Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 3
6. Nội quy Thiền phái Trúc Lâm

LỜI MỞ ĐẦU

Với tinh thần Trúc Lâm Đại Đầu-đà, thiền sinh tại thiền viện phải đủ ba đứt tính: dứt khoát, kiên quyết và đạm bạc.

1. Tính dứt khoát là, đời ra đời đạo ra đạo, tu phải đến nơi đến chốn; không thể có thái độ lưng chừng, mà phải quyết chí tu đến sáng đạo mới được.

2. Tính kiên quyết là, dù khó khăn chướng ngại do ngoại cảnh hay bản thân tạo ra, đều khẳng định vượt qua. Cương quyết thực hiện kỳ được giải thoát viên mãn mới thôi.

3. Tính đạm bạc là, cuộc sống đạm bạc giản dị, không chấp nhận mọi thụ hưởng xa hoa. Bản chất thanh đạm là đời sống của thiền sinh ở các thiền viện.

I - LỤC HÒA

Lục hòa là chất keo gắn chặt lâu bền các thiền sinh chung sống tu hành tại thiền viện. Lục hòa cũng là nền tảng vững chắc của đoàn thể Tăng.

1. Thân hòa đồng trụ: Về phần thân, lao động, tu hành, ăn mặc, ngủ nghỉ, thiền sinh phải hòa đồng nhau.

2. Khẩu hòa vô tranh: Về phần miệng, nói bàn, tranh luận đều trong tinh thần hòa nhã, trọng đạo đức, không được lớn tiếng tranh hơn và dùng lời nặng nhẹ nhau.

3. Ý hòa đồng duyệt: Thiền sinh phải tâm ý vui hòa, không có ý ngang ngạnh, chống đối, thù hằn nhau.

4. Kiến hòa đồng giải: Thiền sinh có mọi kiến giải sai biệt trong lúc hạ thủ công phu hay trong khi học giáo lý, đều đem ra trao đổi giải bày một cách thông cảm và vui vẻ với nhau.

5. Giới hòa đồng tu: Về giới luật, thiền sinh phải giữ mười giới làm căn bản và sống đúng nội quy của thiền viện, cố gắng gìn giữ thanh tịnh như nhau.

6. Lợi hòa đồng quân: Tất cả tài sản và phẩm vật trong thiền viện là của chung, của các thiền sinh hiện có mặt, không ai có quyền giữ riêng hay thụ hưởng nhiều hơn.

II - GIỚI LUẬT

1. Giới căn bản

Thiền sinh tại thiền viện giữ mười giới làm trọng tâm.

1. Không sát sanh: Từ con người cho đến loài vật, thiền sinh không được giết hại, xúi bảo người giết hại, hoặc thấy người giết hại sanh tâm vui mừng.

2. Không trộm cắp: Tiền bạc, vật dụng, thức ăn uống... của người; nếu người không cho, thiền sinh không được tự tiện lấy, nếu lấy thành trộm cắp.

3. Không dâm dục: Thiền sinh không thực hiện hành dâm, không tạo phương tiện dâm dục và không khởi tâm nghĩ tưởng về dâm dục.

4. Không nói dối: Thiền sinh không nói sai sự thật, không nói lời ác độc hung dữ, không nói lời gây chia rẽ thù hằn nhau, không nói lời phù phiếm vô nghĩa.

5. Không uống rượu: Thiền sinh không uống các thứ rượu mạnh và nhẹ, không hút thuốc và sử dụng các thứ gây nghiện khác.

6. Không đeo tràng hoa và ướp nước hoa: Thiền sinh không dùng mọi thứ trang sức làm cho thân này sang đẹp.

7. Không ca múa hát xướng: Những trò vui có tính cách đùa cợt loạn tâm, thiền sinh đều không được tự làm, nghe, xem người khác làm.

8. Không nằm ngồi giường tòa to và sang trọng: Thiền sinh chấp nhận một đời sống đạm bạc, nên không nằm ngồi giường ghế to lớn sang trọng.

9. Không giữ tiền bạc vàng ngọc: Thiền sinh chấp nhận đời sống không có tài sản riêng, chỉ có những vật dụng cần thiết do thiền viện sắm cho, nên không cần giữ tiền bạc v.v...

10. Không ăn phi thời: Thiền sinh chấp nhận đời sống tam thường bất túc để tinh tấn tu hành, nên phải giữ giới không ăn phi thời, trừ trường hợp lao động nặng nhọc thì châm chước.

2. Giới thượng thừa

Thiền sư Pháp Loa dạy: Trong 24 bốn giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không dấy động. Tâm không dấy động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không vì cảnh khởi phân biệt, thức không vì pháp trần mà dính mắc. Ra vào không giao thiệp gọi là ngăn dừng. Tuy gọi ngăn dừng mà chẳng phải ngăn dừng. Nên biết tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế. Đây gọi là giới Đại thừa, gọi là giới Vô thượng cũng gọi là giới Vô đẳng đẳng. Tịnh giới này dù Tiểu tăng cho đến Đại tăng đều phải gìn giữ.

3. Quy chế phụ

Những quy chế phụ này giúp thiền sinh dành trọn thời giờ trong việc tu hành và tránh khói những lỗi nhỏ hoặc vô tình hay cố ý. 

1 Thiền sinh hạn chế tối thiểu sự đi lại, trừ trường hợp bệnh nặng phải đi trị bệnh, hoặc thầy Bổn sư bệnh nặng hay tịch, cha mẹ bệnh nặng hay chết và vài trường hợp đặc biệt khác.2. Để giữ giới thứ chín, thiền sinh được thân nhân hay thí chủ ủng hộ tiền bạc, hoặc đi đâu về tiền còn dư đều phải gửi Thủ bổn giữ để phòng khi bệnh hoạn.3. Thân nhân đến thăm, thiền sinh chỉ tiếp khách tối đa 30 phút tại nhà khách. Nếu thân nhân còn ở lại, đều do Tri khách sắp đặt mọi việc.4. Nhận một trách nhiệm gì trong viện, thiền sinh phải tận tình làm cho được vuông tròn, không được làm cầm chừng lấy có.5. Mọi thời khóa tu công cộng tại thiền viện, thiền sinh không được vắng mặt hoặc trễ nải, trừ có trách nhiệm đặc biệt hoặc bệnh.6. Giờ Thỉnh nguyện, thiền sinh không được đến trễ và xuống sớm, trừ có công tác cho chúng.7. Khi lao tác chung hoặc riêng, thiền sinh sẵn sàng tương trợ nhau, khi thấy huynh đệ làm công việc nặng nhọc hơn, hoặc trễ nải hơn, không được vô tình làm ngơ để mặc.8. Phải tiết kiệm tài sản của thiền viện bằng mọi cách, không nên phung phí.9. Không được đi đâu quá thời hạn đã xin phép. Nếu có việc bất ngờ xảy ra, phải gửi thư hoặc điện thoại về xin phép thêm.10. Thiền sinh nếu không muốn ở thiền viện xin phép ra đi tự do không cần điều kiện gì cả. Không được ở đây mà có tâm hướng ngoại. Nếu đi rồi thì không được trở lại.

4. Kết thúc 

Phần lục hòa và năm giới trước thuộc về chính, thiền sinh phạm một trong những giới chính này tùy mức độ nặng nhẹ, nếu nặng thì tự xấu hổ xin rút lui khỏi viện, nếu nhẹ tự xin sám hối với Ban Lãnh đạo và toàn chúng. Năm giới sau và quy chế phụ là phần phụ, thiền sinh nếu phạm thì tự thấy lỗi xin sám hối, hoặc Ban Chức sự hay huynh đệ thấy nhắc cũng sẵn sàng sám hối. Song một lỗi mà thiền sinh phạm nhiều lần cũng tự xấu hổ xin rút lui khỏi thiền viện. 

III - TỔ CHỨC

Tổ chức thiền viện là tổ chức chuyên tu thiền theo tông chỉ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử ở Việt Nam. Để hướng dẫn và bảo vệ thiền sinh tu hành được kết quả tốt, nên tổ chức những người có trách nhiệm chia làm hai ban: Ban Lãnh đạo và Ban Chức sự.

1. Ban Lãnh đạo 

- Viện trưởng: Chịu trách nhiệm hướng dẫn tu hành và quyết định xem xét tổng quát toàn bộ thiền viện.

- Viện phó: Thay thế Viện trưởng khi vắng mặt hoặc đặc trách một trách nhiệm gì do Viện trưởng giao phó.

- Thư ký: Gìn giữ những văn kiện, thư từ quan trọng của thiền viện. Soạn thảo văn thư và liên lạc qua lại với Giáo hội, chính quyền, Phật tử.

- Thủ bổn: Nhận giữ và chi ra cho các chức sự cần mua sắm cho chúng và thiền viện, với sự đồng ý của Ban Lãnh đạo. Mỗi tháng phải báo cáo thu chi lên Viện trưởng. 

2. Ban Chức sự 

- Quản chúng: Có trách nhiệm sắp đặt việc tu hành của toàn chúng, chủ lễ các buổi lễ trong thiền viện. Xem xét sự tu hành và đạo đức của chúng. 

- Phó quản chúng: Có trách nhiệm thay thế khi Quản chúng vắng mặt và nhận một công tác đặc biệt do Quản chúng giao.

- Tri sự: Sắp đặt phân công nhân sự trong mọi công tác của thiền viện. Phân chia vật dụng cho chúng.

- Tri khách: Tiếp xúc các Phật tử và sắp đặt nơi ăn ở cho khách. Nếu khách cần ở lại, hướng dẫn xin và trình giấy với chính quyền.

- Tri khố: Mua sắm những thức ăn uống, sắp đặt cho Ban Trị nhật nấu nướng những thức ăn thích hợp với nhu cầu cần thiết cho chúng. 

- Hương đăng: Lau quét điện Phật, chưng cúng hoa quả và hướng dẫn Phật tử hành hương lễ Phật.

- Trưởng ban vườn: Trồng cây và chăm sóc vườn cây cho tươi tốt, đồng thời biết thu hoạch quả đúng lúc, hoặc bán kịp thời. 

- Trưởng ban rẫy: Trồng rau đậu và các thứ cải cho chúng đủ ăn hằng ngày.

- Trưởng ban hoa kiểng: Trồng trọt và trông coi săn sóc toàn bộ hoa kiểng trong thiền viện dưới sự chỉ đạo của Ban Lãnh đạo. 

- Ban Khán bệnh: Ở nơi xa vắng, Ban Khán bệnh rất cần thiết. Ban Khán bệnh phải săn sóc bệnh của chúng từ lúc khởi đầu. Phật đã dạy săn sóc người bệnh là săn sóc Phật.

* Ngoài ra, theo nhu cầu của mỗi thiền viện mà việc phân ban có sai khác, tùy theo sự sắp xếp của Ban lãnh đạo. 

IV - THỜI KHÓA TẠI THIỀN VIỆN 

Thiền viện Trúc Lâm

1. Hằng ngày 

Sáng:

03g30: Ba hồi ba tiếng kiểng thức. 

           Hô chuông tọa thiền.

05g30: Một hồi kiểng xả thiền. 

06g15: Ba tiếng bảng tiểu thực.

07g30: Ba tiếng kiểng công tác. 

11g00: Một hổi kiểng xả công tác.

12g00: Ba tiếng bảng thọ trai.

Chiều: 

01g00: Ba tiếng kiểng nghỉ.

02g00: Một hồi ba tiếng kiểng thức. 

02g30: Ba tiếng kiểng tọa thiền. 

04g30: Một hồi kiểng xả thiền. 

05g00: Ba tiếng bằng tiểu thực. 

06g00: Ba tiếng kiểng sám hối. 

07g30: Ba tiếng kiểng. 

           Hô chuông tọa thiền. 

09g30: Một hồi kiểng xả thiền. 

10g00: Ba tiếng kiểng nghỉ. 

2. Mỗi tháng 

a Thỉnh nguyện: 

- Ngày 13 và ngày 28 vào lúc 02g30 chiều.

b Tham vấn: 

- Ngày 14 và ngày 29 vào lúc 08g sáng. 

Các thiền viện

Sáng:

03g30: Ba hồi ba tiếng kiểng thức. 

           Hô chuông tọa thiền.

05g00: Một hồi kiểng xả thiền. 

05g45: Ba tiếng bảng tiểu thực.

06g30: Ba tiếng kiểng công tác. 

10g00: Một hổi kiểng xả công tác.

10g45: Ba tiếng bảng thọ trai.

12g30: Ba tiếng kiểng nghỉ

Chiều: 

01g00: Một hồi ba tiếng kiểng thức. 

02g00: Ba tiếng kiểng học hoặc tọa thiền. 

04g00: Nghỉ học hoặc xả thiền. 

05g00: Một hồi kiểng báo nghỉ công tác trong ngày.

           Tiểu thực. 

06g15: Ba tiếng kiểng sám hối. 

07g30: Ba tiếng kiểng. 

           Hô chuông tọa thiền. 

09g00: Một hồi kiểng xả thiền. 

09g30: Ba tiếng kiểng nghỉ.

2. Mỗi tháng 

Thỉnh nguyện ngày 15 hoặc 30, tháng thiếu ngày 29.

V - CHƯƠNG TRÌNH HỌC 

Chủ yếu của Thiền tông là giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Thế mà chúng ta tu thiền lại nghe kinh học luận, có trái với chủ trương của Thiền tông không? 

Vì Phật giáo Việt Nam thừa kế gia bảo Thiền tông mà đã không khéo giữ gìn nên bị mất gốc. Do đó các thiền viện mới chủ xướng “Thiền Giáo đồng hành”, nghĩa là vừa tu theo Thiền tông vừa học kinh luận.

Hơn nữa hiện tình tu sĩ Việt Nam cũng có lắm người tu thiền nhưng không có mấy người thực tu theo Thiền tông chính thống, nên họ dễ bị lạc lầm và sanh ra bệnh hoạn điên cuồng. Vì vậy, các thiền viện nếu không đem kinh luận của Phật tổ phối hợp chặt chẽ thì không sao tránh khỏi sự nghi ngờ lo sợ của đa số tu sĩ. Đó là lý do căn bản Tăng Ni các thiền viện phải học kinh luận.

HẠN KỲ HỌC KINH LUẬN SỬ TRONG BỐN NĂM 

Năm thứ nhất

Kinh: Trích giảng và đối chiếu các kinh A Hàm. 

Luận: 

1. Bước Đầu Học Phật

2. Quy Sơn Cảnh Sách. 

Sử: Thiền học Việt Nam từ khởi đầu cho đến đầu thời Lý.

Năm thứ hai

Kinh: 

1. Bát Nhã Tâm Kinh (Hán)

2. Kinh Kim Cang (Hán)

3. Kinh Duy Ma Cật (Việt)

4. Kinh Viên Giác (Hán). 

Luận: 

1. Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ XX

2. Nguồn Thiền (Việt)

3. Luận Tối Thượng Thừa (Việt)

4. Kinh Pháp Bảo Đàn (Hán). 

Sử:

1. Ba Mươi Ba Vị Tổ Ấn - Hoa

2. Thiền Học Việt Nam Thời Lý - Trần. 

Năm thứ ba

Kinh:

1. Kinh Lăng Già (Việt)

2. Kinh Lăng Nghiêm (Hán)

3. Kinh Pháp Hoa (Việt). 

Luận: 

1. Thiếu Thất Lục Môn (Việt)

2. Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn (Việt)

3. Luận Đại Thừa Khởi Tín (Hán)

4. Chứng Đạo Ca (Hán).

Sử:

1. Trung Hoa Chư Thiền Đức Hành Trạng tập I

2. Thiền học Việt Nam từ sau đời Trần đến hiện đại.

Năm thứ tư

Kinh: 

1. Kinh Niết Bàn (đại cương - Việt)

2. Kinh Hoa Nghiêm (đại cương - Việt).

Luận:

1. Chân Tâm Trực Thuyết (Việt)

2. Luận Trung Quán (Hán)

3. Vạn Pháp Quy Tâm (Việt)

4. Tín Tâm Minh (Hán). 

Sử: Trung Hoa Chư Thiền Đức Hành Trạng tập lI.

