Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 4
27. Đạo Phật vì con người, xoáy sâu vào con người (Đạo tràng Trúc Lâm Tuệ Phát)

Đề tài buổi nói chuyện hôm nay mang tên Đạo Phật vì con người, xoáy sâu vào con người. Đây là vấn đề quan trọng mà tất cả những người con Phật cần phải hiểu rõ. 

Đọc trong sử ai cũng biết thái tử Tất-đạt-đa đi tu vì chấn động khi chứng kiến cảnh khổ sanh, già, bệnh, chết, ngoài thế gian. Biết chắc người kia già bệnh chết, ta cũng già bệnh chết cho nên Ngài luôn băn khoăn phải làm sao tìm cho ra con đường giải thoát sanh tử. Đó chính là lý do đức Phật xuất gia. 

Trải qua 5 năm tầm học với các vị đạo sĩ thời đó, cộng với 6 năm tu khổ hạnh, nhưng rốt cuộc Ngài vẫn chưa giải quyết được vấn đề thắc mắc trong lòng. Cuối cùng từ giã các thầy đạo sĩ, bỏ lối tu khổ hạnh ép xác, Ngài đi tới cội bồ-đề phát lời thệ rằng: “Nếu không đạt đạo, dù thịt nát xương tan, ta quyết không rời khỏi chỗ này”. Với quyết tâm cao tột, trong 49 ngày đêm Ngài chuyên tâm miên mật thiền định và chứng được đạo quả. Từ đó đức Phật thấy rõ nguyên nhân lưu chuyển sanh tử chúng sanh và rõ được con đường đưa tới giải thoát sanh tử. Sau khi thành đạo, Ngài thương xót chúng sanh lầm mê, trôi lăn trong biển khổ sanh tử nên bắt đầu khởi sự hoằng hóa. 

Trọng tâm thiết yếu trong các bài pháp đức Phật thuyết đều xoáy sâu vào con người. Đây là điểm rất quan trọng trong đạo Phật. Chúng sanh trăm người như một, ai cũng thấy thân mình thật, nhưng với con mắt giác ngộ, đức Phật thấy nó tạm bợ hư giả. Cho nên hệ Bát Nhã, mà căn bản là kinh Kim Cang, đã nói tường tận sự thật về con người. Mê lầm trước nhất của chúng sanh là thường thấy thân này thật, từ đó phát sinh phiền não tham sân si, trong đó si là gốc. Chấp thân thật nên muốn được thụ hưởng tất cả những gì thế gian cho là quan trọng. Nếu bị ai đó ngăn trở chặn đón liền nổi sân chống cự lại, thành thử si tham sân nối tiếp nhau không ngừng. 

Với sự tiến bộ của khoa học ngày nay, con người được hưởng đầy đủ các phương tiện hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của nhân loại ngày càng nâng cao. Tuy nhiên chúng ta vẫn không khỏi lo lắng, sợ hãi ngày mai không biết khoa học sẽ đưa mình tới chỗ an lành hay tiêu diệt? Nếu người giữ các khí giới nguy hiểm mà đạo đức lương thiện thì nhân loại khỏi lo. Nếu họ còn tham sân si, chắc chắn đây là điều đáng sợ. 

Sở dĩ ngày nay trên thế giới vẫn còn chiến tranh giành giật vì người ta thấy mọi thứ xung quanh thật. Ai cũng muốn xứ sở mình được hưởng sung sướng đầy đủ vật chất, nên kéo qua xâm lấn những chỗ tốt hơn. Dù thắng hay thua rốt cuộc cũng đều đổ máu thôi. Do si mê đưa đến tham lam, sân hận, thù hằn gây đau khổ cho nhân loại. Đó là mê lầm về thân. 

Kế đến mê lầm về tâm. Hầu hết. mọi người đều cho suy nghĩ buồn thương, giận ghét là tâm mình và luôn chấp nó đúng, ai phản bác lại là sai. Đây là nguyên nhân gây ra biết bao đau khổ cho con người. Gần thì gia đình, vợ chồng, anh em; xa thì nhóm này nhóm kia, nước này nước nọ. Đặt niềm tin vào một đối tượng nào đó chấp làm lý tưởng, mê lầm tội lỗi từ đây phát sinh. Xét cho cùng lý tưởng cũng không thật. Chấp thân thì giành nhau về vật chất, chấp tâm thì giành nhau về lẽ phải, đó là hai nỗi khổ lớn của nhân loại. 

Ngày xưa tổ tiên chúng ta theo Nho giáo coi đức Khổng Tử là bậc thánh, lý tưởng của ngài xây dựng một thế giới phong kiến. Bây giờ chuyển qua thời đại dân chủ, các điều hay lẽ phải trước đây không còn thích hợp nữa. Những gì ngày trước coi là chân lý thánh thiện, bây giờ đều lạc hậu, các pháp luôn sanh diệt đổi thay, trước sau không bao giờ nguyên vẹn. Chừng nào chúng sanh trên thế gian không còn giành giật nhau về vật chất, không tranh đấu về lý tưởng thì nhân loại an lạc. 

Căn cứ trên lý nhân duyên chúng ta biết vạn vật có hợp ắt có tan, đủ duyên tụ hết duyên tán, không pháp nào có thể tồn tại mãi. Từ thân cho đến quả địa cầu đều duyên hợp không thật. Quá trình sanh diệt nơi con người và các loài động vật trải qua bốn giai đoạn: sanh, già, bệnh, chết; quả địa cầu trải qua bốn giai đoạn: thành, trụ, hoại, không. Tất cả các pháp có sanh ắt có diệt, chỉ khác nhau ở chỗ chậm hay mau thôi. So với quả địa cầu, con người chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần mà nó vẫn chưa tan, vì vậy mình lầm tưởng nó thật. Với con mắt giác ngộ, đức Phật thấy tường tận tất cả các pháp đều duyên hợp, hư giả, không thật. 

Thân này do cha mẹ sanh ra, không phải trên trời rớt xuống hay dưới đất chui lên. Nó được nuôi lớn do tứ đại bên trong và vay mượn tứ đại bên ngoài. Dù mạnh khỏe đi lại tự do nhưng cũng phải đến ngày tan rã, đó là quy luật muôn đời không thay đổi. Ngày xưa mấy ông tiên lên núi luyện thuốc trường sinh, bây giờ kiếm một ông không ra. Vậy mà người thế gian nghe nói tu tiên sống dai, được trường sinh thì mừng lắm, còn nói vô sanh họ không chịu. 

Đạo Phật dạy tu đến rốt ráo là vô sanh, tức giải thoát sanh tử. Đó là cái nhìn thấu đáo tường tận của đức Phật. Mỗi chúng ta nếu hiểu và sống đúng như lời Phật dạy, không còn giành giật chấp thủ, khả dĩ cuộc sống an vui thanh bình hơn. Do thấy thân không thật nên phá hết si mê, tham lam, sân hận. Biết các pháp hư giả là trí tuệ, chỉ cần thấy được như thế là chúng ta đã vượt qua biết bao khổ rồi. Trong kinh Kim Cang Phật dạy, muốn đến nơi đến chốn phải phá bốn tướng: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Thấy mình, người, chúng sanh và thọ mạng không thật, duyên hợp tạm có. Được vậy là bước tiến khá lớn trên đường tu. 

Chỉ có trí tuệ mới phá tan lầm chấp và giải quyết mọi chuyện một cách an ổn tốt đẹp nhất. Biết rõ thân không thật, lời chửi mắng không thật thì khỏi cần nhẫn sự sân giận tự nhiên hết. Người nào còn ôm giữ si mê mà muốn vượt qua khó khăn trong đối đãi là điều không thể thực hiện. Do thấy lời nói, hành động, việc gì cũng thật hết nên không bao giờ được toại nguyện như ý. 

Hằng đêm chúng ta thường tụng kinh Bát Nhã. “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”, soi thấy năm uẩn đều không thật thì qua hết tất cả khổ nạn. Sắc uẩn thuộc về thân; thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn thuộc về tâm. Chỉ một câu kinh nếu chịu khó nghiền ngẫm, ứng dụng vào cuộc sống là dứt khổ ngay. Siêng tụng đọc thuộc lòng mà không thực hành thì không thể nào hết khổ được. 

Trên đường tu, nếu chúng ta hiểu rõ ý nghĩa lời phật dạy sẽ thấy được lẽ thật. Tôi năm nay sắp 80 tuổi, nhìn lại bạn bè kẻ trước người sau đi gần hết, biết rằng mình đang ở đây chứ mai mốt cũng không còn. Đức Phật là bậc giác ngộ, Ngài đã chỉ bày tường tận chân lý cho tất cả chúng sanh. Chúng ta phát tâm tu theo Phật thì không chấp nhận làm kẻ mê muội hoài. Tu phải giác, dù chưa giác tột như Phật, nhưng ít ra đối với thân năm uẩn biết nó không thật và không chấp trước. Nhờ vậy cuộc sống không bị trói buộc, tâm nhẹ nhàng thảnh thơi.

Kinh Bát Nhã dạy chúng ta quán thân tâm đều không thật, còn Thiền tông nhìn thẳng vào tâm. Thấy vọng tưởng lăng xăng biết nó không thật, buông xả. Thân tuy nặng nề mấy chục ký nhưng bị tâm điều hành, thành thử không quán thân mà quán tâm. Người tu thiền nhắm thẳng đầu mối chủ chốt để phá, những râu ria theo đó tự rã. Ngồi thiền đem hết tâm tư nhìn lại niệm hư dối, biết rõ nó sanh diệt ra sao, thế nào. Tâm suy nghĩ, tính toán giả đối là cái bị biết, cần phải bỏ; còn cái “biết” biết tâm đang vọng tưởng là cái chân thật thường hằng trong mỗi chúng ta. Nhận và sống được với nó là việc chính yếu của hành giả. 

Do mê lầm chấp vọng tưởng cho là lý tưởng, từ đó phát sinh vô số đau khổ. Người tu phải biết vọng tưởng chỉ là bóng dáng của sáu trần rơi rớt trong tâm thức, đừng mê muội chạy theo. Nó lăng xăng chạy nhảy như những trò đùa trên sân khấu, không có gì thật là mình, cái biết được vọng tưởng, mới là chân thật không sanh diệt. Đây là ý nghĩa thâm trầm trong sự tu hành, phải đi sâu vào nội tâm và có công phu lắm mới thấu hiểu, người tu sơ sài chưa thể nhận ra. 

Phật dạy dùng trí tuệ Bát-nhã thấy tâm hư dối không thật để phá hết si mê. Trí tuệ đó là hiện tiền không vắng thiếu, chỉ vì mình chạy theo vọng tưởng lăng xăng nên bỏ quên nó. Cũng như con trâu hoang tuy chạy tứ tung, nhưng chú mục đồng biết cách nhất định sẽ điều được. Mười bức tranh chăn trâu trong nhà thiền là minh họa cho tiến trình tu hành từ sơ cơ đến viên mãn, phù hợp với lối tu chúng ta đang thực hành. 

Trong công phu, biết mình có cái biết vọng là tiến sâu được một phần, tuy nhiên không nên hài lòng ngang đó. Khi vọng hết, nếu cứ khởi biết vọng hoài là bệnh. Cũng như trâu hoang mới phải chăn, nếu nó hết hoang rồi thì chăn làm chi? Cho nên trí Bát-nhã chỉ dùng khi còn mê lầm. Nhiều người thắc mắc sau khi biết vọng rồi, phải làm sao với cái biết đó? Chỉ người chưa nhận được cái “biết” mới hỏi như vậy, nếu đã nhận rồi thì không bao giờ có câu hỏi ấy. Đã là tánh biết không hình không tướng, mà đòi làm sao với nó thì rõ ràng là không biết gì hết. Cho nên chuyện tu hành không đơn giản chút nào. 

Một số người cho rằng tu thiền ngồi ngó xuống là bi quan tiêu cực, trong khi ở ngoài đời một giờ người ta làm ra biết bao nhiêu tiền. Thiền sinh ngồi giờ này qua giờ kia chỉ ngó xuống có lợi gì? Người thế gian chạy lo kiếm tiền, còn chúng ta quay lại tìm viên ngọc của chính mình. Khi chết vàng bạc không thể đem theo, chỉ có viên ngọc sẵn có là không mất. Nhưng vì lâu nay mình bỏ quên, bây giờ nhận lại để không còn trầm luân khổ sở nữa. Tu mà không biết đường hướng và mục đích rõ ràng, nghe người ta phê phán liền lo lắng băn khoăn. 

Thiền sư Thần Hội nói: “Ví như gương sáng nếu không đối hình tượng trọn không thấy hình tượng, nếu thấy không vật mới là thấy gương thật”. Khi đưa chiếc gương lên, thông thường chúng ta chỉ thấy bóng người bóng vật mà quên mất mặt gương. Khi không có hình bóng phản chiếu trong gương mới thấy rõ ràng mặt gương sáng trong. Bóng từ gương ra là cái không thật, mặt gương sáng trọn mới là thật.

Cũng vậy, tâm thể chúng ta vốn tròn sáng nhưng vừa dấy niệm liền bị che khuất. Chạy theo niệm là quên tâm thể, muốn cho tâm thể hiện tròn đầy đủ thì đừng theo bóng. Ngồi thiền biết vọng không theo là phương tiện giúp tâm dừng lặng lăng xăng, được thanh tịnh. Dù có bóng hiện hay không bóng mặt gương vẫn còn đó. Hình ảnh này dụ cho tánh giác tròn sáng bất sanh bất diệt, dù mê hay giác nó luôn luôn có. 

Đức Phật là bậc giác ngộ do Ngài không lần nhận giữa cái giả và cái thật. Chúng ta thấy giả ngỡ là thật thành ra si mê chấp thân chấp tâm, tạo đủ thứ nghiệp khiến phải trầm luân muôn kiếp trong luân hồi sanh tử. 

Trong bài sám hối, đoạn cuối viết: 

Tánh tội vốn không, do tâm tạo, 

Tâm nếu diệt rồi, tội sạch trong. 

Tội trong tâm diệt, cả đều không, 

Thế ấy mới là chân sám hối. 

Tội từ tâm sanh diệt, do si mê chấp tâm nghĩ tưởng lăng xăng là thật, đây là gốc tạo nghiệp. Chừng nào lặng được tâm lăng xăng, tội sẽ theo đây hết. Cả hai thứ tội và tâm đều lặng mới thật là sám hối. Nhiều người không hiểu chỗ này, mỗi lần lỡ gây tạo tội lỗi, liền lên điện Phật sám hối. Tâm tham lam chưa hết, mai mốt tiếp tục tái phạm rồi lại sám hối như vậy, thì chừng nào hết tội? 

Tâm lăng xăng là nhân tạo nghiệp dẫn đi trong luân hồi sanh tử, chừng nào nó lặng thì giải thoát sanh tử. Rõ ràng không sai chạy. Giống như chiếc gương khi không còn bóng hiện, nó sáng trong đầy đủ, không bị che khuất. Tu là cốt phăng tìm cho ra cái chân thật luôn hiện hữu nơi mình. Nó là cái biết rõ ràng hiển thị qua sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Chỉ vì chúng ta lầm nhận suy nghĩ lăng xăng nối tiếp không ngừng làm mình, nên không sống được với nó. Vừa thấy hoa biết hoa, ngay đó đủ rồi. Nếu thêm niệm phân biệt đẹp xấu đâm ra ưa thích, hoặc chán ghét là nhân tạo nghiệp. 

Người tu hành chân chánh mang lại cho nhân loại tình thương yêu rộng khắp. Những ai thực sự giác ngộ mới có lòng từ bi chân thật, nếu chưa giác ngộ chỉ là từ bi gượng gạo. Giúp người nghèo thiếu cơm gạo ăn qua ngày, lo áo quần lúc thiếu thốn rét mướt... Tất cả những hình thức từ thiện chỉ mang tính chất tạm thời, chưa dạy họ nhận được cái chân thật, nên tiếp tục tạo nghiệp đi trong sanh tử không ngừng. Giá trị siêu thoát của đạo Phật nằm ở chỗ 

tự cứu đời mình và cứu chúng sanh ra khỏi trầm luân sanh tử. 

Nhận được cái thật sẵn có nơi mình thì không còn lệ thuộc một đấng nào khác bên ngoài. Đức Phật từng tuyên bố: “Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành”. Mỗi chúng sanh đều có quyền bình đẳng nhận và sống được với tánh giác bất sanh bất diệt của mình. Đó là chỗ cứu cánh chúng ta cần phải trở về. Điều này xác chứng ý nghĩa “đạo Phật xoáy sâu vào con người”. Biết trở về với con người chân thật là không mê lầm chấp thân tâm giả cho là thật, sống hẳn với cái thật. 

Mục đích tu cao thượng như vậy, chứ không phải tu để đời sau hưởng phước báu nhân thiên. Muốn giải thoát, trước phải giác ngộ thấy đúng như thật về thân tạm bợ và tâm lăng xăng. Trên đường tu, chúng ta đi từng bước vững vàng khả dĩ kết quả chắc chắn và tốt đẹp. Điều này thật quá tầm hiểu biết của người thế gian, nên sau khi thành đạo đức Phật dùng nhiều phương tiện giáo hóa chứ không nói thẳng chỗ chân thật. Khi đúng cơ duyên Ngài mới nêu bày, ai nhận hiểu được thì thành tựu con đường giác ngộ giải thoát. 

Khi tu chúng ta phải làm sao giải quyết những mê lầm, sống với tinh thần giác ngộ thực sự, mới mong giải thoát sanh tử. Người chưa sống được với chân thật mà cầu giải thoát là việc khó. Đó cũng chính là lý do tại sao tôi phải nghỉ giảng dạy, để dành thời giờ chuyên tâm tu tập. Tôi tự nhận thấy việc mình làm chưa xong nên ngang đây không dám hài lòng. Vì vậy tôi quyết định năm tới phải nghỉ các Phật sự, ráng tu cho xứng đáng, để củng cố thêm niềm tin cho Tăng Ni và Phật tử. 

Đức Phật Thích Ca thị hiện nơi cõi Ta-bà vì thương xót chúng sanh, muốn cứu chúng sanh ra khỏi trầm luân sanh tử. Tuy nhiên sau khi thành đạo, Ngài không nói pháp liền vì biết chắc chúng sanh chưa thể nhận hiểu điều Ngài muốn nói. Do đó chư thiên cầu thỉnh Phật tùy căn cơ chúng sanh mà phương tiện nói pháp yếu. Kể từ đây giáo pháp của Phật lần lần được tuyên thuyết. Chúng sanh tùy duyên tùy nghiệp có được những sở chứng khác nhau. 

Trong các bộ kinh A Hàm, Phật dạy cách tu chứng từ Sơ thiền đến Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, rồi Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Từ Tứ thiền qua Tứ không mới tới Diệt thọ tưởng định. Thọ là cảm giác, tưởng là tâm tưởng, sạch hết hai thứ đó sẽ chứng A-la-hán. Các vị A-la-hán đạt được quả vị Vô sanh, ngang đây cho là đủ, không muốn làm gì thêm.

Thiền tông dạy, xong phần mình rồi phải ứng thân hóa độ chúng sanh mới tròn đủ tâm nguyện tự giác giác tha, vì không giác tha thì chưa đủ tư cách làm Phật. Điều này rất quan trọng, chúng ta phải hiểu cho tường tận. Nếu giác ngộ rồi nằm ì nơi Niết-bàn tịnh lạc, Phật quở là “trầm không trệ tịch”. Chủ trương của đạo Phật nhắm tới chỗ tự mình giác ngộ lại giác ngộ cho người, công đức tròn đủ mới thành Phật. 

Tóm lại, mục đích của đạo Phật nhằm đưa chúng sanh tới chỗ giải thoát. Chúng sanh sẵn có cái không sanh diệt mà bỏ quên, bây giờ phải dẹp sạch vọng tưởng suy nghĩ lăng xăng thì nó mới hiện tiền. Mong tất cả Tăng Ni cùng Phật tử luôn cố gắng tinh tấn, ứng dụng và thực hành lời Phật dạy để thoát khỏi nỗi khổ trầm luân sanh tử từ bao đời.

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 4
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
Danh sách chương: