|
Tông Môn Cảnh Huấn 3
39. Sự khác biệt giữa hồi quang phản chiếu và phản quan tự kỷ
Ngày 13/09/ Bính Tý - 24/10/1996 Trong nhà thiền thường nói, “Hồi quang phản chiếu” và “Phản quan tự kỷ”. Đó là câu nói căn bản của người tu thiền. Hôm nay Thầy sẽ giản trạch về hai từ ngữ rất quan trọng này, vì đây là vấn đề then chốt mà Thầy e Ni chúng chưa nắm vững. Trước tiên Thầy giải thích về từ ngữ. Hồi quang phản chiếu: Hồi là quay lại, quang là ánh sáng, phản là ngược trở lại, chiếu là soi sáng. Phản quan tự kỷ: Phản là ngược lại, quan là xem xét quán chiếu, tự kỷ là chính mình. Vậy “hồi quang” và “phản quan” khác nhau thế nào? “Hồi quang” là xoay ngược ánh sáng trở lại mình. Ánh sáng đó là gì? Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đưa tay lên hỏi A-nan: - Thấy không? A-nan thưa: - Dạ thấy. Phật hạ tay xuống, hỏi: - Thấy không? A-nan thưa: - Không thấy. Phật quở: - Sao ông quên mình theo vật! Phật quở là vì sáu căn của chúng ta, mắt tai mũi lưỡi thân ý, luôn luôn phóng ra sáu trần, sắc thanh hương vị xúc pháp. Thấy tay Phật đưa lên gọi là thấy, tay Phật không đưa lên gọi là không thấy. Nếu không thấy thì lúc đó mù hay sao? Không mù tại sao nói không thấy, không thấy tức là mù. Nhưng nghiệm kỹ lại coi, khi không có vật mình có thấy không? Thấy không có vật mà sao nói không thấy, đó là chỗ lầm lẫn muôn đời của chúng ta, chỉ nhớ cái bên ngoài mà không nhớ cái hay thấy của mình. Sáu căn có mang tính chất tri giác, cho nên gọi là quang, tức ánh sáng. Chúng ta dồn hết tri giác để phân tích, để soi rọi ngoại cảnh mà không hề nhớ mình có ánh sáng đó. Bởi vậy thông suốt ngoại cảnh, mà ngu muội đối với mình. Sự sống của mình ra sao không biết, còn chuyện này chuyện nọ của thiên hạ thì bén nhạy sáng suốt vô cùng. Chuyện năm trên năm dưới của ai đâu cũng nhớ rõ, còn chuyện mình thì quên bẵng. Đây là bệnh chung của nhân loại. Ai cũng đua nhau tìm kiếm, học đòi, phân biệt tất cả chuyện bên ngoài. Ít ai quay lại tìm hiểu mình là cái gì, kể cả người tu chúng ta cũng thả trôi, phóng chạy ra ngoài. Chúng sanh mê lầm đem ánh sáng ở sáu căn phóng ra ngoài, tìm hiểu ngoại cảnh mà không quay lại tìm biết chính mình. Khi có ngoại cảnh tưởng như mình biết, không có ngoại cảnh tưởng mình không biết. Đâu ngờ cái “không” là ngoại cảnh; còn cái “biết” vẫn hằng hữu nơi mình. Đức Phật muốn tất cả người tu phải biết mình trước, nhận ra cái gì là mình, rồi hãy biết những thứ chung quanh. Không biết mình mà biết chung quanh là biết rỗng không lợi ích gì. Biết bên ngoài là thứ sanh diệt, gốc sự tu là biết lại mình. Muốn biết mình thì thay vì sáu căn phóng ra ngoài, bây giờ phải quay trở vào chính mình. Phóng ra là đuổi theo cảnh, quay vào là soi sáng lại mình. Cho nên nói hồi quang là xoay ánh sáng trở lại. Phản chiếu tức là chiếu ngược lại nơi mình. Đức Phật đưa tay lên hỏi, ngài A-nan thấy tay Phật đưa lên nói là thấy, khi Phật không đưa tay lên bảo là không thấy. Đó là ngài A-nan mắc kẹt hình tướng bên ngoài, cho cái tay bên ngoài là cái thấy mà quên tánh hay thấy của chính mình. Sự thật là có tay hay không có tay, cái thấy lúc nào cũng sẵn. Quên hẳn chính mình và lệ thuộc dính mắc vào ngoại cảnh là hai căn bệnh rất sâu kín, trầm trọng của chúng sanh. Trong nhà thiền chú trọng hai cơ quan tối quan yếu là mắt và tai, cho nên Phật dùng thuật đánh chuông và đưa tay. Đánh chuông để chỉ tánh nghe, đưa tay chỉ tánh thấy. Như vậy khi con người chạy theo âm thanh sắc tướng, là quên. Bây giờ hồi quang phản chiếu là không kẹt ở âm thanh, sắc tướng, trái lại biết rõ mình đang nghe, đang thấy. Sự vật có động tĩnh, sanh diệt nhưng cái thấy nghe của mình hằng hữu. Ngày xưa, các thiền sư dùng đủ thủ thuật, đưa phất tử hoặc đưa ngón tay... để nhắc cho hành giả ngay nơi hình ảnh bên ngoài mà nhận lại mình. Cho nên Phật đưa cành hoa lên, ngài Ca-diếp mỉm cười. Đó là thông cảm được cái gì Phật muốn chỉ. Thấy cành hoa nhưng không lệ thuộc cành hoa, mà biết được mình có cái hay thấy. Chúng ta tu là nhìn cảnh mà chẳng quên mình, hay nhân nơi cảnh mà biết mình, trong nhà thiền gọi là “kiến sắc minh tâm”. Nghĩa là thấy hình sắc bên ngoài mà sáng tâm mình. Tâm mình ở đâu? Chính cái hay thấy, hay biết là tâm của mình. Tâm đó không hề lăng xăng, lộn xộn. Bởi vậy, thấy được cành hoa tức là kiến sắc, rồi nhận nơi mình có cái hay thấy, hay biết hằng hữu không vắng thiếu lúc nào, đó là minh tâm. Biết được tâm, rõ được tâm là nhớ mình không theo vật. Còn nếu chỉ biết cành hoa ở ngoài, có thì nói thấy, không có nói không thấy, đó là quên mình theo vật. Quên mình theo vật là mê, nhớ mình không theo vật là giác. Chúng ta biết nhớ lại như vậy là hồi quang, còn quên mình chạy theo sắc thanh là phóng quang. Chúng ta có hồi quang không, hay là phóng quang? Giả sử ai ngồi bên cạnh mình nói chuyện, họ nói gì thì nói, chúng ta cứ nhớ mình đang nghe, chứ không nhớ chuyện của họ. Nhớ mình đang nghe, đó là hồi quang. Trong nhà thiền thường nói, thấy như mù nghe như điếc. Đừng hiểu như mù là không thấy, như điếc là không nghe, mà chính là thấy nghe rõ ràng nhưng không dính mắc. Bởi thấy cũng như mù, nghe như điếc, nên các vị thiền sư không cần ngồi thiền nhiều, vì tất cả đều không dính mắc nên không bận bịu về việc ngồi thiền, kềm chế vọng tâm. Các ngài sống rất tự tại, thoải mái, dù ngồi giữa chợ cũng như ngồi thiền. Còn chúng ta ngồi thiền mà ai nói gì cũng lắng nghe, thấy cái bóng liền nhìn kỹ rồi phân tích, như thế chưa phải là thiền. Sự tu hết sức gần, không nặng nề chút nào. Đừng nghe nói hồi quang rồi nghĩ phải dòm vào ngực mình hoài, xoay nhìn từng nhịp đập của tim, từng mạch máu nhảy... như thế lâu ngày tức ngực, đau tim. Đó là sai lầm. Chúng