|
Tông Môn Cảnh Huấn 3
14. Khéo điều hòa trong tu tập
Ngày 12/6/ Bính Tý - 26/7/1996 Chư Tăng hay có bệnh là quan trọng việc lớn, còn việc nhỏ thường không để ý. Chúng ta tu hành phải có mẫu mực, không nên xem thường. Thí dụ như ngồi thiền có ba phần là: nhập, trụ, xuất. Khi nhập thì dễ, nhưng lúc xuất thì kẻ nhanh, người chậm, kẻ làm thế này, người làm thế kia... chưa thống nhất. Điều này tôi cũng đã chỉ nhiều lần, hướng dẫn rõ ràng tường tận rồi nhưng trong chúng cũng chưa làm đúng. Nếu người ta lên đây xin tập tu với mình mà thấy trong chúng xả thiền mỗi người mỗi kiểu hì họ biết học theo ai? Những gì tôi nghiên cứu đem ra dạy cho mọi người, không phải là bỗng dưng làm theo xu hướng nhất thời, mà đó là điều tôi đã kinh nghiệm rồi mới đưa ra ứng dụng. Ngày xưa lúc còn ở Ấn Quang, tôi đi giảng dạy rất nhiều. Vào mùa An cư năm 1960 - 1961, tôi dạy chùa Pháp Hội. Hòa thượng Viện trưởng triệu tập các vị Trụ trì, có khoảng sáu bảy mươi vị, về đó tham dự khóa Như Lai sứ giả. Vì là thời gian kiết hạ an cư nên chư Tăng khép mình tu hành, ngày đêm sáu thời tụng niệm. Gần cuối hạ, nhìn thấy quý thầy mặt xanh, cặp mắt mỏi mệt. Tôi chợt nhớ trong câu chuyện được kể kinh A Hàm: Một hôm vua Ba-tư-nặc đi đến thăm Phật. Khi tới ngoài cổng, gặp hai chú Sa-di đang thong thả thiền hành, vua Ba-tư-nặc xá chào. Nhìn thấy vị nào da dẻ cũng sáng bóng tươi tắn, ông đảnh lễ Phật rồi thưa: “Bạch Thế Tôn, chư Tăng ở đây ngày ăn có một bữa, ngủ ít, thức nhiều. Thế mà tại sao những vị đó lại tươi tắn đẹp đẽ, da dẻ sáng bóng?”. Phật đáp: “Do chư Tăng tu thiền được an định nên thân thể hiện ra tướng tốt như vậy”. Tôi nghĩ, người xưa tu hành càng ngày càng tươi tắn khỏe mạnh, tại sao bây giờ mình càng tu da dẻ càng xanh xao, con mắt không sáng. Như vậy mình tu có đúng lời Phật dạy hay không? Đó là một dấu hỏi lớn mà tôi đặt ra trong lúc còn đang làm việc và tu tập niệm Phật, tụng kinh. Lúc đó mặc dù đi giảng dạy khá nhiều, nhưng tôi vẫn theo chúng tụng kinh tu học đều đặn, tới năm 1961 thì tôi bị bệnh phổi. Bấy giờ tôi nghĩ đời mình tới đây là tàn, không làm được gì nữa. Vào bệnh viện Đồn Đất điều trị được ba tháng, thấy bớt bệnh liền xin ra viện. Ông bác sĩ người Pháp dặn, cứ mỗi hai tháng thì trở lại tái khám một lần, để chích và lấy thuốc uống thường xuyên. Tôi nghĩ mình bị bệnh phổi, sống gần chúng có thể nguy hiểm cho người khác nên không ở trong chúng, định ở thất để tịnh dưỡng. Thầy Nhất Hạnh cho tôi miếng đất cất thất gần Phương Bối am của thầy, tôi nhờ Phật tử ở Bến Tre cất cho cái thất, thầy Nhất Hạnh đặt tên là Thiền Duyệt Thất. Những năm đó đâu có bổn đạo nhiều, chỉ có vợ chồng Như Thông đang làm dược sĩ bán thuốc, lâu lâu lên ủng hộ. Mỗi lần lên thăm thì đem cho tôi ít bánh mì khô và vài hộp sữa. Buổi sáng, tôi khuấy một ly sữa chấm bánh mì khô ăn, không có gì khác. Trưa, tôi gửi tiền cho một Phật tử ở Phương Bối, mua thức ăn nấu giùm đem qua. Chiều thì chỉ uống một ly sữa. Bữa ăn mỗi ngày đều đặn như thế, không bồi dưỡng gì đáng kể. Từ đây tôi nhất định ứng dụng tu thiền. Lúc trước còn ở Ấn Quang, tôi đã dịch quyển Lục Diệu Pháp Môn của Trí Giả đại sư, nay đem ra nghiên cứu rồi ứng dụng tu theo Sổ tức và tùy tức. Tôi lấy sự tu hành để trị bệnh, ngày đêm đều ngồi thiền như vậy. Phát nguyện, một khi ra khỏi bệnh viện thì không trở lại lần thứ hai. Vì thế ngang đó không chích thuốc, không uống thuốc cũng không trở về tái khám. Tu được hơn một năm, thấy sức khỏe được tốt lên. Hoàn cảnh bấy giờ không thể ở Phương Bối được nữa tôi đành trở về, ra Vũng Tàu ở nhờ ba tháng trong một thất nhỏ tại chùa Linh Sơn. Sau đó, Như Thông và Minh Đạo cất cho cái thất lá ở An Dưỡng Địa, tôi về đó cũng chuyên tu thiền, như thế qua hai năm thì khỏe hẳn. Lúc ấy hòa thượng Giám đốc là hòa thượng Thiện Hòa và hòa thượng Viện trưởng - thầy tôi, hai ngài bảo tôi khỏe rồi thì về Ấn Quang phụ giảng dạy, tôi thưa: “Giờ con tuy khỏe nhưng không thể sống chỗ ồn ào nổi. Nếu quý Hòa thượng thương đặt cho một lớp học ở ngoài này thì con có thể làm được”. Quý ngài đồng ý, cho cất Phật học viện Huệ Nghiêm, mời thêm hai vị là thầy Bửu Huệ và thầy Thiền Tâm cùng hợp tác làm việc và giảng dạy. Năm 1964, tôi khởi sự dạy ở Huệ Nghiêm, Dược Sư, dạy luôn đằng Vạn Hạnh, dạy liên miên. Phổi yếu mà tôi làm việc như vậy. Trong suốt thời gian đó về sau tôi vẫn ngồi thiền. Ban ngày giảng dạy, khuya và tối ngồi thiền. Như vậy mãi đến năm 1968 tôi lên Chơn Không tu thiền luôn. Bấy giờ phổi tôi hoàn toàn lành mạnh, trong khi vẫn giảng dạy không dừng. Từ đó tôi thấy rõ ràng, nhờ tu thiền sức khỏe được tăng thêm, đồng thời tâm trí ngày càng sáng suốt hơn. Nếu mình không khéo tu sẽ đưa tới bệnh hoạn, còn khéo tu thì có thể chuyển bệnh hoạn trở thành mạnh khỏe để làm Phật sự. Do thấy lợi ích cụ thể của việc tu thiền, nên tôi nhất định theo hướng này. Tuy nhiên, chưa phăng tìm ra manh mối đường lối tu nên tôi rất dè dặt. Vì mình không có được một vị lớn đi trước hướng dẫn, mà phải mò mẫm trong kinh điển tự tu. Năm 1966, tôi ra Vũng Tàu cất Pháp Lạc Thất. Năm đầu vì phải dọn rừng, ban ngày làm còn ban đêm tu, nên chưa thể ngồi yên chuyên tu được. Một năm sau có bà Bảy với các cô ra ở dưới am Dương Chi, họ nấu cơm giùm đem lên mỗi bữa trưa. Từ đây tôi mới bắt đầu nhập thất. Tháng tư nhập thất tới tháng bảy ra, chỉ có ba tháng. Ban đầu tôi ứng dụng tu theo quyển Lục Diệu Pháp Môn, rồi chỉ - quán, cũng có ứng dụng một chút về thoại đầu. Tất cả đều không có kết quả. Tôi lạy Phật sám hối và khóc. Sau đó nhờ trong giấc mơ gặp được Nhị tổ Huệ Khả, ngài nói bài thơ có câu “không bình không trắc”. Tôi giật mình thức giấc và nhận ra được lẽ thật ấy. Vui quá tôi cười suốt ba ngày liền. Khi đọc cuốn Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự, tôi mới thấy rõ những gì Tổ chỉ và nắm vững được đường lối tu thiền. Chư Tổ chỉ dạy hết sức đầy đủ tại sao mình không biết tu! Giờ biết rồi không thể làm thinh tu một mình, nên tôi xả thất ra lập thiền viện. Năm 1970, tôi tuyên bố thành lập thiền viện Chơn Không. Từ kinh nghiệm này tôi thấy rõ, khi mình quyết chí tu, dù hiện tại không gặp pháp tu thích hợp thì long thần hộ pháp cũng gia hộ trợ giúp. Với quyết tâm của mình, mọi việc làm đều có kết quả. Vậy nên tôi nói, đừng than mình sống thời mạt pháp. Dù chúng ta ra đời gặp Phật mà tu lôi thôi thì tuy là thời chánh pháp cũng giống như thời mạt pháp, còn ở thời mạt pháp mà quyết tử để tu thì cũng có thể chuyển như thời chánh pháp không khác. Mong rằng tất cả toàn chúng phải cẩn thận, nhập - trụ - xuất đều đúng theo sự hướng dẫn của tôi, chứ đừng lười biếng. Làm sao để trong khi tu, về thân được khỏe mạnh không tốn tiền thuốc và không mất thời giờ tu; tâm an ổn tu hành, sớm tỉnh giác. Đó là điều thiết yếu trên đường tu, không phải việc tầm thường. Đừng để người ta nói do ngồi thiền hay do tu thiền mà sanh bệnh. Thấy như việc nhỏ mà nguy hại rất lớn, vì vậy tất cả phải siêng năng, đây là trách nhiệm của mỗi người. Tôi nhắc nhở, tất cả trong chúng nhớ lưu ý thực hành. Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 3
Phần I - Giáo huấn chư Tăng nội viện
Phần II - Giáo huấn chư Ni nội viện
|
Phần I - Giáo huấn chư Tăng nội viện
14. Khéo điều hòa trong tu tập
Phần II - Giáo huấn chư Ni nội viện
39. Sự khác biệt giữa hồi quang phản chiếu và phản quan tự kỷ