|
Tông Môn Cảnh Huấn 3
3. Diễn văn lễ Đặt đá xây dựng thiền viện Trúc Lâm
Năm Quý Dậu - 1993 Kính thưa quý hòa thượng, thượng tọa, quý sư bà, ni sư và chư đại đức Tăng Ni cùng tất cả Phật tử. Thưa quý vị, Trước nhất chúng tôi chân thành biết ơn quý vị đến dự lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng thiền viện Trúc Lâm hôm nay. Sự có mặt của quý vị nói lên tinh thần cảm thông và hưởng ứng một Phật sự có tầm vóc quan trọng do chúng tôi chủ xướng. Chúng tôi xin phép nói rõ mục đích chủ yếu xây dựng thiền viện Trúc Lâm. Mục đích chúng tôi nhắm có ba phần: 1. Tạo cảnh quang xinh đẹp mang sắc thái văn hóa dân tộc. 2. Khôi phục Thiền tông đời Trần. 3. Tạo điều kiện thuận lợi cho Tăng Ni, Phật tử chuyên tu thiền. 1. Tạo cảnh quang xinh đẹp mang sắc thái văn hóa dân tộc Xây dựng thiền viện Trúc Lâm, chúng tôi cố gắng tạo thành một cảnh quan đẹp đẽ trong tổng thể khu vực hồ Tuyền Lâm nói riêng, một thắng cảnh của thành phố Đà Lạt nói chung. Song sự đẹp đẽ theo quan niệm của chúng tôi, chùa không có tính cách nguy nga lộng lẫy mà phải trang nhã, mang đậm nét dân tộc. Cảnh không phải hoa kiểng rực rỡ, mà thanh u tịch mịch. Chúng tôi cố tạo quang cảnh thanh lịch thích hợp với thiên nhiên. Cho nên, du khách đến đây sẽ thấy rừng thông xanh tươi soi bóng dưới mặt hồ, và chỉ nghe tiếng gió thổi thông reo, tiếng ve ngâm từng chặp. Bất cứ nơi nào trong rừng thông, du khách muốn ngồi lại hóng mát, đều có bóng thông làm dù, lá thông làm chiếu, sạch sẽ êm mát. Đây là cảnh đẹp của chúng tôi. 2. Khôi phục Thiền tông đời Trần Phật giáo Việt Nam có một kho báu vô giá mà bị mai một hơn một thế kỷ nay. Kho báu ấy là Thiền tông thời Lý - Trần, gần bốn thế kỷ (1010 - 1400), Thiền tông đã tạo dựng nền đạo đức văn hóa Việt Nam một cách rực rỡ. Chính nhờ Thiền tông mà Phật giáo Việt Nam được xem như quốc giáo cả hai triều đại. Nhưng ngót một thế kỷ rồi, Thiền tông gần như mất dạng trên đất nước Việt Nam. Bắt đầu từ năm 1970, chúng tôi cố gắng xây dựng lại nền văn học thiền Phật giáo Việt Nam. Song nhân duyên chưa đủ, việc làm chưa kết quả đúng như sở nguyện của chúng tôi. Đến nay, nhân duyên hội tụ, được quý hòa thượng Giáo hội Trung ương và Giáo hội tỉnh Lâm Đồng lưu tâm ủy thác, chúng tôi đứng ra thay nhọc các ngài thành lập thiền viện Trúc Lâm, để hướng dẫn Tăng Ni Phật tử tu thiền. Đồng thời được chính quyền tỉnh Lâm Đồng hoan hỷ cấp đất và cho phép chúng tôi xây dựng thiền viện Trúc Lâm tại hồ Tuyền Lâm này. Đây là cơ duyên ít có, cũng là duyên lành khiến nền Thiền học Việt Nam được sống lại với dân tộc Việt Nam. Sở dĩ chúng tôi chủ trương khôi phục Thiền tông đời Trần bởi những lý do: 1. Thiền tông đời Trần mang đầy đủ tính dân tộc. Thiền tông đời Trần là hệ phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, vua Trần Nhân Tông sau khi đi tu làm Sơ tổ hệ phái này. Khi xuất gia rồi, nhà vua lấy hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu-đà, có nghĩa là nhà sư Trúc Lâm tu khổ hạnh. Hai chữ Trúc Lâm vừa mang tên ngài và tên hệ phái. Hệ phái thiền Trúc Lâm Yên Tử ra đời, thống nhất bốn phái thiền đã có ở Việt Nam: phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci), phái Vô Ngôn Thông, phái Thảo Đường, phái Lâm Tế. Đây là lần đầu tiên vị Tổ Việt Nam đứng lên lập một chi phái thiền thích hợp với dân tộc tính Việt Nam. Đọc bài phú Cư Trần Lạc Đạo bằng văn Nôm của ngài Trúc Lâm, chúng ta sẽ thấy rõ tinh thần này. 2. Chủ trương tam giáo đồng nguyên. Thiền tông đời Trần không những thống nhất các hệ phái trong Phật giáo, mà còn đoàn kết với các tôn giáo bạn. Chủ trương “tam giáo đồng nguyên” ra đời từ Thiền tông đời Tống ở Trung Quốc, song thực hiện chủ trương này là Thiền tông đời Trần ở Việt Nam. Vì các ông vua đời Trần hầu hết đều ngộ được lý thiền, mà các ngài vẫn cho lập văn miếu thờ Khổng Tử và tôn trọng Lão Tử. Chính chủ trương bao dung này, nên đoàn kết được toàn dân để cứu nước và giữ nước, tạo thành sức mạnh phi thường đã chiến thắng được quân Nguyên Mông. Thiền tông không nặng về hình thức, chỉ chú trọng chuyển hóa nội tâm của con người. Do đó, bất cứ tôn giáo nào khéo dạy con người chuyển đổi tâm niệm xấu ác thành tâm hiền thiện đều thích hợp với Thiền tông. 3. Tăng tục đều tu được. Phật giáo cổ xưa chỉ thừa nhận người xuất gia tu hành mới được giải thoát. Cho nên ai muốn tu giải thoát đều cầu xin xuất gia ở chùa. Trái lại, Thiền tông đời Trần cho thấy người xuất gia, người tại gia đều có khả năng giác ngộ và tự tại trong lúc lâm chung. Vua Trần Thái Tông đang ở ngôi vị một ông vua mà vẫn ngộ đạo, trong tập Khóa Hư Lục còn ghi rõ điều này. Vua Trần Thánh Tông làm cư sĩ suốt đời vẫn có cái nhìn xuyên suốt lý thiền. Câu chuyện đối đáp giữa nhà vua và Tuệ Trung thượng sĩ trong buổi lễ cúng tuần cho hoàng hậu đủ rõ. Tuệ Trung thượng sĩ suốt đời sống trong vòng tay thê thiếp, mà vẫn được mọi người học thiền trọng vọng - trong quyển Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục nói - khi lâm chung vẫn ung dung tự tại ra đi. Vì muốn Phật giáo phổ cập cả hai giới Tăng sĩ và cư sĩ, nên chúng tôi chú tâm đến Thiền học đời Trần. 3. Hướng dẫn Tăng Ni và Phật tử chuyên tu thiền Đây là mục đích tối hệ trọng, chúng tôi đặt nặng hơn cả. Vì Phật giáo Việt Nam đã có một truyền thống sáng chói, mà ngày nay Tăng Ni và Phật tử dường như quên lãng. Nói đến tu thiền, mọi người cảm thấy xa lạ, hoặc có thái độ e dè, thầm sợ tu thiền điên. Đức Phật giác ngộ là do tu thiền, chư Tổ ngộ đạo đều do tu thiền, nguồn gốc Phật giáo Việt Nam cũng xuất phát từ Thiền tông, mà nay chúng ta không biết gì về tu thiền, thật là một sai sót lớn. Hơn nữa, toàn nước Việt Nam chùa chiền có đến mấy vạn, song tìm một chùa tu hành có quy củ có đường lối rõ ràng, thật là hiếm thấy. Vì bổ cứu những khuyết điểm trên, chúng tôi chủ tâm thành lập thiền viện Trúc Lâm, cốt để tạo điều kiện cho người tu có nề nếp quy củ, có đường lối cụ thể. Được vậy, Phật giáo đồ Việt Nam mới không cảm thấy hổ thẹn với các nước Phật giáo bạn. Để thực hiện mục đích trên, thiền viện Trúc Lâm chúng tôi chia làm hai khu. Khu ngoại viện và khu nội viện. Khu ngoại viện là nơi dành cho Phật tử hành hương và du khách tham quan. Trong khu này có Chánh điện, tham vấn học đường, khách xá, gác chuông và cổng tam quan... Khu nội viện lại chia làm hai: nội viện Tăng và nội viện Ni. Mỗi nội viện đều có Thiền đường, Tăng đường, Trai đường... Trong khu nội viện, nếu có khách muốn vào nghiên cứu sự tu hành cụ thể của Tăng Ni, phải xin phép thầy Tri khách mới được hướng dẫn vào. Có thế mới thực hiện được vừa tạo cảnh quan phục vụ khách hành hương và du lịch, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người chuyên tu thiền. Chùa Phật giáo chúng ta lâu nay là nơi chiêm bái lễ lượt của Phật tử, vừa là nơi hoằng pháp của chúng Tăng, đồng thời cũng là nơi tu hành của Tăng Ni nên rất ồn náo phức tạp. Trong cảnh ồn tạp này, chúng Tăng dù có quyết tâm tu hành cũng khó đạt được kết quả. Bởi người tu không có điều kiện thuận lợi để thực hiện bản nguyện của mình. Để giúp đỡ những người quyết chí tu hành, thiền viện Trúc Lâm ra đời. Thiền viện Trúc Lâm thể theo tinh thần ngài Trúc Lâm Đại Đầu-đà, khi làm vua thì quên mình vì dân vì nước, lúc đi tu thì sống cuộc đời đạm bạc để dồn hết tâm lực trong việc tu hành và giáo hóa chúng sanh. Cho nên phần mở đầu của bản nội quy thiền viện Trúc Lâm, chúng tôi viết: Với tinh thần Trúc Lâm Đại Đầu-đà, thiền sinh ở đây phải đủ ba đức tính: dứt khoát, kiên quyết và đạm bạc. 1. Tính dứt khoát là đời ra đời, đạo ra đạo, tu phải đến nơi đến chốn; không thể có thái độ lưng chừng, mà phải quyết chí tu đến sáng đạo mới được. 2. Tính kiên quyết là dù khó khăn chướng ngại do ngoại cảnh hay bản thân tạo ra, đều khẳng định vượt qua. Cương quyết thực hiện kỳ được giải thoát viên mãn mới thôi. 3. Tính đạm bạc là cuộc sống đạm bạc giản dị, không chấp nhận mọi thụ hưởng xa hoa. Bản chất thanh đạm là đời sống của thiền sinh ở đây. Phần nề nếp quy củ trong thiền viện, chúng tôi lấy Lục hòa làm nền tảng và Lục hòa là mạch sống của người xuất gia mà hầu hết các chùa chúng ta khó thực hiện được. Thiếu Lục hòa, người xuất gia khó đoàn kết nhau, trái lại còn chia rẽ chống đối là khác. Do đó trong bản nội quy mở đầu phần Lục hòa, chúng tôi viết: Lục hòa là chất keo gắn chặt lâu bền các thiền sinh chung sống tu hành tại thiền viện. Lục hòa cũng là nền tảng vững chắc của đoàn thể Tăng. Nếu toàn thể chúng Tăng đều sống theo Lục hòa thì Phật pháp sẽ hưng thịnh, Tăng đoàn sẽ an lạc. Trong kinh Pháp Cú có câu: “Hạnh phúc thay chúng Tăng hòa hợp…”. Có người nghe nói “chuyên tu thiền”, họ hiểu lầm cho là tiêu cực, ích kỷ chỉ lo tu cho mình. Sự thật không phải thế, mà ngược lại. Bởi vì người thế gian muốn có tài giỏi để giúp ích xã hội, họ cần phải có thời gian dài học hành, phải chuyên nghiên cứu môn sở trường năm mười năm, sau đó mới có sáng kiến hay, phát minh lạ. Tu sĩ Phật giáo cũng thế, sau khi học xong giáo lý, phải có thời gian chuyên tu, được đôi phần giác ngộ rồi mới ra giáo hóa chúng sanh. Người chuyên tu thiền, sau khi thấy đạo phải lao mình vào cuộc đời để giáo hóa những người mê lầm đang tạo nghiệp khổ, dẫn dắt họ đến chỗ sáng suốt an lành, bất kể mình phải khó khăn lem lấm. Chúng ta nghe bài kệ thứ mười trong mười mục chăn trâu nhà thiền: Lộ hung tiển túc nhập triền lai, Mạt thổ đồ khôi tiếu mãn tai. Bất dụng thần tiên chân bí quyết, Trực giao khô mộc phóng hoa khai. Dịch: Chân trần bày ngực thẳng vào thành, Tô đất trét bùn nụ cười thanh. Bí quyết thần tiên đâu cần đến, Cây khô cũng khiến nở hoa lành. Thiền sư mặc áo bày ngực, chân không giày dép đi vào chợ, mặc dù thân đầy bụi bặm lem lấm, mà miệng vẫn cười toe toét tới mép tai. Không cần gìn giữ giới hạnh mẫu mực của người tu, không thuyết giảng giáo lý cao siêu mầu nhiệm, chỉ làm một con người tầm thường để dạy bảo những người bán cá bán thịt ở ngoài chợ, những người la cà ở quán rượu lầu xanh... khiến cho họ biết đạo đức tu hành. Hành động này, chúng ta có thể kết tội là tiêu cực được không? Quả thật là hạnh Bồ-tát quên mình cứu khổ chúng sanh. Chỗ cứu cánh người tu thiền là phải đến đó. Thưa quý vị, Thiền viện Trúc Lâm ra đời và sẽ thành tựu. Trước nhất là nhờ Hội đồng Trị sự Giáo hội Trung ương, Ban Trị sự tỉnh Lâm Đồng tận tình chung lo và thường xuyên ủng hộ chúng tôi. Kế đến nhờ Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt, Ủy ban nhân dân các phường Ban Tôn giáo, Mặt trận, Ban Giám đốc Sở Nông lâm thủy, Ban Giám đốc Sở Xây dựng, Ban Quản lý rừng đặc dụng Lâm Viên, Ban Giám đốc hồ Tuyền Lâm, các ngành các cấp giúp đỡ và dành mọi sự dễ dàng cho chúng tôi. Đồng thời được sự biểu đồng tình của chư hòa thượng, thượng tọa, đại đức Tăng Ni hiện có mặt và vắng mặt, đây là nhân tố quan trọng thúc đẩy chúng tôi phải cố gắng. Sau cùng là nhờ sự đóng góp công và của của tất cả Phật tử xa gần trong nước, ngoài nước. Chúng tôi xây dựng thiền viện Trúc Lâm sớm thành công là nhờ sự đồng tâm hợp lực của tất cả quý vị. Trước khi dứt lời, chúng tôi kính chúc tất cả quý vị được sức khỏe an khang, tâm Bồ-đề viên mãn. Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 3
Phần I - Giáo huấn chư Tăng nội viện
Phần II - Giáo huấn chư Ni nội viện
|
3. Diễn văn lễ Đặt đá xây dựng thiền viện Trúc Lâm
Phần I - Giáo huấn chư Tăng nội viện
Phần II - Giáo huấn chư Ni nội viện
39. Sự khác biệt giữa hồi quang phản chiếu và phản quan tự kỷ