|
Tông Môn Cảnh Huấn 4
12. Thiền viện Hoa Nghiêm (Hoa Kỳ)
Ái là gốc của luân hồi sanh tử Ngày 19/9/ Canh Thìn - 16/10/2000 Hôm nay tôi sẽ nói về đề tài Ái là gốc của luân hồi sanh tử. Đây là điều cần yếu trên đường tu. Mong rằng tất cả Tăng Ni và Phật tử nghe hiểu để lãnh hội và ứng dụng tu hành cho được kết quả tốt đẹp. Người tu theo đạo Phật luôn quyết tâm tìm cho con đường giải thoát sanh tử, tức là giải thoát tất cả khổ đau trong đời này và những đời khác. Đức Phật lúc còn làm thái tử, Ngài từng chứng kiến cảnh già bệnh chết của chúng sanh. Lớp người trước như thế, lớp người sau cũng như thế. Ngài không cam chịu chấp nhận sống trong sự luân hồi sanh tử, nên quyết tâm tìm cho được con đường giải thoát. Sau khi thành đạo, Ngài dùng phương tiện giáo hóa chúng sanh, đưa họ đến đạo giác ngộ giải thoát. Phật bảo ái là nguyên nhân đưa đến luân hồi sanh tử. Trong kinh Viên Giác, Bồ-tát Di Lặc hỏi đức Phật làm sao đoạn được cội gốc luân hồi. Đức Phật chỉ thẳng ái là cội gốc của sanh tử luân hồi, trong đó ái dục làm nhân, ái mạng làm quả. Ai cũng thương quý thân mình, dù nó không khỏe mạnh không sáng suốt đẹp đẽ mấy cũng vẫn thương. Từ đó phát sinh tâm niệm ngã ái và ngã sở, cái gì cũng muốn mình được ưu tiên. Từ tiền của, sắc đẹn cho đến tất cả thụ hưởng đều muốn ưu tiên. Muốn không được thì đau khổ, mọi đau khổ từ ái ngã, ái thân này mà ra. Trong kinh A Hàm kể, một hôm vua Ba-tư-nặc hỏi phu nhân Mạt-lợi, là người được vua yêu quý nhất: - Trên đời này ái khanh yêu ai nhất? Mạt-lợi đáp: - Dĩ nhiên người thiếp yêu nhất đời là bệ hạ. - Trẫm biết ái khanh sẽ nói như thế. Mạt-lợi nói tiếp: - Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ cho phép, thần thiếp sẽ nói khác một chút. Nhà vua đồng ý, bà nói: - Tâu bệ hạ, người thần thiếp yêu nhất chính là thần thiếp. Vua ngạc nhiên hỏi: - Sao ái khanh lại yêu ái khanh nhất? Trẫm không hiểu điều đó. Mạt-lợi thưa: - Tâu bệ hạ, do ái cái ngã này nên thần thiếp mới thương bệ hạ. Vì bệ hạ làm cho thần thiếp hạnh phúc và hưởng tất cả mọi thứ tốt đẹp nhất trên đời. Cho nên nói yêu bệ hạ chứ thực tế chính là yêu thần thiếp. Chân lý ở ngay đó. Người nào đối xử với mình tử tế thì nói người đó dễ thương, người nào đối xử với mình không tốt thì nói người đó dễ ghét. Rõ ràng thương ghét từ ngã ái mà ra. Ý của bà Mạt-lợi quá rõ ràng, nhưng câu chuyện vẫn chưa kết thúc. Vua Ba-tư-nặc bảo: - Trẫm biết điều đó nhưng vẫn chưa hiểu rõ ý của khanh? Mạt-lợi hỏi lại: - Thưa bệ hạ, bệ hạ yêu ai nhất? - Ta yêu ái khanh nhất. Mạt-lợi thưa: - Tâu bệ hạ, thần thiếp mạn phép nêu ra một câu hỏi để bệ hạ thấy rõ. Nếu thần thiếp yêu một người nào khác không phải bệ hạ, lúc đó bệ hạ sẽ xử sự thế nào? - Sao khanh hỏi rắc rối vậy? - Có lẽ bệ hạ sẽ chặt đầu thần thiếp phải không? - À, à... có lẽ vậy. Qua đó chúng ta thấy, nếu mình nói yêu người nào mà không được họ đáp lại thì thành thù mất rồi, điều này chứng tỏ ta yêu mình chứ không phải yêu người. Bởi vậy tất cả tốt xấu, hay dở trên đời đều do chúng ta tạo ra. Tùy cách xử sự của mọi người với nhau mà trở thành tốt hoặc xấu. Có người hung dữ ác độc mà xử sự tốt với mình thì mình khen. Ác độc với ai không biết, miễn tốt với mình là mình chịu. Công lý ở chỗ nào? Lấy gì làm thước đo? Chỉ có cái ngã này làm thước đo tốt xấu trong cuộc đời. Đó là một thực tế. Dù người đó hiền lành lương thiện nhất, ai cũng biết đến nhưng đối xử với mình không tốt thì chắc chắn mình sẽ không quý. Qua đó mới thấy, cái mà chúng ta thương nhất trên đời là bản ngã, còn tất cả những thứ khác đều phụ. Thân này quý nhất nên khi nó mất tự nhiên phải lo tìm cái thứ hai, thứ ba. Cứ vậy mà loay hoay tìm kiếm trong sanh tử không lúc nào dừng. Ai cũng cho thân quý, từ đó mới có phân biệt thương ghét này kia. Nhưng nó thật đáng quý không? Thân này là đất nước gió lửa, mà đất nước gió lửa đâu có gì quý. Với con mắt giác ngộ, đức Phật thấy rõ thân này chỉ là một đãy da chứa toàn đồ hôi thối. Bởi vậy lúc Ngài sắp thành đạo, ma vương biến hiện ra một đám thiếu nữ kiều diễm tới trước múa hát dụ dỗ, khuyên Ngài hãy trở về cung hưởng lạc thú thế gian. Ngài sáng suốt trả lời bằng một câu ngắn gọn: “Các ngươi chỉ là đãy da hôi thối. Đi! Ta không dùng”. Nghe xong, chúng hổ thẹn rút lui. Xét kỹ thân này không có gì quý, nhưng tại sao chúng ta lại thương nó? Cái không đáng quý mà quý là tỉnh hay mê? Điều này hết sức rõ ràng. Thân tứ đại của chúng ta là cái vay mượn tạm bợ, vậy mà chúng ta cứ ngỡ nó thật. Chất cứng trong người là đất, chất ướt là nước, động là gió, ấm là lửa. Hiện giờ chúng ta tồn tại được là nhờ tứ đại tụ họp. Nếu chúng ly tán thì mình cũng tiêu tan không còn gì. Trong kinh Niết Bàn, đức Phật dùng ví dụ rất cụ thể. Như người nuôi bốn con rắn: hổ đất, hổ lửa, hổ nước và hổ mây chung trong một cái giỏ. Chúng luôn luôn chống chọi, cắn xé nhau chẳng khác nào bốn đại trong con người chúng ta. Nước không dung được lửa, lửa không hòa với nước. Nước thịnh, thân bị cảm lạnh. Lửa thịnh, thân bị sốt. Gió nhiều khiến đất rung rinh, nghe ê ẩm thân thể đòi cạo gió. Bốn đại lúc nào cũng chống chọi, thù địch nhau. Ðại này không dung được đại kia, muốn chúng hòa hợp thì phải lo điều hòa suốt ngày này qua ngày khác không biết mệt mỏi. Nếu điều không nổi thì nhờ bác sĩ phụ giúp. Thân này vốn bất an như vậy mà chúng ta cứ ngỡ nó lâu dài chắc thật. Nuôi bốn con rắn thật nhọc nhằn, giả sử ngày nào đó cái giỏ thủng chúng chạy hết, khỏe biết mấy. Nhưng người ta lại tiếp tục chạy kiếm bốn con khác về nuôi. Nuôi cho đã rồi mất, mất lại kiếm, cứ vậy làm hoài thật đáng thương. Người sáng suốt biết đây là bệnh ngu số một. Cái không thật mà lo gìn giữ và kiếm tìm để chịu khổ không có ngày cùng. Đức Phật thương xót mở bày phương tiện giáo hóa giúp chúng sanh dừng nghiệp và dứt nghiệp, vậy mà đâu ai can đảm dám bỏ thân này. Đa số mọi người lúc sửa soạn tắt thở thì rên rỉ, khóc lên khóc xuống chứ mấy người cười được, vì sợ mất thân này phải lo kiếm thân khác. Đó là căn nguyên cho dòng sanh tử tiếp nối không ngừng, trong đó ái ngã là cội gốc. Muốn bớt ái ngã, chúng ta phải thấy đúng như thật về thân tâm. Đừng bị ảo tưởng làm say mê trong điên đảo. Thân tứ đại chỉ là đãy da hôi thối, không nên thương nó, đó là điều thứ nhất. Thứ hai, mang thân này không được sống một cách thoải mái tự tại. Lỗ mũi đang thở, nghĩa là hít không khí từ ngoài vô rồi trả ra. Hít vô là mượn, thở ra là trả. Mượn trả đều đặn liên tục, tới lúc chán không muốn mượn trả nữa là chết. Nếu thân đã thật thì trả ra phải còn nguyên, đằng này trả ra không mượn lại sẽ chết ngay. Cho nên nói thân này không thật. Mang cái thân vay mượn mà nói thật là sai chân lý. Điều cụ thể này đa số chúng ta không nhớ, không biết. Thân đã không thật lại thêm nhớp nhúa, vậy mà cả cuộc đời chúng ta sống đây chỉ lo mượn trả. Mượn tốt trả êm xuôi thì thấy khỏe khoắn vui tươi. Mượn trả trục trặc thì kêu hội Hồng thập tự tới cấp cứu. Như vậy, giá trị sự sống không có gì thật quý. Do chúng ta lầm mê nên mới quý trọng nó. Giả sử người thân trong gia đình chết chừng ba bốn hôm, ai đó kêu mình lại nằm bên cạnh một chút cho có tình, dám không? Nếu thân quý tại sao vừa tắt thở đã coi như đồ bỏ? Người thân nhất còn không dám gần, đừng nói những người xa lạ. Thực tế cái chúng ta tưởng quý lại không có thật, chỉ là ảo tưởng. Thấy hiểu như vậy rồi chúng ta mới không còn mê lầm bám chặt vào thân tạm bợ. Sự sống trên cõi đời này tưởng chừng an vui hạnh phúc nhưng sự thật nó chỉ là vay mượn. Vậy mà mình cứ ngỡ nó đáng quý, từ đó sanh ra bao nhiêu thứ phiền não. Đức Phật thương chúng sanh quá lầm lẫn, nên Ngài chỉ tường tận cho biết gốc của luân hồi chính là ái ngã. Muốn thoát ly luân hồi sanh tử, chúng ta phải dùng con mắt trí tuệ nhìn đúng như thật, thấy đúng như thật. Bớt thương mình rồi, tới chừng bị ai khinh chê mới không tức giận. Đã coi nó là đồ bỏ, ai động tới cũng mặc kệ, không quan trọng. Do ái ngã mà chúng ta có đầy đủ tham sân si. Thấy đúng lẽ thật rồi, tham sân si sẽ giảm. Đó là người sống bằng trí tuệ. Tuy biết thân tạm bợ, nhơ nhớp nhưng chúng ta phải mượn nó đưa mình qua bể khổ. Như người đi ngoài sông biển gặp lúc thuyền chìm, bấy giờ gặp gốc cây mục trôi lững lờ cũng phải bám vào nó. Nó vốn không có giá trị nhưng lúc này rất cần, rất quý. Làm sao tới được bờ rồi mới bỏ gốc cây mục, đó là người có trí biết thương mình. Phật dạy thân này không thật, biết vậy để chúng ta không lầm nhưng phải sáng suốt mượn nó để tới bờ giác ngộ giải thoát. Lợi dụng nó để đi đến chỗ an lành tự tại là khôn ngoan. Nghe nói nó tạm bợ giả dối rồi hủy hoại là dại. Đó là giá trị của sự tu. Thấy rõ thân vô thường, bất tịnh, hư dối mà vẫn duy trì đến ngày nào thức tỉnh, giác ngộ, lên được bờ Niết-bàn mới xả bỏ. Đạo Phật mới nghe dường như bi quan nhưng thực tế rất lạc quan. Vì vậy, Phật cấm không cho tự tử. Trong kinh A Hàm nói, thí như một con trâu mỗi khi bị chủ nhà gác cái ách lên cổ bắt kéo xe hoặc kéo cày, nó rất tức giận. Nó nghĩ rằng chính cái ách này gây cực khổ, cho nên tìm mọi cách quật gãy cái ách. Tưởng đâu làm như vậy sẽ được thảnh hơi, không ngờ chủ nhà sắm cái ách mới chắc chắn hơn. Thế nên chừng nào hết kiếp trâu, nó mới được thảnh thơi. Chúng ta lỡ phải sống trong hoàn cảnh không tốt và nhiều điều bất như ý, đừng vì thế mà đòi tự tử. Chết như vậy không hết khổ, lại còn khổ hơn. Bởi nợ chưa trả xong mà muốn trốn, sẽ bị người ta kéo lưng, hành hạ. Thôi thì khổ mặc nó, ráng mà trả. Trả hết nợ rồi sẽ được thảnh thơi. Hiểu như vậy mới đúng tinh thần đạo Phật. Người không hiểu đạo, cho rằng đạo Phật bi quan chán đời, nhưng đi sâu rồi mới thấy đạo Phật rất lạc quan, yêu đời. Vì vậy chúng ta nên sống trọn vẹn một cuộc đời để yên ổn trả hết nợ, tới chừng ra đi mới an ổn. Đó là ý nghĩa chân thực trong cuộc sống này. Chúng ta đang giữ thân tạm bợ vô thường nhớp nhúa để tu và làm lợi ích cho mọi người. Đó là biết dùng thân đúng ý nghĩa, để tạo thêm phước đức cho mình trong đời này và mai sau. Ngược lại, nếu chỉ biết mượn nó để lo thụ hưởng ăn ngon mặc đẹp che mắt thiên hạ, rốt cuộc cũng đi tới ngày cùng. Lúc bình thường che đậy được, chứ lúc nhắm mắt tắt thở nghiệp sẽ hiện nguyên hình. Cho nên, điều quan trọng là phải có trí tuệ thấy đúng như thật. Người biết dùng thân hữu ích luôn sống trong sự tu hành đạo đức, làm lợi ích cho mọi người. Hiểu như vậy chúng ta nên chọn lựa cách sống xứng đáng, nếu không hiểu cứ loay hoay chạy theo cá tạm bợ uống một đời người. Tu là phải tỉnh, tỉnh thì đừng để trở lại mê. Giả dối biết giả dối, nhớp nhúa biết nhớp nhúa, tạm bợ biết tạm bợ. Biết cái nào ra cái đó một cách rõ ràng, sáng suốt không lầm mê là tinh thần của người tu học theo đạo Phật. Trở lại câu chuyện của vua Ba-tư-nặc và phu nhân Mạt-lợi. Sau khi nghe phu nhân Mạt-lợi nói, nhà vua còn nghi ngờ nên muốn đến chỗ đức Thế Tôn, cầu xin Phật chỉ dạy xem lý của ai đúng. Gặp đức Phật, vua Ba-tư-nặc trình bày lại câu chuyện bàn luận giữa hai người, rồi hỏi đức Phật là đúng hay sai. Đức Phật đáp bằng bài kệ: Tâm ta đi cùng khắp, Tất cả mọi phương trời, Cũng không tìm thấy được, Ai thân hơn tự ngã. Tự ngã đối mọi người, Quá thân thiết như vậy, Vậy ai yêu tự ngã, Chớ hại tự ngã người. Phật nói chúng sanh chạy khắp bầu trời tìm người mình thương hơn tự ngã không có, bởi vì tự ngã là số một. Đây chính là bệnh chung của tất cả chúng sanh, vậy người nào quý tự ngã mình thì thông nên sát phạt, làm khổ tự ngã của người khác. Từ tâm ái ngã chuyển sang tâm từ bi, biết thương mình thì phải nhớ người khác cũng biết thương họ. Sống trên thế gian này nếu tất cả chúng sanh đều ứng dụng đúng lời Phật dạy sẽ bớt khổ rất nhiều. Lâu nay chúng ta mang bệnh ích kỷ trầm trọng, chỉ biết mình mà không biết tới người. Bây giờ học Phật được tỉnh giác, biết thân này tuy không ra gì nhưng cần mượn nó làm lợi ích cho cộng đồng. Vì tôn quý người khác nên không dám xúc phạm khiến người ta đau khổ, đó là tâm từ bi. Nghĩa là từ ái ngã chuyển thành từ bi. Thấy ai ai cũng đáng thương đáng quý, không nên làm phiền lụy cho nhau. Được như vậy thế gian sẽ trở thành Cực Lạc. Phá được cái ích kỷ mê lầm là người biết sống đúng đạo nghĩa chân thật. Ngược lại, nếu sát phạt nhau để giành sung sướng là phi đạo lý. Đây là bài học được đúc kết qua lời dạy của đức Phật khuyên vua Ba-tư-nặc. Người tu theo đạo Phật phải thấy rõ do ái ngã nên khi mất thân này chúng ta lo tìm thân khác. Đây chính là gốc luân hồi sanh tử. Bởi vậy đức Phật dạy: “Nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước bể cả”. Phật không nói một đời mà vô số kiếp sanh tử dồn lại, nước mắt của chúng sanh bằng nước biển cả. Thế nên đức Phật dạy chúng ta trước phải giác ngộ, sau mới tu. Giác ngộ là thấy được đúng như thật về thân này để không còn đắm mê, yêu chiều nó một cách mù quáng. Từ đó mới có thể dễ dàng tiến tới chỗ giải thoát. Còn yêu quý nó hoài, tới chừng nhắm mắt nhất định phải tìm kiếm thân khác để bám chấp. Đạo Phật chủ trương giác ngộ, vì giác ngộ là ngọn đuốc soi đường cho chúng sanh đi tới giải thoát. Người ta cứ ngỡ giác ngộ là khi nào tu được phát sáng, đó là sự lầm lẫn vô cùng. Giác ngộ là ngay trong thân này và cuộc sống này, nên Lục tổ Huệ Năng nói trong bài tụng Vô Tướng: Phật pháp tại thế gian, Bất ly thế gian giác, Ly thế mích Bồ-đề, Kháp tợ tầm thố giác. Dịch Phật pháp tại thế gian, Không lìa thế gian giác. Lìa thế tìm Bồ-đề, Tợ như tìm sừng thỏ. Phật pháp ở ngay nơi thế gian, lẽ thật ở ngay nơị con người và sự vật. Nếu thấy đúng như vậy là giác. Người muốn tìm giác ngộ nơi phương trời nào khác, chẳng khác nào tìm lông rùa sừng thỏ, không bao giờ có. Tu mà tìm giác ngộ trên non trên núi, tưởng giác ngộ kỳ đặc mà không biết giác ngộ thực tế ngay nơi con người mình. Biết thân này giả dối nhơ nhớp là giác ngộ, còn thấy thân mình cao cả sang trọng là người mê. Như vậy, chỉ cần đổi cái nhìn là có thể làm người giác ngộ rồi. Cho nên giác ngộ rất gần rất dễ, không đâu xa. Điều này ai cũng có quyền làm, đừng đợi phải phát hào quang hoặc sáng quắc như đèn pha. Chỉ cần nhìn đúng hiểu đúng lẽ thật là giác ngộ. Như vậy sự giác ngộ thực tế gần gũi vô cùng. Nó không phải cái gì huyền bí siêu nhiên mà thiết thực ngay nơi con người và cuộc sống này. Thấy đạo thấy được lẽ thật. Dù đau bệnh bao nhiêu ngày không cần biết, chỉ cần thở khì ra không hít lại là chết. Thấy đến chỗ tột cùng gọi là thấy chân lý. Chân lý đó là đạo. Đức Phật ngày xưa đi tìm đạo chính là tìm lẽ thật này. Thấy mạng người trong hơi thở dễ hiểu dễ biết, vậy mà người đời thật đáng thương, đầu năm gặp mặt chúc nhau sống chừng trăm năm, xưa các ông vua còn muốn chúc vạn tuế vạn vạn tuế. Nghĩa là sống trong cái tưởng tượng không có lẽ thật. Bên Nhật Bản có một vị thiền sư đặc biệt, Phật tử tới xin một lời chúc tốt lành, ngài chúc cho gia đình ông nội chết, bà nội chết, cha chết, con chết, cháu chết. Nghe ngạc nhiên quá, chúc gì mà lạ đời. Nhưng thiền sư giải thích chúc như vậy là đúng bởi vì mọi người trong gia đình được chết theo thứ tự. Lớn đi trước nhỏ đi sau, quá hạnh phúc rồi. Nếu cha còn sống mà con chết trước mới là bất thường. Lẽ thật sờ sờ đây, chỉ vì chúng ta quen sống bằng ảo tưởng nên không dám nhìn sự thật. Chỉ thích những lời chúc hão huyền mà không thấy được sự thật, đó là người mê. Chân lý không ở phương trời nào xa xôi, ngay nơi cuộc sống và con người chúng ta. Do mình né tránh nên không chịu nhìn, không chịu thấy. Người tu theo đạo Phật phải thấy đúng như thật tất cả sự việc xung quanh. Được như vậy là tỉnh giác, ngược lại là mê lầm. Chúng ta có quyền làm người mê hoặc người giác ngay nơi cuộc đời này, không cần đợi về Tây phương mới giác. Ai muốn giác thì chịu khó nhìn đúng sự thật. Đừng lầm tưởng phải có thần thông kỳ đặc mới siêu tuyệt. Đạo Phật chỉ quý giác ngộ chứ không quý thần thông. Bởi vì đó chỉ là trò chơi, không phải cái chân thật. Chân lý không phải điều gì lạ lùng, chỉ vì lâu nay chúng ta quen vẽ mặt, tô son điểm phấn cho nó. Thành thử tưởng tượng chân lý trên trời trên mây nên không dám nhìn, không dám thấy sự thật ngay nơi cuộc sống này. Ai cũng ưng làm người giác ngộ thì phải sẵn sàng chấp nhận những lẽ thật. Được như vậy phiền não mới tiêu mòn và cuộc sống này càng an lạc hạnh phúc hơn. Người nào can đảm nhìn và sống đúng như thật là giác, sống trong ảo tưởng là mê. Nội dung bài giảng hôm nay tuy ngắn gọn bình thường nhưng rất thiết thực. Mong rằng tất cả Tăng Ni và Phật tử, khéo sống đúng với tinh thần giác ngộ, ngõ hầu đời này hết khổ, đời sau được an lạc. Đó cũng là chỗ mong mỏi trông đợi của tôi. Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 4
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
|
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
12. Thiền viện Hoa Nghiêm (Hoa Kỳ)
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
21. Đạo Phật là đạo của tất cả mọi người (Chùa Phật Quang - Bến Tre)
27. Đạo Phật vì con người, xoáy sâu vào con người (Đạo tràng Trúc Lâm Tuệ Phát)
37. Tại sao Phật tử phải tụng kinh, niệm Phật, trì chú và tọa thiền...