ta có thể ngồi chơi hoặc nhìn ngắm trời mây... Nhưng nhớ, ngắm chỉ là ngắm thôi, đừng phân biệt đẹp xấu thế này thế nọ. Nghe cũng vậy, ai nói mình đều nghe mà không chạy theo tiếng theo lời, chỉ biết mình đang nghe. Đó là đang “hồi quang phản chiếu”. Chúng ta phải tập, nghe tất cả nhưng không chú ý đến lời tiếng, chỉ nhớ mình đang nghe; thấy tất cả mà không lưu tâm tới cảnh, chỉ nhớ mình đang thấy. Như vậy là không quên mình, không mất mình. Ngược lại, chạy theo âm thanh, sắc tướng bên ngoài là quên mình theo vật, như lời Phật quở trong kinh Lăng Nghiêm. Hằng ngày đi đứng nằm ngồi, lúc nào cũng biết hồi quang là tu hành miên mật. Người xưa sợ chúng ta tu lôi thôi, nên bắt phải học Tỳ-ni, làm bất cứ hành động nào cũng bắt đọc bài kệ, câu chú để cho nhớ, không chạy theo ngoại cảnh. Không chạy theo cảnh tức là đang sống với chính mình. Người biết hồi quang phản chiếu thì lúc nào cũng tỉnh, cũng biết mình đúng như thật, nên không phải nhờ đến câu chú hay bài kệ để kềm thúc tâm. Tu mà không biết mình, chỉ biết ngoại cảnh, chính mình là cội gốc mà không biết, đó là sơ sót rất lớn. Hồi quang là xoay ánh sáng trở lại mình, nói xoay mà thật ra không có gì xoay, chỉ là nhớ mình không chạy theo cảnh. Không phóng tức là hồi. Phản chiếu là rọi sáng lại mình, không cho phóng chạy theo vật bên ngoài, đó là tu. Tu đúng như vậy là tu thiền, nên ngài Pháp Loa dạy trong Thanh quy: “Ra vào không giao thiệp gọi là ngăn dừng". Nghĩa là đối với trần không chạy theo, như vậy là giữ giới thanh tịnh, là tu hành chân chánh. Sự tu hết sức tế nhị chứ không phải chỉ ở hình thức bên ngoài. Cảnh bên ngoài dù đổi thay sanh diệt, mình cũng không mất, không bị ảnh hưởng. Không mất mình nên khi nhắm mắt chúng ta tự có lối đi riêng, thân này bại hoại nhưng cái biết không bại hoại. Như vậy, hồi quang phản chiếu là nói lên tinh thần tu thiền, là cốt tủy, là tâm yếu của người tu thiền, chứ không phải tầm thường. “Phản quan tự kỷ” là sao? Chữ “quang” phản chiếu và chữ “quan” phản quan, hai chữ khác nhau. “Quan” là xem xét, ngắm nhìn. Còn “quang” là soi sáng, là ánh sáng của mình. Như vậy, phản quan tự kỷ chính là xem xét trở lại chính mình. Nguyên câu nói của ngài Tuệ Trung thượng sĩ là: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”. Đó là yếu chỉ Thiền tông. Thầy cho rằng, câu “phản quan tự kỷ” có tính cách quảng bác hơn câu trên, vì bao gồm tất cả các phương pháp và pháp môn tu. Còn hồi quang phản chiếu thì có tính cách chuyên môn về Thiền. Thí dụ, tu đếm hơi thở hoặc theo hơi thở, đó không phải hồi quang mà là phản quan tự kỷ. Khi chúng ta xem xét hơi thở của mình và sự sanh diệt của từng hơi thở, thấy rõ tinh tường những biến chuyển của nội tâm hay của bản thân, đây là phản quan tự kỷ. Lối tu này tổng quát, bao trùm hết cả giáo lý nhà Phật. Thí dụ, Phật dạy tu thiền quán Tứ niệm xứ, là pháp căn bản mà các kinh A Hàm thường dạy rất rõ. 1. Quán thân bất tịnh: Nghĩa là xem xét, phân tích tường tận từng bộ phận, thấy rõ thân này nhớp nhúa, hôi hám. 2. Quán thọ thị khổ: Đối với tất cả cảm giác do tiếp xúc với sáu trần ở ngoài, đều biết rõ ràng nó là vô thường, không thật, là gốc của đau khổ. 3. Quán tâm vô thường: Thấy rõ những tâm tiệm của mình luôn luôn sanh diệt không dừng. 4. Quán pháp vô ngã: Quán tất cả các pháp, từ tâm pháp nơi mình cho tới ngoại cảnh đều là tướng duyên hợp không có chủ. Phật dạy: Người nào cột tâm ở Tứ niệm xứ bảy ngày không dời đổi sẽ chứng từ Tu-đà-hoàn đến quả A-na-hàm, chẳng những bảy ngày mà ba ngày cũng chứng quả, chẳng những ba ngày mà một ngày cột tâm ở Tứ niệm xứ không dời đổi cũng chứng quả A-na-hàm. Quán đó tức là phản chiếu, xem xét soi sáng lại mình. Cho nên pháp tu Phật dạy trong các kinh A Hàm, chính là phản quan tự kỷ. Pháp tu Ngũ đình tâm quán cũng là soi xét lại mình. Quán Phật, quán từ bi, quán bất tịnh, quán sổ tức, quán nhân duyên. Quán như vậy để trụ tâm, cũng là để soi sáng lại mình. Đó là nói về hệ thống A Hàm. Trong hệ thống Bát-nhã, như Bát-nhã Tâm Kinh nói “chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”, đây cũng là soi sáng lại chính mình để biết rõ năm uẩn không thật, không có thực thể, biết rõ rồi thì qua tất cả khổ nạn. Trong Thiền tông, câu chuyện an tâm của tổ Huệ Khả, tìm tâm chính là phản quan. Tâm ở đâu? Quay lại liền biết đường vào. Ngay như hiện tại, Thầy thường dạy Tăng Ni tu là nhìn lại từng niệm khởi, đừng chạy theo nó, gọi là “Biết vọng không theo”, phương pháp này cũng là phản quan. Tóm lại tất cả pháp tu, từ A Hàm sang Bát-nhã cho đến Thiền tông, đều là phản quan. Các hệ thống tu đều lấy việc xem xét, quán chiếu lại mình làm trọng tâm. Không để tâm buông lung chạy theo cảnh, không cho vướng mắc, dính kẹt bên ngoài, đó là phản quan. Như vậy, “biết vọng không theo” là phản quan, đếm hơi thở hoặc theo hơi thở cũng là phản quan, vì nếu hướng ra ngoài thì quên đếm. Tu mà không biết phản quan tự kỷ thì người tu càng ngày càng mất mình, bị ngoại cảnh lôi kéo. Luôn luôn hằng thấy, biết rõ từng tâm niệm. Chạy theo cảnh hay không theo cảnh... đều thấy biết rõ ràng, đó là phản quan. Còn hồi quang là nhớ tánh hằng hữu của mình, không cần thấy chi tiết. Hai câu nói này mới nghe qua thấy như tương tự, nhưng sự thật khác nhau. Phản quan tự kỷ dễ tu hơn, còn hồi quang phản chiếu hơi khó, phải người tu thuần thục lắm mới làm được. Lối tu này dành cho hàng thượng căn, như Lục tổ Huệ Năng hay tổ Lâm Tế... Các ngài đã kiến tánh rồi nên đi đứng nằm ngồi không rời tự tánh, vì vậy các ngài không cần phương tiện. Có khi Lục Tổ thấy chúng ngồi thiền, ngài tới kéo lỗ tai thổi “phù”. Ngài Lâm Tế cũng không thích ngồi thiền. Vậy các ngài tu cái gì? Đó là đang hồi quang phản chiếu. Nơi sáu căn các ngài sáng rỡ mà không phóng chạy ra ngoài, cho nên tổ Lâm Tế nói: Các ngươi tìm cái gì? Người đang nghe phán đây là ai? Ngài chỉ cho chúng ta biết nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình hiện có cái chân thật. Sống được với cái đó tức là đang thiền. Như thế, ai đến trình độ này, ngồi giữa chợ cũng thiền. Nội tâm đã trong sạch, yên lặng hết nên dùng lối hồi quang phản chiếu, đi đứng nằm ngồi biết mọi cảnh bên ngoài mà không dính một điều gì, thấy như mù, nghe như điếc, tự tại vô ngại. Ngược lại, nếu bị dính, bị lôi ra ngoài như cá mắc lưới đang vùng vẫy, càng vùng vẫy càng mắc thêm nữa thì xin phản quan tự kỷ giùm, thấy từng niệm nên không chạy ra ngoài, như vậy dễ hơn. Người xưa sống với hồi quang nên ngồi thiền là dư. Chúng ta bây giờ phóng quang quá, nên bắt ngồi thiền để quán chiếu lại mình, thấy rõ từng phần, bớt đuổi theo bên ngoài, bớt chấp trước. Hiểu rồi mới thấy tại sao chư Tổ có vị tán thán ngồi thiền, có vị không thích ngồi thiền. Khi tu thiết yếu là phải xoay lại mình. Chính ngài Điều Ngự Giác Hoàng cũng ứng dụng phản quan tự kỷ, qua câu nói của Tuệ Trung thượng sĩ. Ở đây chúng ta dùng phản quan nhiều hơn. Chỉ người nào triệt ngộ rồi, nghĩa là đi đứng nằm ngồi không quên mình mới dùng hồi quang được, còn nếu quên mình thì chưa nên sử dụng. Chúng ta phải biết tường tận, để trong sự tu thấy ai ứng dụng được lối nào thì mình liền biết. Không nên mình ngồi thiền giỏi, rồi thấy ai không ngồi thiền liền chê bai, e có khi bị lầm. Nếu người ta sống được hồi quang phản chiếu thì đâu cần ngồi, ở giữa chợ cũng là thiền. Còn mình chưa được vậy mà lạm dụng hành động đó sẽ dễ bị trầm luân đau khổ. Hiểu tường tận thì trên đường tu có hướng đi cụ thể, dù nghe ai nói hoặc chỉ trích gì chúng ta cũng không sợ sệt. Nếu không hiểu, khi mình đang ngồi thiền, nghe nói Lục Tổ thấy người ngồi thiền liền xách lỗ tai thổi, ắt sẽ hoang mang, không biết ngồi thiền là đúng hay như Lục Tổ là đúng? Nếu được như Lục Tổ, nghe giảng kinh Kim Cang liền triệt ngộ thấy được cái chân thật hiện tiền thì làm như ngài được, vì ngồi thiền cũng là dư. Còn mình nghe hoài không ngộ, nên phải ngồi lại cho lóng lặng, lắng sâu, đến phút giây nào đó thức tỉnh, giác ngộ, hoặc phải nhờ đọc kinh, nghe giảng từ từ rồi sẽ thấy. Hôm nay Thầy giản trạch rõ cho toàn chúng biết rõ căn nguyên và ý nghĩa thiết yếu của hai câu nói này. Chỉ hai câu đó thôi, mà là nền tảng của tất cả người tu theo đạo Phật. Thế nên khi chúng ta tu cần phải nắm vững, để trên đường tu không lầm lẫn. Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 3
Phần I - Giáo huấn chư Tăng nội viện
Phần II - Giáo huấn chư Ni nội viện
|
Phần I - Giáo huấn chư Tăng nội viện
Phần II - Giáo huấn chư Ni nội viện
39. Sự khác biệt giữa hồi quang phản chiếu và phản quan tự kỷ