, mà Phật pháp này đã được dân tộc Việt Nam chọn lọc. Từ sự chọn lọc đó, mong mỏi truyền bá Phật pháp đến cho mọi người. Nói tới Trúc Lâm Yên Tử thì đa số Tăng Ni, Phật tử đều biết, nhưng tinh thần của nó thì ít người thấu hiểu.

Như tôi đã nói, một nước độc lập thì phải độc lập về chính trị, về quân sự, về văn hóa, về kinh tế. Thời Trần là thời dành được thắng lợi sau khi quân Mông - Nguyên sang xâm lấn đất nước ta. Các vua đời Trần đã chống được giặc. Như vậy về phần chính trị, quân sự, các ngài đã làm rất vẻ vang cho đất nước. Về văn hóa thì các vua đời Trần đã có ý niệm cụ thể rằng, chúng ta không thể nào mượn văn hóa Trung Quốc làm văn hóa Việt Nam mãi. Trong đó, chữ viết là một điều kiện thể hiện nền văn hóa của mình. Cho nên đời Trần tuy học chữ Hán, nhưng các ngài muốn chuyển thành chữ Việt, do đó mới trọng chữ Nôm. Mặc dù chữ Nôm đã có trước rồi, nhưng tới đây mới được phát triển. 

Vua Trần Nhân Tông khi còn làm thái thượng hoàng, ngài đã viết một bản văn rất có giá trị về mặt đạo đức, đến nay vẫn còn nguyên vẹn. Bản văn đó là bài phú Cư Trần Lạc Đạo, hoàn toàn bằng chữ Nôm. Như vậy, không phải chỉ độc lập bằng quân sự, bằng chính trị, mà ngài muốn độc lập luôn cả về văn hóa, không lệ thuộc Trung Quốc. Đó là điều tôi thấy rất đáng nể, đáng kính. 

Hiện nay chúng ta phải làm sao để cho đạo Phật được tốt. Muốn đạo Phật tốt thì chúng ta phải tạo duyên cho đời được đẹp. Không thể nào đạo tốt mà đời để mặc thế nào cũng được, phải làm sao cho đạo với đời đều tốt đẹp như nhau. Thời Trần các quan là thiền sư, hiểu Phật pháp rất uyên thâm. Các ngài lại yêu nước, dành quyền lợi cho dân tộc, làm những việc rất xứng đáng. Khi làm việc nước, các ngài không bao giờ xao lãng sự tu tập, nghiên cứu Phật pháp. 

Đạo Phật thời Trần là một đạo Phật rất tích cực, nằm trong hệ thống chính quyền, đem đạo đức làm lợi ích cho dân. Thêm một cái hay của các vua Trần nữa là, khi cầm quân đánh giặc chống ngoại xâm, không lúc nào các ngài tuyên bố nhân danh đạo Phật đi đánh giặc. Đạo Phật chỉ có ở trong tâm của các ngài. Hành động chống ngoại xâm, là trách nhiệm của một công dân, của người lãnh đạo đất nước. Chứ không đem đạo Phật vào việc chiến tranh, làm hoen ố đạo. Đó là điều rất hay. 

Các vua từ Trần Thái Tông cho đến Trần Nhân Tông, rồi sau này là Trần Anh Tông v.v.. đều là những ông vua thấm nhuần đạo Phật. Nhưng chưa bao giờ nhân danh đạo Phật để làm chuyện sát hại quần sanh. Chỉ khi rỗi, nhàn hạ, các ngài cố gắng đem đạo Phật ứng dụng tu hành và truyền bá cho quần chúng. Khi nước nhà loạn lạc thì các ngài nhân danh người có trách nhiệm với đất nước, đứng ra lãnh đạo quân dân chống ngoại xâm, tuyệt nhiên không có bóng dáng đạo Phật trong chiến tranh.

Chúng ta dùng hình ảnh Thiền tông đời Trần là một hình ảnh rất tốt đẹp. Nên khi đặt tên thiền viện rồi, tôi đã có chủ trương khôi phục Thiền tông đời Trần. Khi nói khôi phục Thiền tông đời Trần thì có nhiều vấn đề liên hệ. Tôi sẽ thứ tự trình bày cho quý vị thấy.

Trước tiên liên hệ tới Phật pháp, tới tam tạng giáo điển. Trong tam tạng giáo điển gồm kinh - luật - luận; nhưng tôi nghiêng nặng về kinh tạng và luận tạng mà luật tạng tôi hơi lơ là. Tại sao tôi lạ có cái nhìn như vậy? Bởi vì đức Phật từng dạy, tất cả giáo lý của Ngài là những phương thuốc trị tâm bệnh cho chúng sanh. Chúng sanh có vô số bệnh thì Phật cũng dùng vô số thuốc để trị bệnh. Như vậy kinh là để dạy chúng ta biết phương pháp tu dẹp sạch phiền não. Đó là trọng tâm.

Về luật, thường thường chúng ta hay nghe các vị tôn túc nhắc giới luật là quan trọng. Nhất định đối với giới luật phải quý phải kính, song tôi đã nặng phần căn bản phần tinh hoa của giới luật để gìn giữ, còn phần chi tiết phần hình thức thì tùy hoàn cảnh, tùy thời chứ không cố định. Xét kỹ, chúng ta thấy phần hình thức của luật có tính cách nghiêng về phong tục tập quán của Ấn Độ thời cổ đại. Như trong giới Tỳ-kheo có 250 giới, thực sự chỉ hai phần là Tứ Ba-la-di và Thập tam Tăng tàn là trọng yếu. Những phần sau, ngày nay chúng ta giữ được bao nhiêu, nhất là 100 pháp chúng học, có giữ được gì không? Đó đều là tùy theo phong tục tập quán của địa phương, Phật chế ra để đừng bị người đương thời dị nghị. Đây là điều tôi thấy rất rõ. 

Tôi đã từng nói với Tăng Ni rằng đức Phật ra đời là để cứu độ chúng sanh. Cứu độ chúng sanh bằng cách nào? Là đem chánh pháp chỉ dạy cho người ta tu, để dẹp sạch phiền não giải thoát sanh tử. Như vậy cứu độ chúng sanh chứ không phải cứu độ riêng cho dân tộc Ấn Độ. Ngài ra đời cứu độ chúng sanh thì mình ở đâu, nước nào cũng là một chúng sanh. Đức Phật không tự đặt Ngài ở trong phạm vi của một dân tộc, một đất nước, một màu da v.v... mà Ngài là của tất cả chúng sanh. Đã là người của tất cả chúng sanh thì chúng ta theo Phật, phải biết Ngài dạy những gì để trị tâm bệnh. Mình lấy đó ứng dụng tu hành, dẹp trừ phiền não. Đó là cái gốc. 

Điểm thứ hai, hiện tại Phật giáo truyền bá trên thế giới, có hai hệ phái Nam tông và Bắc tông. Hiện giờ, chúng ta đang theo hệ phái Bắc tông. Tại sao 

lại theo Bắc tông mà không phải Nam tông? Như tôi đã nói, Phật là người của chúng sanh thì chúng ta ở nước nào, nơi nào cũng có quyền tu theo Phật hết. Như có một xí nghiệp bào chế thuốc Tây. Họ bào chế nhiều thứ thuốc hay, trị lành tất cả bệnh. Người nhức đầu có thuốc nhức đầu, người đau bụng, có thuốc đau bụng v.v... Thuốc nào cũng hay hết, uống vào liền lành bệnh. Nhà thuốc chế những phương thuốc ấy ở bên Pháp, họ có nói rằng thuốc của tôi chỉ để trị bệnh cho người Pháp không? Tất cả ai uống cũng được hết. Đó là điều thứ nhất.

Điều thứ hai, thuốc chế ra từ phương Tây, chúng ta là người Việt Nam muốn uống thuốc Tây phải chuẩn bị làm sao, uống bằng cách nào cho có hiệu quả? Uống thuốc Tây phải mặc đồ Tây, mũi cao như Tây, lấy phấn thoa mặt trắng như Tây… uống mới có hiệu quả? Hay là ăn mặc bất cứ thế nào, bất cứ màu da thế nào, bất cứ mũi xẹp mũi cao gì, miễn uống đúng thuốc, đúng bệnh và đúng liều lượng thì bệnh được lành?

Đạo Phật xuất phát từ Ấn Độ, phong tục tập quán của Ấn Độ ăn mặc khác mình, xử sự khác mình. Bây giờ chúng ta muốn dùng phương thuốc của Phật từ Ấn Độ trị bệnh cho người Việt Nam thì có phải ăn mặc giống người Ấn Độ không, phải xử sự như người Ấn Độ không? Chúng ta dùng những phương pháp Phật dạy để trị tâm bệnh, nhưng không bắt buộc phải ăn mặc như người Ấn Độ, xử sự như người Ấn Độ. Đâu cần thiết như vậy. Quan trọng ở chỗ mình biết bệnh, biết thuốc và biết liều lượng uống thì bệnh lành. Đó là một lẽ thật.

Luật Tứ Phần có biết bao nhiêu điều nói về y bát. Mà mình có mang y bát đi khất thực như Phật hồi xưa đâu, bảo giữ giới thì làm sao giữ đây? Khi tôi sang Ấn Độ gặp mùa lúa chín, ngồi trên tàu hỏa chạy dọc đường, thấy mấy cô gái Ấn Độ cắt lúa, tôi thương quá, họ quấn cái y lùm xùm cắt lúa khó khăn làm sao! Nhớ lại người Việt Nam mình mặc đồ gọn ghẽ cắt rất lẹ làng. Tại tập quán của người ta như vậy. Người ở quê nam nữ, già trẻ gì cũng quấn y. Cho nên Phật tu ở Ấn Độ cũng phải quấn y. Chuyện đó đương nhiên.

Hệ phái Bắc tông dùng từ Phát triển, nghĩa là có những điều không cố chấp như thuở xưa. Phật giáo Bắc tông truyền sang, Trung Hoa, các thiền sư ở Trung Hoa có ăn mặc giống Ấn Độ không? Không. Khi nào lễ Phật mới quấn y, để tỏ lòng tôn trọng cung kính Phật. Còn cách ăn mặc, xử sự trong mọi hoàn cảnh thì khác. Cho nên người Trung Hoa ăn mặc theo Trung Hoa, chỉ khác ở màu áo không giống người thế tục thôi. Y chỉ dành khi lễ Phật, bình thường Tăng Ni mặc đồ thường làm việc cho gọn ghẽ. 

Sang Nhật Bản cũng thế, Y chỉ dành khi lễ lượt, còn bình thường họ cũng ăn mặc theo kiểu Nhật Bản. Chỉ khác với người thế gian, là người tu màu nâu sòng, không lòe loẹt như người đời. Phật giáo Bắc tông dám cải đổi những gì không phải gốc. Gốc nguồn là pháp Phật, còn ăn mặc là hình thức bên ngoài. Như vậy mình là người Việt Nam, muốn học Phật mà vẫn giữ nguyên bản sắc Việt, chúng ta ăn mặc và thực hành theo Bắc tông thì hợp hơn. Ðó là lý do riêng của tôi.

Một lý do thứ hai sâu sắc hơn, theo hệ A Hàm Phật dạy người tu khi đã phá được ngã chấp, pháp chấp rồi thì chứng quả A-la-hán, nhập Niết-bàn. Niết-bàn là vô sanh hay nói cách khác chúng ta tu đến quả vị A-la-hán rồi sẽ giải thoát sanh tử. Nói giải thoát sanh tử, tôi đặt ra câu hỏi: Nếu có người bị trói, bị cột một nơi nào đó, họ khổ sở giãy giụa muốn thoát ra. Nếu ai thấy thương mở dây trói giúp, gọi đó là người giải thoát cho họ. Giải thoát có nghĩa gì? Giải thoát là một động từ. Nhưng giải thoát cho ai, giải thoát cái gì, còn một chủ từ nữa.

Trong kinh Phật nói hết phiền não thì được giải thoát sanh tử, Giải thoát sanh tử mà không biết ai giải thoát, Phật không nói thêm. Các kinh A Hàm chỉ nói giải thoát sanh tử là đủ. Nếu nói thêm, như có vị A-la-hán tịch, các Tỳ-kheo hỏi Phật: “Vị A-la-hán này tịch rồi sẽ về đâu?”. Phật trả lời: “Như củi hết thì lửa tắt”. Phật trả lời gọn như vậy thôi. Là sao? Mình cũng không biết nữa. 

Bước qua lĩnh vực kinh điển Đại thừa, các ngài nói trắng ra giải thoát sanh tử là giải thoát cái gì? Nghĩa là dứt sạch phiền não rồi thì Phật tánh hiển lộ. Phật tánh là cái không có sanh tử. Dứt hết những thứ che đậy, cột trói làm cho mình lưu chuyển trong sanh tử, thì sẽ được giải thoát sanh tử. Rõ ràng quá, không còn gì nghi ngờ nữa. Bắc tông chỉ cho chúng ta thấy đến chỗ cứu cánh của giáo lý. Giải thoát là không còn bị phiền não cột trói nữa, tự tại thênh thang.

Chúng ta phải suy nghĩ cho kỹ, tại sao đức Phật nói tới đó thôi? Bởi vì Ngài ra đời ở Ấn Độ, giáo lý của đạo Bà-la-môn luôn nói con người có một thần ngã. Tất cả hiểu biết của con người đều thuộc về thần ngã. Cho nên chết rồi thì thần ngã hoặc sanh nơi này nơi kia, hoặc được về với Tự Tại thiên chẳng hạn. Vì vậy Phật dè dặt. Nếu nói còn có cái gì đó thì người ta bảo “như vậy là thần ngã rồi”, nên Phật không nói. Phật chỉ nói củi hết lửa tắt là giải thoát. Vậy thôi, không nói thêm gì nữa. 

Hoàn cảnh đức Phật buổi đầu khó khăn như vậy nên Phật không muốn nói rõ ra. Sau này kinh điển Đại thừa hoặc do Phật nói hoặc đệ tử Phật nói, những vị chứng quả A-la-hán hoặc quả Bồ-tát tiếp nối giải thích cho người sau hiểu, việc đó không lỗi lầm gì hết. Chúng ta thấy kinh điển Đại thừa nào cũng chỉ ra một hướng đi vừa thực tế vừa chân thật. Chúng ta biết trong người mình cái gì giả, rồi phăng tìm có cái thật. Cái giả không lầm thì cái thật sẽ hiển hiện. Đó là lý do tại sao tôi theo Bắc tông. 

Ngày nay đa số các chùa tối công phu Tịnh, khuya trì chú Lăng Nghiêm. Như vậy hai thời khóa tụng ấy là Phật dạy hay ai đặt ra? Đó là câu hỏi cần phải biết. Chúng ta tu Phật mà thấy ai làm gì thì làm theo, không biết học theo người nào, đó là thiếu sót lớn. Chính khi nghiên cứu hai thời khóa tụng rồi, tôi rất buồn. Vì hai thời khóa tụng ra đời  trong thời vua Khang Hy nhà Thanh ở Trung Quốc. Ông mời các thiền sư, các vị Tăng có tiếng tăm tới sắp đặt hai thời khóa tụng. Thời nhà Thanh là thời Phật giáo suy đồi. Chư Đại sư đặt ra hai thời khóa cho dân Trung Quốc tụng, không hiểu sao lại lọt qua Việt Nam, chúng ta cũng tụng theo. Tụng theo như vậy cả trăm năm nay. Tăng Ni Việt Nam nghĩ sao?

Phật giáo ở Nhật Bản, Tích Lan, Miến Điện Thái Lan... có tụng hai thời khóa tụng như mình không? Chỉ có ở Trung Quốc đời nhà Thanh thôi. Phật giáo thịnh nhất ở Trung Quốc là đời Đường, đời Tống. Sang đời Nguyên, đời Thanh thì bắt đầu suy đồi. Từ đó, người ta mới chế ra hai thời khóa tụng. Hai thời khóa tụng ra đời thì càng suy đồi hơn nữa. Chúng ta lại lấy đó làm nền tảng tu hành cho xứ sở mình, cho Phật giáo Việt Nam, như thế có vui không? Khi quý thầy cô tụng hai thời khóa tụng, Phật tử nghe có hiểu câu nào không? Cứ tụng bằng chữ Hán.

Ở Ấn Độ sau khi Phật nhập Niết-bàn, chư Tăng kiết tập kinh điển bằng văn tự Nam Phạn và Bắc Phạn. Nam Phạn tức là tiếng Pali, Bắc phạn tức là tiếng Sanskrit. Khi người Trung Hoa nghiên cứu đạo Phật, học đạo Phật, ba tạng đều được chuyển sang chữ Hán. Chúng ta ngày xưa vì chưa có chữ Quốc ngữ cố định, nên phải học kinh chữ Hán. Ngày nay đã có chữ Quốc ngữ, tại sao không chuyển chữ Hán thành chữ Việt, cứ đem chữ Hán ra đọc hoài. Nhiều vị tu ở chùa tụng kinh chữ Hán mà có biết gì đâu, Phật tử tụng theo cũng chẳng hiểu chi. Như vậy mình có lệ thuộc người nước ngoài không? 

Rõ ràng, chúng ta muốn độc lập về văn hóa mà ở lĩnh vực tôn giáo lại lệ thuộc Trung Quốc một cách đáng buồn. Cho nên tôi lên tiếng, tôi nghĩ phải thay đổi lại, không được lệ thuộc như vậy nữa. Chúng ta muốn không lệ thuộc thì phải can đảm, phải chuyển hóa những gì lâu nay mình bị lệ thuộc. Dứt khoát thay đổi. Như vậy mới gan, mới là người dám nhận đúng nhận sai. 

Thiền viện Trúc Lâm ra đời, tất cả những nghi thức đều chuyển thành tiếng Việt. Nhiều người nói tôi cầu kỳ. Lâu nay người ta quen khi gặp nhau hoặc ở tất cả buổi lễ, niệm danh hiệu đức Phật là “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”. Đây là thông lệ xưa nay, người ta nghĩ không thay đổi được. Mà tôi dám thay đổi, tôi sửa lại là “Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni”. Tại sao kỳ khôi vậy, lạ đời như vậy?

Chúng ta nhớ, đứng về mặt văn hóa thì câu văn Trung Quốc, danh từ chung luôn được đặt sau, danh từ riêng đặt trước. Như Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật; Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni là danh từ riêng, Phật là danh từ chung. Danh từ chung đặt sau, danh từ riêng đặt trước. Đó là lối văn phạm của Trung Quốc. 

Người Việt Nam thì sao? Danh từ chung đặt trước, danh từ riêng đặt sau. Thí dụ như muốn giới thiệu một vị thượng tọa tên Chân Tâm, chúng ta phải nói sao? Đây là thượng tọa Chân Tâm hay Chân Tâm thượng tọa? Nếu mình nói Chân Tâm thượng tọa chắc người ta cười rần. Bởi vì thượng tọa là danh từ chung, Chân Tâm là danh từ riêng. Nói theo Việt Nam thì đây là thượng tọa Chân Tâm. Như vậy Việt Nam phải rõ ràng là Việt Nam. Tại sao chúng ta lệ thuộc chữ nghĩa, rồi lệ thuộc văn phạm, lệ thuộc các thứ... Như vậy mình có can đảm không? 

Chúng ta là người Việt Nam, tu theo đạo Phật, đem chánh pháp của Phật ứng dụng tu hành, chứ không nên lệ thuộc người Ấn Độ về hình thức cũng như văn hóa chữ nghĩa. Không lệ thuộc người Ấn Độ, chẳng lẽ lại lệ thuộc người Trung Hoa? Trung Hoa có ngôn ngữ văn tự của Trung Hoa, Nhật Bản có ngôn ngữ văn tự của Nhật Bản, Việt Nam cũng có ngôn ngữ văn tự của Việt Nam. Chúng ta tu theo Đại thừa, không lệ thuộc bất cứ hình thức hay văn hóa nào ngoại lai. Nhưng rõ ràng Phật giáo Việt Nam lệ thuộc một cách đáng thương. Cho nên tôi chủ trương cái gì lệ thuộc thì phải tháo gỡ. Không lẽ chúng ta để bị nô lệ như vậy sao? Đây là cái nhìn riêng của tôi.

Hơn nữa, Phật giáo đã đóng góp văn hóa cho dân tộc Việt Nam rất đáng kể. Thuở nhỏ khoảng 10 tuổi tôi thuộc lòng câu chuyện “mù rờ voi”. Mỗi khi làm gì xem có vẻ không được, không thành hình thì các ông già bà già nói: “Mày làm như mù rờ voi”. Tôi không biết mù rờ voi là gì, chỉ biết làm như vậy là không đúng thôi. Sau này tìm hiểu, tôi mới biết câu chuyện mù rờ voi. 

Như có một đám người mù, được cho tới chạm vào mình con voi. Sau đó người ta hỏi con voi thế nào? Kẻ nói con voi như cái trống, người nói như cây cột, như cây chổi... Như vậy biết rằng mấy người mù nói không đúng hình tượng thật của con voi mà chỉ đúng một bộ phận thôi. Cho nên làm việc gì không đúng hoàn toàn, người ta nói “mày là mù rờ voi”. Mình tưởng câu chuyện đó do tổ tiên đặt ra, là văn hóa của dân tộc Việt Nam. Sau này khi nghiên cứu kỹ bộ kinh Trường A Hàm, tôi thấy câu chuyện đó nằm trong kinh A Hàm. 

Kinh Trường A Hàm kể rằng: 

Phật nói có một ông vua muốn trắc nghiệm những người mù, ông bảo quần thần dẫn một con voi vào trước sân triều, rồi cho những người mù đứng hai bên. Vị quan hô to rằng: “Đây là con voi ở trước mặt các ông. Vậy các ông rờ vào, rồi diễn tả lại hình dáng con voi cho nhà vua nghe. Ai diễn tả đúng thì được khen thưởng”. Thế là mỗi người rờ vào con voi. Người chụp được cái chân, vuốt từ trên xuống thì la lên con voi giống cây cột. Người chụp được cái đuôi thì nói con voi giống cây chổi chà. Người chụp cái bụng thì nói con voi giống cái trống. Người chụp được lỗ tai thì la con voi giống cây quạt v.v... Mỗi người nói mỗi cách. Nhà vua và bá quan là người sáng mắt, nhìn thấy tức cười.

Nhưng những người mù đó, kẻ nói con voi giống cây cột, người nói giống cái trống v.v... không ai chịu thua ai. Người nào cũng cho là mình đúng vì đích thân chạm được mà. Họ cãi nhau một hồi đi đến đánh lộn. Đánh tứ tung rồi, nhà vua ra lệnh giải hòa, bảo rằng: “Vì các ông mù nên chỉ rờ được một bộ phận con voi, diễn tả đúng chỗ mình rờ được, chứ chưa thấy toàn bộ. Mỗi người đều rờ đúng nhưng chỉ đúng một bộ phận, không phải toàn thể. Khi nào các ông sáng mắt mới thấy toàn thể con voi”.

Sáng mắt rồi nhìn con voi có ai cãi nhau đâu. Con voi như vậy thì thấy như vậy, có gì đâu để cãi. Sở dĩ cãi là tại mù, nắm được có một phần mà cho là toàn thể. Mình nói khác, người nói khác thành ra xung đột. Bởi vì nắm được một bộ phận mà cho là cứu cánh. Phật nói chỉ có người giác ngộ trọn vẹn mới thấy chân lý. Thấy chân lý trọn vẹn thì không còn gì để cãi. Người giác ngộ trọn vẹn sẽ thấy như đức Phật. 

Câu chuyện đó phát nguồn từ kinh điển Phật, nó ăn sâu trong văn hóa Việt Nam. Chẳng những một câu chuyện mà còn nhiều câu chuyện nữa. Nếu chúng ta chịu khó đọc những kinh như Bách Dụ v.v… sẽ thấy có những thí dụ mà tổ tiên mình đã dùng để răn nhắc con cháu. Thế mới thấy văn hóa Phật giáo ảnh hưởng đến dân tộc Việt Nam rất nhiều. Chúng ta là người ở trong tôn giáo, cũng phải biết tôn trọng sự độc lập của văn hóa Phật giáo, đừng lệ thuộc thứ chữ này hay chữ khác. Cũng đừng lệ thuộc bất cứ một đường lối nào của những người cùng tu đạo Phật ở nơi khác. Chúng ta phải có một nền Phật giáo Việt Nam thực sự độc lập. Nếu không thì mình lệ thuộc một cách đáng thương. 

Tu theo đạo Phật thì phải có một cái nhìn sáng suốt, trí tuệ, chọn lựa những gì hữu ích, có giá trị thực mới ứng dụng. Cái nào không thích hợp, lệ thuộc văn hóa của nước này hoặc nước kia, thì chúng ta phải chuyển lại thành của Phật giáo Việt Nam, của người Việt Nam. Ai cũng đọc, ai cũng hiểu và ai cũng có thể áp dụng tu tập được. Như vậy mới thấy cái hay của tinh thần Phật giáo Bắc tông. Không như thế thì chúng ta theo Bắc tông mà lệ thuộc Bắc tông, không phải theo Bắc tông mà độc lập như người Nhật, người Trung Hoa.

Chính vì vậy tôi thấy thiền Trúc Lâm Yên Tử có một đường lối tu thích ứng với hoàn cảnh hiện tại của xã hội. Đó là một lối tu rất Việt Nam. Tại sao Ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi, ngài Vô Ngôn Thông, ngài Thảo Đường... truyền bá thiền sang Việt Nam. Nhưng tới đời Trần, các ngài lượm lặt những tinh hoa của ba vị trước, rồi kết hợp lại thành thiền trúc Lâm Yên Tử. Thiền Trúc Lâm Yên Tử là dòng thiền Việt Nam. Vì tổ Trúc Lâm là người Việt Nam, không phải từ Trung Quốc tới, không phải từ Ấn Độ sang. Ngài tinh lọc những cái hay, những cái quý của chư Tổ, dung hợp và chuyển đổi theo bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của người Việt, rồi chỉ dạy lại cho người Việt Nam tu hành.

Cho nên tôi chọn dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử làm mục tiêu nhắm, thực hiện theo tinh thân đó, ứng dụng tu và truyền bá cho người Việt Nam, tự tín rằng trên đất nước Việt Nam vẫn có những người từng tu theo đạo Phật, từng tu theo Thiền tông, đã chứng ngộ, đã tự tại ra đi và đã tiếp tục truyền nối dòng Thiền ấy mãi tới ngày nay. Như thế người ta mới đủ lòng tin rằng Phật giáo Việt Nam có giá trị. 

Chúng ta cứ chạy bên này bên kia, như qua Thái Lan, Miến Điện, Trung Quốc, Nhật Bản v.v... để học. Như vậy nói lên rằng Phật giáo ở Việt Nam chưa có gì để học. Nếu Phật giáo Việt Nam chưa có gì, làm sao truyền bá gần 20 thế kỷ? Truyền bá thời gian dài như vậy thì biết rằng Phật giáo Việt Nam có một chỗ đứng rất vững, có một đường đi rõ ràng, không phải không có gì. Nhưng rất tiếc Tăng Ni Việt Nam không biết khai thác, không biết khơi dậy cái hay, cái đẹp của tổ tiên mình, lại đi học của những người khác. 

Cho nên tôi chủ trương mình theo đạo Phật thì phải có lập trường, lấy cái hay của Phật giáo Việt Nam làm chỗ đứng thật vững, đem lại lợi ích thiết thực cho Phật tử Việt Nam. Hơn nữa là cho tất cả người nước khác, những Phật tử mến đạo nhìn thấy Phật giáo Việt Nam là một ngọn đuốc sáng, là chỗ đáng tin cậy để họ học hỏi. Như vậy mới hay chứ!

Chúng ta phải biết khơi dậy ngọn đuốc sáng của tổ tiên mình. Đó là chỗ tôi muốn nói cho tất cả hiểu. Vậy nguyện vọng của tôi là gì? Là muốn làm sao cho đất nước Việt Nam được độc lập, vững bền, lâu dài. Muốn cho Phật giáo Việt Nam cũng có những nét độc lập của Phật giáo Việt Nam. Đem đạo Phật ứng dụng tu nơi tâm của mình, không lệ thuộc hình thức người Ấn Độ, cũng không lệ thuộc hình thức người Trung Hoa, người Nhật Bản v.v... Phật giáo Việt Nam là của người Việt Nam. Như vậy chúng ta mới có được một cái gì cho xứ sở mình, chứ không thì trống rỗng, chỉ học của người thôi, mình không có gì hết. Đó là chỗ nhắm của tôi.

Cho nên tôi đặt tên thiền viện Trúc Lâm là cả một nguyện vọng gởi gắm vào đây, chứ không phải việc làm suông, bắt chước hay tùy hứng. Đem tất cả tâm tư nguyện vọng của tôi gởi gắm vào tên của thiền viên, trông đợi ở những người sau thấy rõ mà tiếp nối, làm cho sáng tỏ, lâu đài. Mong tất cả Tăng Ni nhớ kỹ, hiểu rõ thâm ý của tôi, quý vị cố gắng thực hiện. Như vậy chúng ta mới có được một hướng đi và một con đường tiếp nối lâu dài cho con cháu mai sau. Đó là sự mong mỏi của tôi. 

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 3
Phần I - Giáo huấn chư Tăng nội viện
Phần II - Giáo huấn chư Ni nội viện
Danh sách chương: