Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 4
18. Chùa Việt Nam (Hoa Kỳ)

Phước tuệ song tu

Năm 2002

Hôm nay, tôi có duyên đến thăm chùa Việt Nam và thuyết pháp cho quý Phật tử nơi đây, tôi rất vui. Đối với chúng tôi, Phật tử Việt Nam đến đâu cũng là người Việt Nam, ở xứ nào cũng có gốc rễ quê nhà, đó là điều đáng mừng. Vì vậy ngôi chùa này được đặt tên chùa Việt Nam. Đề tài tôi giảng hôm nay là Phước tuệ song tu.

Trong kinh hay nói, người tu đủ phước, đủ tuệ như chim đủ hai cánh. Nếu chim mất đi một cánh thì không thể bay được, cũng vậy người tu có tuệ mà thiếu phước hoặc có phước mà thiếu tuệ đều không được, vì vậy phước tuệ phải song tu. Người tu nào đủ hai phần này thì việc tu mới đạt kết quả tốt. Nên nói “phước tuệ lưỡng toàn phương tác Phật”, tức là phước tuệ đầy đủ thì mới có thể thành Phật. Phước từ đâu có, làm sao được phước? Tuệ từ đâu ra và làm sao có tuệ? Trả lời được hai câu hỏi này, tức là thấu suốt được đề tài tôi giảng hôm nay. Đó là điều căn bản trên đường tu hành.

Động cơ để Phật tử làm phước là lòng từ bi, do có tâm từ bi nên thấy ai khổ liền giúp đỡ, thành ra có phước. Phật dạy, muốn tăng trưởng lòng từ bi nên tu hạnh bố thí. Bố thí có chia làm ba phần bố thí tài, bố thí pháp và bố thí vô úy. Ba phần bố thí này phát xuất từ lòng từ bi. Hiện giờ Phật tử thường thực hành tài thí, tức là bố thí của cải vật chất. 

Bố thí tài có hai: một là nội tài, hai là ngoại tài. Người có tiền của thấy kẻ nghèo đói liền chia sớt tiền của cho họ, đó là bố thí ngoại tài. Nếu người nghèo không có tiền của, khi thấy người gặp khổ nạn liền dùng sức mình giúp cho họ bớt khổ nạn, đó là bố thí nội tài. Ví dụ Phật tử đi đường thấy một cây đinh, chúng ta lượm quăng đi để người khác không giẫm lên. Hoặc gặp mấy cụ già qua đường khó khăn, chúng ta dìu qua yên ổn, đó là bố thí nội tài.

Như vậy, ở thế gian này không ai là không bố thí được, chỉ có người thiếu lòng từ bi mới không làm việc bố thí. Trên đường tu, bước đầu phải khởi tâm từ bi. Từ là ban vui, bi là cứu khổ. Đem vui cứu khổ cho người, cho vật, gọi là tâm từ bi. Hành động bố thí bằng nội tài, ngoại tài là những hình ảnh cụ thể làm cho người bớt khổ. Muốn tự thân đầy đủ công đức, trước hết chúng ta phải có tâm từ bi mạnh mẽ. Đó là tâm từ bi ban đầu. 

Bố thí pháp là sao? Giảng pháp như quý Tăng Ni là bố thí pháp, tuy nhiên không hẳn chỉ có quý thầy, quý cô mới bố thí pháp được. Quý thầy giảng dạy cho Phật tử nghe hiểu Phật pháp, ứng dụng tu hành, làm tiêu bớt những đau khổ, đó là bố thí pháp. Khi các Phật tử thấm nhuần đạo lý rồi, gặp bạn hoặc người thân đang đau khổ, liền đem pháp giảng giải cho họ nghe. Họ nghe hiểu thấm rồi không buồn khổ nữa, đó là Phật tử bố thí pháp. 

Như vậy, dù xuất gia hay tại gia, ai khéo tu, khéo ứng dụng pháp đều có thể bố thí pháp được, thế nhưng chư Tăng Ni thì có trách nhiệm lớn lao và chủ yếu hơn. Vì Tăng Ni là những người không bận việc gia đình, tu học dễ dàng, do đó kết quả tu tập cũng tốt, Phật tử nghe Tăng Ni nói dễ tin, dễ hiểu hơn. 

Quý Phật tử tại gia bận việc này, việc nọ, nên thời gian tu ít, nghiên cứu Phật pháp không nhiều, nếu bố thí pháp cho người khác thì họ hơi khó tin hoặc tin ít ít thôi. Trừ người thân của mình gặp hoàn cảnh trắc trở khó khăn, Phật tử dùng Phật pháp an ủi, họ nghe dần dần sẽ thức tỉnh, đó là một vài trường hợp riêng. Đa số Phật tử đều trông cậy vào chư Tăng, chư Ni bố thí pháp. Đem chánh Pháp của Phật dạy như Tứ đế, hoặc lý nhân duyên... giải thích cho Phật tử hiểu, áp dụng thực hành dần dần bớt buồn giảm khổ, sâu nữa thì quán chiếu tu tập giải quyết hết tất cả duyên nghiệp cũ, để được giải thoát sanh tử. Đó là bố thí pháp để cứu khổ chúng sanh.

Cuối cùng là bố thí vô úy, tức là bố thí sự không sợ hãi. Người thế gian thường lo sợ, không sợ cái này cũng sợ cái khác, lúc nào cũng có cái sợ trong lòng. Như có người sợ ma quá tối không dám ngủ một mình, muốn cho người đó hết sợ thì phải dẫn kinh giải thích cho họ hiểu. Phật dạy trong lục đạo luân hồi thì ma ở hàng thấp thứ hai. Thấp nhất là địa ngục, thấp thứ ba là súc sanh. 

Chúng ta là người tức cao hơn ma quỷ, chúng sẽ không dám làm gì mình. Chỉ vì tưởng tượng nên mới sợ, nếu đừng tưởng tượng nữa thì sẽ hết si. Bọn chúng thấp hơn tại sao mình lại sợ chúng, sợ là sợ cái gì cao hơn mình chứ sao lại sợ cái thấp hơn mình? Quỷ đói khát khổ đau phải nhờ loài người cho ăn nó mới bớt khổ, trở ngược lại con người đi sợ ma quỷ, thật là chuyện vô lý! 

Người ta hay nói ma nhát mà không biết ma có nhát thật không? Hồi tôi còn nhỏ, có anh đó lớn hơn tôi năm bảy tuổi, anh hay đi chơi đêm. Nhiều người ở vùng đó nói, ngang khu vườn cạnh đường có ma hay đeo trên cây mù u, xõa tóc xuống. Mọi người đồn nhau như vậy, nên ai đi ngang đó cũng rất sợ hãi. Hôm nọ anh đi chơi một mình về khuya, thấy xa xa phía trước có cái gì lờ mờ đánh đòng đưa đòng đưa, xõa tóc rủ xuống. Anh nghĩ kỳ này mình gặp ma rồi, bèn liều chết cầm cây gậy to xông tới đập cái chát, coi kỹ lại hóa ra là tàu cau. Vỡ lẽ, anh khám phá ra con ma này là ma tàu cau. 

Con người còn nhiều cái sợ lắm, ở đây tôi chỉ nêu một hai sự việc điển hình thôi. Như có kẻ sợ người ta không thương mình, rồi cứ lo nghĩ về điều đó hoài. Trên lý công bằng mà nói, người ta thương mình thì mình thương lại, người ta không thương mình thì mình khỏi thương lại, có gì phải sợ! Vậy mà nhiều người không ngớt lo sợ về điều này. Từ sợ nên đi coi bói, xin xăm... xem người ta có thương mình không. Chuyện quá đơn giản, đâu có gì mà phải khổ như vậy. Thế gian con người tự làm khổ mình một cách vô ích. 

Có một cái sợ chung cho tất cả mọi người, đó là sợ chết. Làm sao để buông được cái sợ chết. Trước hết, chúng ta phải tự đặt câu hỏi, trên đời này có ai khỏi chết không? Cái chết là chung cho tất cả, chỉ kẻ trước người sau thôi. Sự thật hiển nhiên ai cũng phải chịu thì sợ có khỏi được đâu. Nếu sợ mà khỏi chúng ta cũng nên sợ, còn sợ cũng không khỏi, vẫn cứ sợ, đó là dại khờ. Muốn không sợ chết làm sao để đối phó với cái chết? Đó là vấn đề then chốt mà đức Phật ngày xưa đã đi tìm.

Có thân thì phải có chết, đức Phật cũng chết huống là mình. Thế nhưng khi chết, Phật tự tại không sợ sệt, không lo buồn. Chúng ta khi chết tới thì kinh hoàng hoảng hốt, không biết rồi sẽ ra sao. Từ sự hoảng hốt ấy, nên không biết đường nào đi. Cho nên tu là chọn con đường đi. Phật dạy rõ ai giữ tròn năm giới tu Nhân thừa Phật giáo là lên chiếc xe người đi đến cõi người. Tu Thập thiện tức Thiên thừa Phật giáo là lên chiếc xe trời đi tới cõi trời. Tu Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ-tát thừa là đi những cỗ xe Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát đi tới những cảnh giới tương ưng. 

Trong phạm vì bài giảng này, tôi chỉ nói hai cõi là Nhân thừa và Thiên thừa. Quý Phật tử đang tu về Nhân thừa Phật giáo, nếu tu chín chắn kỹ lưỡng thì khi nhắm mắt sẽ trở lại làm người. Tu Thập Thiện thì được sanh lên trời. Trên lý nhân quả, đức Phật đã chỉ dạy rất rõ ràng như vậy, có gì mà sợ. Chiếc xe này cũ hư đổi lại chiếc xe mới tốt hơn, có gì đâu phải buồn, ra đi thảnh thơi tự tại. Như vậy là biết chọn đường đi. Những kẻ lang bang gặp gì làm nấy, phải cũng được quấy cũng được, khi nhắm mắt đi đâu khó định, tùy theo nghiệp nặng nhẹ mà sanh vào các cõi. 

Tuy Phật dạy tu Thập thiện được sanh lên cõi trời, nhưng Ngài không muốn chúng ta lên cõi trời mà nên ở cõi người. Tại sao? Vì lên cõi trời muốn gì được nấy, thỏa thích quá, ăn chơi mãi hết phước tuột xuống trở lại. Lên rồi xuống, lên rồi xuống, rốt cuộc chẳng đi tới đâu. Cõi người có lúc vui, lúc khổ, khổ vui xen lẫn nhau, nhờ thế cảnh tỉnh, đánh thức chúng ta. Khi vui quá lo ăn chơi, đến chừng gặp tai nạn hoặc thất bại gì đó buồn quá mới thức tỉnh. Như vậy có vui, có khổ là cảnh dễ tu nhất. Do đó Phật bảo, phải ngay nơi cõi người mà tỉnh tu, đừng nghĩ lên cõi trời mới tu được. 

Chuẩn bị được lối đi thì chúng ta bớt sợ chết, vì mình có đường rồi. Không biết chuẩn bị lối đi, đến lúc đó bàng hoàng, sợ hãi, rất khổ. Ai biết chuẩn bị cho mình con đường mai sau, đó là người khôn. Người đời cứ ngỡ tu là thiệt thòi, khờ dại nhưng sự thật không phải vậy. Tu là chuẩn bị kỹ càng cho mình một đời sống tốt đẹp trong hiện tại và mai sau. Xét kỹ, ở thế gian này, nếu muốn gì được nấy thì chắc là sống không thọ. Vì muốn ăn món này có món này, muốn ăn món kia có món kia, muốn thụ hưởng tài sắc... đều có hết, riết rồi sanh bệnh. Càng được nhiều càng tiêu giảm sức lực, đâu có lợi ích gì. Đừng nghĩ thỏa mãn tất cả dục lạc thế gian là sống lâu. Người biết hạn chế, biết cần kiệm mới sống thọ. Đó là lẽ thật.

Trong kinh A Hàm Phật dạy, nhìn gương mặt những người sắp chết có thể biết đi đường lành hay đường dữ. Nếu ai sắp chết mặt mày sợ hãi, người sẽ đi đường dữ. Ngược lại, ai sắp chết mà vui cười sẽ đi đường lành. Tại sao? Vì khi sắp chết do nghiệp ác chiêu cảm, những cảnh ác đến khiến người ấy kinh hãi, lo sợ. Hồi trước hại ai, tới giờ sắp chết thấy kẻ kia tới hại lại, thần thức hoảng hốt chạy xuống địa ngục. Nếu người lành, khi gần nhắm mắt do nghiệp lành chiêu cảm thấy bạn bè, thân quyến tới đón chào, vui vẻ, không sợ gì hết nên gương mặt vui tươi. 

Tất cả chúng ta ra đi đều theo nghiệp lành hay dữ mà hiện tướng khổ, tướng vui. Vậy thì dại gì chúng ta không tạo duyên tốt, nghiệp lành để ngày mai ra đi thảnh thơi. Hiện đời dù khôn ngoan, làm ăn giỏi, giàu đến cỡ nào, nhưng đến khi chết thì những thứ ấy cũng không còn. Thở khì ra không hít lại, tất cả đều buông tay không còn gì hết. Lúc đó chỉ có nghiệp lành giúp mình đến cảnh lành mà thôi. 

Người khéo nhận định, khéo suy gẫm sẽ chuẩn bị ngay khi còn sống, tạo duyên tốt cho mình lúc nhắm mắt. Mấy chục năm lo cho thân này, tới cuối cùng ra đi hoàn toàn trắng tay, thật là uổng phí. Chi bằng chúng ta vừa lo cho cuộc sống, vừa chuẩn bị cho cái chết để phúc ra đi được an lành, như vậy có tốt hơn không. Tu hành là chuyện thiết thực chứ không phải chuyện bâng quơ, rỗng không. Người nào khéo tu tới ngày chết không sợ, người không khéo tu cứ nơm nớp sợ chết. 

Như vậy do lòng từ bi, chúng ta tu ba hạnh bố thí: bố thí tài, bố thí pháp và bố thí vô úy. Tùy căn cơ, tùy trường hợp, tùy hoàn cảnh, chúng ta dùng ba thứ ấy bố thí cho mọi người chung quanh. Tu bố thí như thế rất công bằng, giàu nghèo đều có thể làm được hết. Phật tử muốn có phước thì phải bố thí. Do bố thí phước tăng trưởng, phước tăng trưởng lòng từ bi càng tăng trưởng. 

Nên biết, từ bi là nhân tạo các phước lành, cũng là việc làm đưa chúng ta tới giải thoát sanh tử. Ba phần bố thí trên tuy có cứu người, nhưng chưa đưa chúng sanh tới chỗ chấm dứt hoàn toàn khổ đau, chỉ làm sao cứu người thoát khỏi đường mê đến được bờ giác, đó là cách duy nhất cứu chúng sanh thoát ly sanh tử. Trọng tâm của đạo Phật là chỉ ra cho chúng sanh thấy si mê là nguồn gốc của đau khổ. Muốn hết khổ phải bứng tận gốc si mê. Vì si mê nên mới tạo nghiệp, nghiệp này chưa hết tạo tiếp nghiệp khác, cứ thế mà đi trong luân hồi mãi mãi không có ngày cùng. Nếu thức tỉnh dừng tạo nghiệp thì mới có ngày giải thoát sanh tử. 

Phật lấy giác ngộ để độ chúng sanh, làm sao cho mọi người đều tỉnh, đều giác mới hết khổ. Nếu giúp nhau trong sự mê muội, hết khổ này sang khổ khác, không bao giờ hết khổ. Ý nghĩa cứu khổ sâu thẳm nhất là cứu cho mình và tất cả chúng sanh hết si mê. Cho nên người tu phải can đảm, thấy được cội gốc si mê của mình. Chúng ta mê đủ thứ, nào là tiền tài, danh lợi v.v... nhưng cái si mê đó mới chỉ là ngọn ngành thôi, chưa phải gốc. Gốc sâu hơn đó là thấy thân này thật. 

Bởi thấy thân thật nên tham tài, tham sắc… từ thân này thật mới có sân hận, tham lam. Biết thân không thật đó là trí tuệ. Do trí tuệ nên phá được si mê, hết si mê thì hết tham lam, hết tham lam thì hết nóng giận. Con người không định được thời gian sống của mình, chỉ thở ra không hít vào là chết. Vậy mà ai nói mạng sống của mình chỉ trong vòng vài tháng thì lo lắng vô cùng. Bởi ngầm ẩn si mê tham sống nên vừa nghe ai nói chết, liền cảm thấy bị xúc phạm nên nổi nóng. Nghe người nào chúc mình sống muôn năm thì cười, dù biết đó là lời chúc rỗng. Lời nói rỗng nhưng phù hợp với sở thích của mình cũng vui, còn nói thật mà không đúng với sở thích thì giận. Chúng ta tu là phải sáng suốt, có sáng suốt mới buông xả tham, sân. Nếu không sáng suốt thì tham sân mãi mãi vây khốn. 

Như trên đã nói, phước tuệ song tu. Chúng ta lo tu phước song song đó phải lo tu tuệ. Người tu Phật phải có trí tuệ chứ không thể tu một cách mơ màng được. Thế gian thường nói trí thức, vậy trí thức với trí tuệ là một hay khác? Đó là vấn đề quan trọng, phật tử cần phải nắm vững. Nhiều người tưởng trí tuệ giống trí thức, thật ra hai cái khác nhau. Học những kiến thức ngoài đời gọi là trí thức, tức là gom nhặt sự hiểu biết của người này, người kia lại thành sự hiểu biết của mình, vì vậy người có hiểu biết rộng được gọi là người trí thức. Trí tuệ trong nhà Phật thì không như thế. Học Phật là học pháp của Phật, đó là pháp giải thoát sanh tử, pháp chân thật không sanh diệt, muôn đời không dời đổi. Tóm lại, trí thức thuộc phần phân biệt, còn trí tuệ thuộc phần chân thật. 

Trong kinh chia trí tuệ có ba là: văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ. Văn là nghe pháp hay học kinh. Tư là nghe học Phật pháp rồi suy gẫm chín chắn, nhận định đúng mới tin. Tu là áp dụng điều mình đã tin sâu đó ứng dụng tu. Văn, tư, tu, được gọi là Tam tuệ lục. Ba tuệ học này còn trong sanh tử nên nói hữu lậu. Ngoài ra có ba môn do tu mà được, gọi là Tam vô lậu học. Đó là giới, định và tuệ. Do giữ giới kiềm chế không cho tâm buông lung, chao đảo theo ngoại duyên, dần dần tâm được an định. Từ an định phát sinh trí tuệ. Tuệ này là do định sanh, còn tuệ ở trên là do học mà sanh. 

Người thế gian trí thức rộng, suy gẫm và nói ra triết lý nào được nhiều người quý trọng thì xem như người đó tài giỏi. Tuy nhiên các triết lý chỉ ứng dụng được một thời gian thì bị lỗi thời. Vì vậy nhà triết học này đến nhà triết học khác nối nhau ra đời, đổi thay luôn. Con người học suốt đời cũng không hết các triết thuyết bên ngoài. Những triết lý đó với hoàn cảnh ứng xử thích hợp thì đúng, khi qua thời đại khác không còn thích hợp nữa nó sẽ lỗi thời. 

Như ngày xưa ai cũng quý trọng tôn thờ đức Khổng Tử. Triết thuyết thời đó phục vụ chế độ phong kiến, quân xử thần tử, thần bất tử bất trung... tất cả những điều đó hợp với quyền lực của vua, của cha mẹ hoặc của người chồng. Triết thuyết ấy hay trong thời đó, nhưng qua thời này thì khác. Như quan niệm phái nữ phải tam tòng tứ đức, khuê môn bất xuất, bây giờ không còn thích hợp nữa, nhất là ở xứ Mỹ. Phái nữ phải đi làm cả ngày, như vậy là xuất cả ngày chứ không thể bất xuất như xưa được. Điều này hiện tại thấy rất rõ. 

Ngày nay khoa học phát triển quá nhanh, nhất là các lĩnh vực thuộc về công nghệ. Mới ra loại máy vi tính này sử dụng vừa quen, ít tháng sau ra cái mới tốt hơn, vậy là máy trước lỗi thời. Chỉ trong vòng mấy tháng thôi mà đã thành lỗi thời, thế thì con người chạy theo chừng nào mới kịp. Sở học không cùng và luôn thay đổi thì nó không phải là cái miên viễn của mình. 

Giáo pháp Phật thuyết không phải chỉ để giải quyết tạm cho xã hội đương thời, mà là sự thật muôn đời. Vì là sự thật muôn đời nên nghiên cứu pháp Phật càng cao càng sâu thì càng thích thú. Như trong kinh Kim Cang Phật dạy: 

Nhất thiết hữu vi pháp, 

Như mộng, huyễn, bào, ảnh, 

Như lộ diệc như điện,

Ưng tác như thị quán. 

Tất cả pháp có hình tướng, có sanh diệt đều như giấc mơ, như huyễn hóa... Chúng ta thấy cái gì cũng thật, còn Phật thì nói cái gì cũng giả. Thế nên Phật trái với chúng sanh, vì Phật giác còn chúng sanh mê. Con mắt người giác ngộ thấy khác con mắt kẻ mê lầm. Phật thấy tất cả pháp có mặt một giai đoạn rồi biến hoại, tan mất. Cho tới quả địa cầu chúng ta đang ở cũng đủ bốn tướng thành trụ hoại không, chứ không phải còn hoài. Con người và muôn vật tại thế gian ở trong vòng chuyển biến tụ tán, không còn mãi, nên Phật nhìn nó như giấc mộng. Ngược lại, chúng ta khi tụ thấy có thật, khi tán thấy mất thật nên mới khổ.

Trong Bát Nhã Tâm Kinh, Phật dạy khi Bồ-tát Quán Tự Tại soi thấy năm uẩn đều không liền qua hết tất cả khổ nạn. Chúng ta đọc mấy trăm lần rồi mà vẫn chưa hết khổ nạn. Chẳng lẽ lời Phật nó vô hiệu, không có giá trị? Phật dạy Bát-nhã có ba phần là: văn tự Bát-nhã, quán chiếu Bát-nhã và thật tướng Bát-nhã. Chúng ta chỉ mới đọc tụng trên văn tự, tức là mới đi được một phần mà đã tự mãn thì làm sao thấy được giá trị của Bát-nhã. 

Như có người muốn qua sông, lên thuyền ngồi ì đó hoài không chịu chèo, dần dần thuyền mục chìm luôn, không tới đâu hết. Nếu chỉ thỏa mãn ngay “văn tự” mà bỏ “chiếu kiến” thì đâu đến được chỗ “thật tướng”. Văn tự như chiếc thuyền, chúng ta ngồi trên thuyền muốn qua bờ bên kia thì phải lay tay chèo là quán chiếu, chèo tới bờ bên kia là giác ngộ tức thật tướng. 

Nhiều người nói tu Phật không hiệu nghiệm, không thực hành đúng thì làm sao có hiệu nghiệm? Quán chiếu là quán xét thấy thân mình không thật những người chung quanh cũng không thật còn đó mất đó... Quán xét tường tận thấy rõ thân này không thật rồi, có ai chửi mắng hoặc giành phần hơn thua mình cũng không giận. Vì thân đã không thật thì lời nói có thật đâu mà giận. Thế là tất cả buồn thương giận ghét êm ru, nhẹ nhàng, vậy là qua hết khổ nạn rồi. 

Người tu Phật hiện nay đa số có bệnh tự mãn, cho tụng kinh giỏi là đủ. Nếu tụng kinh giỏi mà không bước sang giai đoạn thứ hai, dùng trí tuệ soi chiếu làm sao thấy đúng như thật. Tu như thế không thể nào qua được khổ nạn. Lời Phật nói trong kinh là lời vàng, lời chân thật đúng đắn, nếu chúng ta không sử dụng hết sẽ biến thành lời vô hiệu. Lỗi đó là tại mình tu không tới nơi. 

Phật nói tột lẽ thật nhưng vì cái nhìn, cái hiểu của chúng ta còn nông cạn, cố chấp thân thật, cảnh thật nên thấy pháp Phật nói khó hiểu. Những thứ mình vui thích say mê thì Phật nói là gốc của đau khổ. Bởi mình muốn thân này thật còn mãi nên có ai khen đẹp, sống lâu thì thích. Nghe những điều trái lại với mong muốn của mình thì không thích. 

Trí tuệ của tam vô lậu học là trí tuệ phát xuất từ thiền định. Hành giả buông hết mọi nghĩ suy tâm mới an định, tâm an định trí tuệ phát sinh. Đó là trí tuệ giải thoát, không còn bị trói buộc nữa. Khi đức Phật ngồi thiền dưới cội bồ-đề, Ngài Không học với ai, nhưng tâm an định tới chỗ sâu thẳm bỗng Ngài sáng lên. Từ trí tuệ bừng sáng ấy Ngài chứng được Tam minh.

Trong kinh nói, mỗi người chúng ta đều sẵn có trí vô sư mà không dùng đến, để tâm loạn tưởng phủ che. Dẹp hết tâm loạn tưởng thì trí vô sư xuất hiện. Trí vô sư còn gọi là trí căn bản, trí tự nhiên. Trí này tất cả chúng ta đầy đủ không ai thiếu cả, nên Phật nói “nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”, tức là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Tuy có tánh Phật, nhưng bị vô minh vọng động che khuất nên không phát hiện được, thành ra không sáng suốt. Người tu sau khi chuyển được nghiệp, dẹp hết những vọng tưởng của mình, lúc ấy trí vô sư mới hiện. Trí vô sư là trí chân thật cứu cánh, không phải trí tầm thường như trí thức của thế gian. 

Người tu thiền cốt định tâm lăng xăng nhớ nghỉ phải quấy, hơn thua, tốt xấu... tất cả vọng động lặng xuống hết, tâm được an định thì trí vô sư hiện ra. Chúng ta bị luân hồi sanh tử là do tâm loạn tưởng điên đảo. Bởi vì có nghĩ thì có thương có ghét, có buồn có giận... đó là tạo nghiệp đi trong luân hồi. Bây giờ dừng, buông hết những thứ đó để tâm yên tĩnh thì sẽ định. Từ định phát tuệ, có trí tuệ sáng suốt thì sẽ không tạo nghiệp đi trong luân hồi nữa. Ngang đó chấm dứt sanh tử, giải thoát an vui. 

Phật nói từ bi và trí tuệ là gốc của sự tu hành. Có người cho rằng, nếu thấy mình giả, người giả thì khi gặp kẻ khổ mình đâu thể thương, như vậy là tiêu cực! Nhận định như thế không đúng. Do thấy mình giả, người giả nên mình càng thương chúng sanh nhiều hơn. Vì họ không biết giả nên giành giật hơn thua khổ sở, mình là người đã thấy biết rõ rồi thì phải thương cứu vớt họ. Trong kinh nói: “Phật thương chúng sanh như mẹ thương con”, thương vì có của báu mà không biết dùng, phải lận đận lao đao chìm nổi trong sanh tử. 

Thấy người đói rách cùng khổ chúng ta thương, đây chỉ là thương những nỗi khổ nho nhỏ thôi. Còn cái khổ muôn đời là si mê, không biết lối đi mới quan trọng thì lại không thương. Chúng ta là người tỉnh mà không nhắc nhở để đánh thức họ, đó là thiếu sót lớn. Vì vậy người tu chân chánh trước cần phải giác ngộ, sau mới đủ điều kiện đưa mình và mọi người ra khỏi khổ đau. Đó là đủ trí tuệ và từ bi. 

Tóm lại, từ bi có hai chặng. Chặng thứ nhất là thương người trong hoàn cảnh thiếu thốn, đói rét... giúp đỡ cho họ qua cơn hoạn nạn, đó là từ bi cấp thấp. Chặng thứ hai là trước mình tỉnh giác, rồi đem sự tỉnh giác ấy đánh thức nhắc nhở cho người hết mê lầm. Đó mới là từ bi cứu cánh. Đạo Phật nhắm tới cứu mê lầm cho chúng sanh, coi đó là trọng tâm. Nên đối với các việc từ thiện, cứu người đói khát... xem đó chỉ là phương tiện, tùy duyên làm được bao nhiêu tốt bấy nhiêu, vì mang tính cách tạm thời, không giải quyết tận gốc rễ khổ đau của chúng sanh. 

Quý vị nghe giảng thấy dễ hiểu nhưng hành lại khó, song không lẽ vì khó chúng ta bỏ qua. Khó cũng phải cố gắng làm, vì đó là cứu mình ra khỏi mê lầm. Một việc làm đem lại hạnh phúc muôn đời cho bản thân, chúng ta bỏ qua sao được. Vì vậy quý vị nghe kỹ, hiểu rõ rồi mong tất cả cố gắng thực hiện, được bao nhiêu tốt bấy nhiêu, nhớ là đừng quên. Được vậy sự tu mới tiến, mới thấy giá trị chân thật của đạo Phật. 

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 4
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
Danh sách chương: