Muốn cho tương lai đạo pháp sáng sủa, tốt đẹp, bây giờ Tăng Ni phải ráng tu cho có đức hạnh, mai kia ra truyền bá mới có lợi. Nếu bây giờ tu sơ sài, sau ta làm Phật sự, khởi tham sân si thì phải làm sao?
Như vậy, chúng ta hiểu rõ ý nghĩa mình ngồi một chỗ tu không phải là ích kỷ. Mai này các vị lớn đi lãnh Phật sự, đâu có giữ hoài một chỗ. Bây giờ là lúc kềm chế ở một chỗ để tu, ai khôn ngoan cố gắng nỗ lực tu hành trong thời gian này, quý từng ngày không phí uổng.
Đi tu là nguyện tự giác, giác tha. Bây giờ đang giai đoạn thứ nhất là tự giác, ngày đêm quyết tâm ngồi tu cho được định, trí tuệ sáng, đó là tự giác. Ngồi thiền buông bỏ vọng tưởng là định, dấy niệm là động. Lặng là định, định phát sinh trí tuệ. Muốn có định tuệ, vọng tưởng lặng xuống thì trí tuệ sáng. Tụi con phải nguyện không phiền não. Hôm nào tụi con buồn phiền huynh đệ, lúc ngồi thiền yên không? Đâu có yên. Ngồi thiền vọng tưởng cứ trào lên hoài, không định được thì làm sao có trí tuệ?
Bởi vậy tụi con tập, khi huynh đệ làm trái ý, hãy tự nghĩ: “Chắc gì mình không làm trái ý người khác. Người ta làm trái ý mình thì giận, còn mình làm trái ý người ta sao không tự trách?”. Trên đời đâu có ai giống ai, không phải như khuôn đúc. Ở nhà cha mẹ sanh ba bốn đứa con tâm ý đâu giống nhau, huống là tụi con ở gia đình khác, cuộc sống và cách giáo dục khác, tâm ý làm sao giống được. Người biết tu thì phải bỏ qua những cái khác đó cho hòa nhau.
Thời đức Phật có các vị Tỳ-kheo tranh chấp với nhau, Phật khuyên không chịu bỏ, Ngài đi vào rừng, rồi tới thất của ba vị Tỳ-kheo Tiên-tỳ-la, Nan-đề và A-na-luật. Đức Phật hỏi:
- Các ông ở chung như vầy có phiền não với nhau không?
Các vị trả lời:
- Dạ không, chúng con luôn luôn xả cái ý riêng để hòa nhau, người nào cũng biết xả là hòa.
Tụi con ở đây cũng vậy, đừng chấp cái suy nghĩ của mình. Thầy thấy có những người chấp cho ý mình là đúng, huynh đệ nói khác liền giận. Khi người ta nói khác mình, nên tự xét lại ý mình chưa chắc là đúng. Ý khi nghĩ như vầy, khi nghĩ khác, chắc gì đúng, nên xả bỏ ý riêng của mình, như vậy là hòa. Hòa là xả riêng tư để sống chung với nhau, chứ không phải đồng là hòa. Việc tu của tụi con muốn tiến, trước hết phải giới hòa đồng tu, ngăn ngừa phiền não. Giữ giới rồi sanh định, phát tuệ. Ví dụ, có người ở thế gian giữ năm giới, hôm nào đó thấy của người ta, khởi lòng tham đi ăn cắp. Lúc về ngồi niệm Phật hay tọa thiền có yên không? Hay cứ nghĩ mình chứa đồ đó người ta có biết không? Người ta có bắt mình không? Ngồi nhớ như vậy hoài làm sao yên. Đó là tại mình không giữ giới nên tâm không định, thì làm sao phát sinh trí tuệ. Nên phạm giới là không tu được. Vì vậy, đầu tiên là giữ giới. Giới hòa mấy năm nay tụi con có hành được chưa? Thuộc rồi còn phải hành cho được.
Tu không phải là mong tưởng ngày mai mình thành thánh, tu là phải thực hành cho được những gì Phật dạy. Mình ứng dụng được thì sau này sẽ có kết quả, còn ngồi mong thành Phật mà không chịu thực hành lời Phật dạy, có thành được không? Có nhiều người mơ ước được thành Phật, nhưng không chịu sửa những cái xấu dở của mình, cũng giống như mấy đứa học trò, không chịu học bài mà đến kỳ thi muốn đậu, chuyện đó không bao giờ có.
Hằng ngày không chịu tu lại cứ mơ Phật về xoa đầu, thọ ký thành Phật, chuyện đó không thể có. Bây giờ tụi con hằng ngày nhớ những kinh điển Phật tổ dạy, những gì Thầy thường nhắc, ứng dụng triệt để thì thành công, khỏi mơ ước gì cả. Nếu không thực hành, dù mơ ước mấy cũng không được, Bởi vậy, nói tu là hành, thực hành cho được những gì mình học. Như đức Phật dạy bỏ tam độc, khi con rắn sân vừa khởi lên liền dừng, không để tới giận đỏ mặt, con rắn hổ lửa nổi lên thì không cứu được.
Trên đường tu tụi con phải gan dạ, cố gắng thực hiện cho được lý tưởng giác ngộ giải thoát của mình mới xứng đáng đời tu. Đã phát nguyện hy sinh một đời để cầu giác ngộ, độ chúng sanh, đó là mục tiêu phải làm cho được. Không phải chùa to, Phật lớn, đệ tử nhiều là xứng đáng, mà phải giác ngộ độ chúng sanh. Phật là giác, đệ tử Phật mê thì không được. Phải giác mới xứng đáng là đệ tử Phật.
Người tu nếu không được bào gọt, đẽo đục thì đâu thành pháp khí. Bào gọt đục đẽo tất phải bị đau, không có cách nào nhẹ nhàng êm ái hết. Nên đi tu thường phải bị rầy. Ở nhà ba má không rầy, vào chùa bị rầy hoài tưởng chừng ở chùa dở hơn ở ngoài. Nhưng không phải vậy, vì ở ngoài sống theo thế gian, những cái xấu nhỏ ba má không để ý; còn ở đây sống trong đạo lý, cầu giải thoát sanh tử, nên tất cả thói quen, tật xấu nhỏ lớn đều phải giũa gọt. Lớn thì quở theo lớn, nhỏ rầy theo nhỏ, làm sao cho càng ngày càng sạch. Như vậy tụi con mới giải thoát sanh tử được, chứ sống theo thế gian làm sao giải thoát!
Hiểu rồi tụi con không trách vì sao vào chùa bị rầy nhiều, phải nghĩ đây là cơ hội tốt để mình sớm trong sạch hơn, sớm thảnh thơi độc hành độc bộ. Tụi con muốn độc hành hay đa hành? Nhiều khi Thầy thấy tức cười, ai cũng cầu giải thoát mà đi một mình không chịu, cứ kéo lôi người này người kia cùng đi, như vậy làm sao đi tới nơi? Cho nên người tu phải can đảm. Nói như vậy cũng đừng hiểu lầm quý Thầy độc hành độc bộ là chỉ lo cho riêng mình.
Độc hành nghĩa là trên đường tu không có gì trói buộc, lôi kéo, đi một cách thong thả tự tại, chứ không phải chỉ lo cho mình còn ai mặc họ. Như Thầy đi cả đoàn mà vẫn độc hành độc bộ, đường Thầy Thầy đi, còn ai đi sau cứ thấy mà theo chứ không bị trói cột. Đa số người tu thường bị trói cột, người này đi người kia giật dây lại, cứ nhùng nhằng như vậy hoài, rồi lạc đường không đi tới đâu. Đi tu rất tốt nhưng phải gan. Cái gì không đúng đạo lý giải thoát phải cắt gỡ, như vậy mới giải thoát được, còn cứ cột trói hoài làm sao giải thoát nổi.
Nghĩa lý giải thoát hết sức đơn giản, như bị cột trói thì bây giờ mở ra, mở ra tức tự do, còn trói thì hết tự do. Nhưng cái gì trói cột chúng ta? Ai cột chúng ta? Tâm niệm ban đầu hướng về giải thoát, dứt khoát sự trói buộc của gia đình, đi tu là nguyện cắt đứt hết, cho nên khi cắt tóc nói “cắt ái từ sở thân”. Vậy mà vô chùa cột lại, vô lý làm sao! Vô lý không thể tha thứ được! Do đó phải gan dạ, cắt được rồi là cắt luôn, đừng để bị cột trói bởi cái gì hết. Được như vậy mới tự tại.
Thí như dòng suối, nước ở trên chảy tràn xuống, mình thấy dòng nước chảy mạnh. Nếu ở dòng sông lớn, nước chảy nhè nhẹ, ra tới biển thì không thấy dòng nước chảy nữa mà vẫn có thủy triều đều đều. Cũng vậy, lòng mình hẹp hòi thì những ràng buộc vô lý sẽ siết chặt, còn nếu mở rộng lòng ra, mọi cột trói đều không đáng kể.
Như vậy, tu mở rộng lòng là cắt mấy sợi dây ràng buộc nhỏ, mở rộng ra đoàn thể lớn. Nếu rộng ra như biển cả thì tâm mình thênh thang. Người tu phải như vậy. Đừng để cắt ở ngoài đời rồi vào đạo cột lại, nào là sư chú sư bác, sư huynh sư đệ, cột trói tùm lum. Tụi con ở trong chúng, ai cũng như ai, phải quý trọng giống nhau.
Hồi xưa, Thầy phục Hòa thượng Giám đốc ở chỗ này. Ngài có hai chủng tử là cô Như Hoa và thầy Tịnh Đức. Thầy Tịnh Đức nhỏ tuổi hơn Thầy một chút, người hiền hòa sáng suốt, học lớp gần với Thầy, học giỏi và cần mẫn giống Hòa thượng. Hòa thượng làm Giám đốc ở trong trường nhưng không bao giờ gọi thầy Tịnh Đức lên hầu, không bao giờ gọi riêng người thân của mình để sai bảo.
Thầy nghe kể rằng ngày Hòa thượng đi tu, thầy Tịnh Đức còn chạy lẫm đẫm. Khi Hòa thượng xuống thuyền, thầy Tịnh Đức chạy theo. Hòa thượng xô thuyền ra, thầy Tịnh Đức nhào xuống sông mà Hòa thượng vẫn đi thẳng. Người nhà vớt lên. Thật là gan quá! Tụi con có gan vậy không? Bởi vậy, đi tu rồi, mình là người của tất cả chứ không của riêng ai, đó là tinh thần sống vì người. Nhờ vậy các ngài làm Phật sự dễ.
Tụi con bây giờ đi tu rồi, cũng còn coi người thân là nặng là quý, sơ thì không quý, đó là còn phân biệt. Chúng ta khéo tu một chút, làm sao cho tâm không còn thân sơ. Nếu còn cột đó là người thân của mình, họ vui hay buồn đều có dính đến mình, phải chịu lây. Nếu thấy ai cũng như ai thì người buồn hay vui mình cũng thấy bình thường, lòng không xao xuyến. Tu như vậy mới khỏe, lòng mới an ổn. Còn trói buộc hoài, tu năm này tháng nọ, cuối cùng vẫn vụng về dốt nát, không tới đâu. Cho nên phải sáng suốt, khôn ngoan và can đảm.
Như kỳ thầy Tịnh Đức bệnh sắp tịch, Hòa thượng Giám đốc đứng phía trên đầu, Thầy đứng bên cạnh, Thầy Tịnh Đức bệnh mê man mà cứ tụng kinh Di Đà không sót một chữ, lại hô chuông thật lảnh lót, không ai nghĩ đó là người sắp chết. Đến lúc thầy Tịnh Đức ra đi, Thầy rớt nước mắt mà Hòa thượng vẫn bình an không rơi một giọt nước mắt. Chứng kiến cảnh đó ai cũng nể.
Người xưa tinh thần rất mạnh, tuy đi tu muộn nhưng ý chí quyết liệt. Hòa thượng đi tu vào thời Pháp thuộc, đến đâu cũng phải có giấy thuế thân, nếu không thì ở lâu bị bắt bớ khó lòng lắm. Vậy mà Hòa thượng ra tới Huế là xé hết giấy tờ bỏ không dùng nữa. Thư nhà gửi ra xé bỏ sọt rác không đọc. Thầy được gần Hòa thượng, rất quý chỗ can đảm đó. Tụi con bây giờ trông thư từ quá, phải không? Chúng ta phải ráng tập gan dạ như vậy, chuyện tu hành dễ thành công. Nhiều người còn nặng gia đình quá, bỏ lên cân tương đương với chùa hay có khi còn hơn nữa. Vậy là dở!
Đó là ràng buộc nơi gia đình và người thân. Còn ràng buộc của bản ngã nữa. Tụi con thấy ràng buộc bản ngã chưa? Chuyện mình thì nặng, chuyện người thì nhẹ. Thí dụ mình đau một chút rên rỉ, còn người khác đau thì coi nhẹ, không dính gì với mình. Đó là ích kỷ, nghĩ về mình nhiều quá. Hôm rồi, Thầy nói Thầy tu ích kỷ, nhưng ích kỷ của Thầy khác, không phải một bề tiêu cực lo cho mình. Thầy ích kỷ là dẹp hết các duyên lăng xăng bên ngoài, nỗ lực phăng tìm cho ra con người thật, biết rõ thân tứ đại và tâm duyên theo bóng dáng sáu trần là hư ảo nên không coi trọng. Thấy được cái thật rồi đem chỉ dạy cho mọi người thì hết ích kỷ, trở thành cao thượng.
Người đời ích kỷ vì chấp thân tứ đại. Bây giừ giả sử tụi con ăn tất cả những món ngon vật lạ, uống tất cả các thứ quý, được khỏe mạnh sống dai tới chừng nào? Nhiều lắm là trăm tuổi. Có nhiều khi ăn ngon, sống sung túc quá, lại hay sanh bệnh phải uống thuốc. Bởi vậy, thân này không bảo đảm an toàn. Dù ta có yêu quý, bảo vệ đúng mức, sớm muộn gì nó cũng hoại. Biết rõ rồi phải cố gắng tu, tìm cho ra cái chân thật nơi mình. Chư Tổ đã nói hết lời, còn Thầy nhắc hoài, chỉ để tụi con nhận ra cái thật. Thấy được cái đó thì bình an, sống thảnh thơi tự tại, xứng đáng một đời tu.