VI - TUYỂN SINH 

Thiền viện Trúc Lâm

1. Hạn tuổi: Thiền sinh xin vào thiền viện từ 18 đến 55 tuổi. Ngoại trừ Ban Chức sự.

2. Trình độ: Phải có một trong ba điều kiện sau đây:

- Tu học tại thiền viện ba năm trở lên. 

- Học xong trường Trung cấp Phật học hoặc Cao cấp Phật Học.

- Nếu cư sĩ xin xuất gia nhập chúng, phải có trình độ văn hóa lớp 12 và đã nhiều năm nghiên cứu thực tập tu thiền. 

3. Người hâm mộ và quyết chí tu thiền, khẳng định trong đời này phải sáng đạo mới được.

4. Không tật nguyền và bệnh truyền nhiễm.

5. Chấp nhận cuộc sống đạm bạc và Lục hòa.

6. Làm tờ cam kết không phạm Nội Quy của thiền viện. 

Các thiền viện 

1. Hạn tuổi: Thiền sinh xin vào thiền viện từ 18 đến 55 tuổi.

2. Trình độ: Phải có một trong hai điều kiện sau đây: 

- Học xong trường Trung cấp Phật học hoặc Cao cấp Phật học.

- Nếu cư sĩ phải có trình độ văn hóa lớp 12 và đã nhiều năm nghiên cứu thực tập tu thiền. 

3. Người hâm mộ và quyết chí tu thiền, khẳng định trong đời này phải sáng đạo mới được.

4. Không tật nguyền và bệnh truyền nhiễm.

5. Chấp nhận cuộc sống đạm bạc và Lục hòa.

6. Trước khi nhập chúng phải tập sự tại thiền viện từ một tới ba năm.

VII - ĐIỀU LỆ DÀNH CHO KHÁCH 

Khách đến thiền viện gồm có khách hành hương, tham quan và khách ở lại. Tất cả khách đều giữ nghiêm trang lịch sự khi đến thiền viện.

1. Khách hành hương và tham quan: Thiền viện chia làm hai phần, nội viện và ngoại viện. Khách hành hương và tham quan chỉ ở phần ngoại viện. Trừ khi khách muốn nghiên cứu về đường lối tu hành của thiền viện, phải nhờ thầy Tri khách xin phép, sau đó mới được dẫn vào nội viện.

2. Khách ở lại thiền viện ngắn hạn: Nếu khách đến thăm thân nhân hoặc đến nghiên cứu, chỉ được ở lại không quá bảy ngày.

3. Khách ở lại dài hạn: Một là khách ở lại thực tập tu dài hạn tại nhà khách. Hai là khách ở lại xin nhập thất. Hai hạng khách này được ở lại thiền viện không quá ba tháng. Trừ trường hợp tu hành khá đắc lực, muốn xin thêm thời gian tu học cho được mỹ mãn, phải do hòa thượng Viện trưởng quyết định.

4. Khách Ni và Phật tử nữ: Tuyệt đối không được ở lại đêm nhà khách Tăng và ngược lại cũng thế.

KẾT LUẬN

Nội Quy này là một nhu cầu thiết yếu để bảo vệ sự an ổn tu hành của thiền sinh ở thiền viện. Nội Quy giúp cho thiền sinh sống hài hòa trong nề nếp đạo đức, khiến sự tu học dễ phát triển. Vì thế, mỗi tháng một lần Thỉnh nguyện đọc lại Nội Quy, để thiền sinh ghi nhớ và tự kiểm điểm xem mình có phạm điều nào không. Vì tha thiết tu hành, các thiền sinh cố nhớ, giữ cho được trọn vẹn.

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 3
Phần I - Giáo huấn chư Tăng nội viện
Phần II - Giáo huấn chư Ni nội viện
Danh sách chương: