Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 4
22. Ý nghĩa Phước Hậu (Chùa Phước Hậu - Vĩnh Long)

Hôm nay, chúng tôi về thăm Tổ đình Phước Hậu, đồng thời cũng thăm chư Tăng Ni và quý Phật tử. Về đây, tôi nhớ tới những bậc tiền bối đã gầy dựng nơi này, đã truyền bá chánh pháp và nuôi dưỡng Tăng Ni tu hành. Cho nên, tôi sẽ nói về hai chữ “phước hậu, để tất cả quý vị hiểu rõ lý do người xưa đặt tên chùa là Phước Hậu. 

Chúng ta thường nghe nói chữ “phước” chứ ít nghe nói “phước hậu”. Nhiều người lầm hiểu chữ “hậu” trong tiếng Hán có nghĩa là sau, nên hiểu “phước hậu” là phước sau. Thật ra “hậu” còn có nghĩa sâu dày, cho nên chữ “phước hậu” tức là phước sâu dày, bền bỉ.

Khi thấy ai nghèo túng, khó khăn chúng ta giúp đỡ, đó chỉ là phước mỏng thôi. Người cư sĩ có điều kiện cũng có thể xây dựng chùa chiền, nhưng cũng chưa phải phước hậu. Tại sao? Bởi vì không phải chùa nào cũng có Tăng chúng tu hành và hướng dẫn Phật tử cùng tu. Một ngôi chùa xây dựng trăm năm rồi cũng đến lúc suy mòn, Phật tử tụ họp đông đảo đến bao nhiêu cũng có khi tan rã. Nên nói, chưa phải phước hậu. 

Chư Tổ đặt tên Phước Hậu có hai ý. Một là tạo dựng cơ sở cho Phật tử đến chiêm bái và học hỏi phật pháp. Hai là nuôi dưỡng và đào tạo Tăng Ni để làm lợi ích cho chúng sanh. Các ngài mong mỏi đào tạo được nhiều nhân tài, xây dựng nền móng Phật pháp trên mảnh đất quê hương này. Chùa là nơi chư Tăng Ni học hiểu Phật pháp, cũng là nơi quý Phật tử nương theo tu hành. Đó là ý nghĩa phước tốt đẹp, bền bỉ. 

Chùa Phước Hậu có sự truyền thừa từ vị Tổ đầu tiên liên tục cho đến ngày nay, đó là nhờ có Tăng Ni, Phật tử hiểu đạo và hướng dẫn cho những thế hệ kế tiếp. Do vậy, ngôi chùa vẫn giữ được sự hưng thịnh, không bị hoang phế. Sau này, nếu tôi không còn thì đồ đệ của tôi sẽ tiếp nối công việc này. Cho nên, chúng ta học đạo tu hành, đầu tiên kính trọng ân đức của người đi trước, rồi sau phải tiếp nối, kế thừa những việc làm của các ngài. Được thư vậy mới xứng đáng là đệ tử Phật. 

Người con Phật phải lập hạnh nguyện hoằng dương chánh pháp, biết tự lợi lợi tha, đem lại lợi lạc cho nhân sinh, chứ không phải tu một mình trong am cốc. Đó là thái độ tiêu cực. Vì vậy, Tăng Ni phải có ý chí mạnh mẽ, chịu khó học hỏi, ứng dụng tu tập và giáo hóa chúng sanh. Quý Phật tử đến chùa cùng nhau tu tập, tạo thành một tập thể hòa hợp. Khi chùa hư, có những căn nhà bị dột sập thì quý vị hỗ trợ để chư Tăng xây dựng lại trang nghiêm. Như vậy là quý vị vâng theo lời Phật dạy. Tăng Ni chuyên tu học để giáo hóa Phật tử, cư sĩ giúp đỡ phương tiện tài chính để xây dựng gìn giữ ngôi Tam bảo, đó là phước hậu lâu dài bền bỉ. Tăng Ni và Phật tử cùng chung tay chăm lo xây dựng thì ngôi Tổ đình mới miên viễn, chánh pháp được duy trì lâu dài và truyền bá sâu rộng. Nhờ đó, Phật tử địa phương và các vùng lân cận chung hưởng nhiều phúc lợi. Ý nghĩa phước hậu là như vậy.

Phật tử ở đây có phúc duyên lớn mới được tu tập tại ngôi chùa Phước Hậu, là nơi các vị tổ đức hạnh đã gầy dựng và các thế hệ Tăng Ni tiếp nối đến ngày nay. Quý vị đừng nghĩ chùa ở gần rồi muốn đi lúc nào cũng được. Siêng thì đi, lười thì thôi, như vậy không phải là Phật tử chân chánh. Phật tử phải biết nuôi dưỡng, phát triển những thói quen tốt, bỏ dần những thói quen xấu. Thói quen tốt là luôn nhớ Phật, nhớ Pháp, nhớ Tăng. Phật tử tại gia phải biết giữ gìn năm giới: 

1. Không sát sanh.

2. Không trộm cắp.

3. Không tà dâm.

4. Không nói dối.

5. Không uống rượu. 

Đối với giới thứ năm, theo cách nhìn của tôi, nghĩa là không uống rượu mạnh, trong giao tiếp hoặc làm ăn chung, Phật tử nam có thể uống chút ít rượu nhẹ. Vì thời nay có những mối quan hệ hợp tác làm ăn, hội họp... đôi khi cũng phải dùng chút ít rượu. Nhưng nhớ là không nên uống đến say xỉn mất tự chủ, không kiểm soát được hành vi. Như vậy sẽ dẫn đến việc tạo nghiệp ác, quý Phật tử cần hiểu rõ, áp dụng lời Phật dạy sống đúng đạo lý. 

Giữ gìn năm giới trọn vẹn mới có thể tiến lên hành Bồ-tát đạo. Nhiều Phật tử chưa giữ tròn năm giới cũng không có ý nguyện giữ giới nghiêm cẩn, như vậy là xem nhẹ việc tu tập và chưa thấy được giá trị cao quý của giới luật. Quý vị nên nhớ, tu hành là để lợi ích cho bản thân, đời này tu tốt, đời sau sẽ được quả tốt. Vì vậy cố gắng tu hành. 

Chúng ta thường nghe nói người phạm tội sát sanh thì tuổi thọ ngắn, vậy mà Phật tử không sợ, vẫn tiếp tục phạm. Để có một đời sống an vui, Phật tử phải biết tránh những việc làm hao mòn phước đức, siêng làm những việc tốt. Có thế phước đức mới tăng trưởng, mọi người chung quanh đều kính mến.

Đối với chư Tăng Ni, căn bản nhất là giữ tròn mười giới: 

1. Không sát sanh.

2. Không trộm cắp.

3. Không dâm dục.

4. Không nói dối.

5. Không uống rượu.

6. Không đeo tràng hoa và ướp nước hoa.

7. Không ca hát múa xướng và tự đi xem nghe.

8. Không nằm giường tòa cao rộng lớn.

9. Không ăn phi thời.

10. Không được giữ vàng bạc, châu báu. 

Đây là mười giới căn bản nhất của người xuất gia, Tăng Ni phải cương quyết giữ gìn cho trọn vẹn. Làm được như vậy mới đầy đủ công đức, con đường tu tập ngày càng tiến, không nên nghĩ đây là những giới nhỏ không quan trọng rồi phạm. Bởi vì khi phạm một giới thì cũng có thể phạm những giới khác, giữ tròn mười giới mới gọi là người giữ giới thanh tịnh. 

Phật không cho ăn chiều vì có nhiều ảnh hưởng không tốt đến công phu tu tập. Thứ nhất, làm cho sự tu hành bị trì trệ, buổi chiều nếu ăn no quá sẽ khó thở, không ngồi thiền nổi. Thứ hai, nếu Tăng Ni lo nấu và ăn ngày ba bữa thì không có thời gian tu. Cho nên Phật dạy không nên ăn chiều để thân nhẹ nhàng, ngồi thiền yên ổn. Không ăn để thảnh thơi, có thời giờ tu tập, xem kinh sách. Chúng ta không ăn chiều không có hại gì cho cơ thể, do buổi sáng và trưa mình đã ăn đầy đủ. Mỗi lời Phật dạy đều rất hữu ích, quý vị phải nhớ lời Phật dạy và thực hành. Hôm nay chưa được thì ngày mai phải làm cho được, làm riết rồi cũng sẽ được.

Sau này có nhiều vị thân thể bệnh nặng, cần ăn chiều để giữ gìn sức khỏe, nên giới này được nới lỏng ra, thức ăn buổi chiều xem như thuốc uống để trị bệnh. Thuốc thì đắng, còn chúng ta đòi hỏi đồ ăn đậm đà, không chịu ăn cháo trắng với muối tiêu mà chiều nào cũng phải nấu cháo nêm, đó là điều không tốt. Tăng Ni không nên xem thường giới luật, dù là những giới nhỏ. Người tu nếu lỡ phạm giới phải biết dừng lại, đừng để phạm rồi mà không biết sửa, cứ thế phạm cả đời. 

Phật dạy mỗi giới giữ được đều có lợi ích trong đời này và đời sau. Không sát sanh thì đời sau không bị giết hại. Không trộm cắp thì tránh khỏi nạn tù đày, không bị người khinh chê. Không tà dâm thì không làm khổ mình, khổ người. Không nói dối thì được người tin tưởng, không bị mất uy tín. Không uống rượu thì không bị si mê, trí tuệ sáng suốt.

Đối với giới không trộm cắp, thí như thấy nhà bên cạnh có trái cây ngon mà không chia cho mình, đợi đến lúc người ta đi vắng thì mình lén hái. Hái mà không có mặt chủ nhà là ăn cắp. Người ta trồng cây phải chăm sóc mới có trái, thành quả đó là công sức của họ, mình không có công mà đòi hưởng thì không hợp lý. Giới này giúp chúng ta không làm việc gì trái với lương tâm, đạo đức con người. 

Trong kinh Phật dạy nếu đời này nói dối, đời sau sanh ra làm người có tật ở miệng hoặc ngọng nghịu. Nếu muốn mỗi lời mình nói ra đều được người thương mến, quý trọng thì không nên nói dối. Chúng ta tu là để đời này được an lành, đời sau sanh ra tốt hơn chứ không phải tu rồi thiệt thòi. Giữ được một giới là đã có phước rồi, vậy nên nếu giữ được nhiều giới thì phước càng sâu dày hơn. 

Phật dạy không nên uống rượu, bởi say rồi không còn tỉnh táo. Rượu vào thì lời ra, điều gì hay dỡ cũng nói ào ào ra hết, không lựa lời, không xét nét kỹ nên dễ phạm sai lầm. Người say rượu hành động giống như người điên, nên nói rượu là nhân của si mê. Muốn thành người khôn ngoan, sáng suốt thì phải giữ gìn cho đời này và đời sau đều không phạm giới này. 

Phật tử giữ chưa tròn năm giới mà tự xưng là Phật tử lâu năm, là Phật tử trụ cột thì thật đáng hổ thẹn. Quý vị phải xét cho kỹ, cố gắng tu tập, giữ giới luật cho thanh tịnh mới xứng đáng là đệ tử Phật. Đó là những điều thiết yếu của cư sĩ tại gia. 

Tóm lại, Tăng Ni và Phật tử phải ráng tu cho có lợi ích. Tăng Ni thì trở thành những nhà tu hành cao quý, hướng dẫn Phật tử cùng tu. Phật tử thì trở thành người cư sĩ tốt. Tôi mong tất cả Tăng Ni, Phật tử nhớ kỹ lời dặn dò của tôi để ứng dụng tu cho tốt. 

Ngoài ra, tôi còn nhắc nhở thêm đối với Gia đình Phật tử Chánh Huệ đang sinh hoạt tại chùa Phước Hậu. Năm xưa, quý thầy đã thành lập gia đình Phật tử, đào tạo một số huynh trưởng để dìu dắt những em nhỏ về với đạo, vì tuổi nhỏ mà không biết Phật pháp là điều thiệt thòi. Các anh em huynh trưởng đã phát tâm chung lo, kết hợp và quy tụ được một số em nhỏ, lập thành Gia đình Phật tử Chánh Huệ, đến nay đã tròn 10 tuổi. Các huynh trưởng thì Thầy tin là đã thấm nhuần đạo lý, nhưng các cháu nhỏ còn sơ cơ lắm, nên Thầy có lời nhắc nhở chung cho các con. 

Phật dạy người có duyên lành mới được gặp Phật pháp, các con còn nhỏ mà đã được đến chùa, được quý thầy dạy dỗ là nhờ có duyên lành. Vì vậy các con phải cố gắng hơn, để duyên lành được phát triển. Thí dụ năm trước mình có trái bắp giống, đem ra ươm trồng tới chừng thu hoạch được năm bảy chục trái, có khi cả trăm trái. Điều này chứng tỏ với cái nhân đã có, chúng ta tạo điều kiện tốt cho nó phát triển thì sẽ có kết quả tốt, ngược lại không biết tạo duyên lành thì nó sẽ hao mòn. 

Bây giờ các con đến chùa được anh chị trong gia đình Phật tử thương yêu, dạy giáo lý trong kinh Phật và những bài hát về đức Phật. Đó là phước lành mà các con có từ thuở xưa, nay được tăng trưởng. Mấy đứa con ở nhà có khi làm phiền lòng cha mẹ chút ít, nhưng đến chùa là vui vẻ không hờn giận ai. Từ nay về sau, tụi con phải nhớ là Thầy dạy có hiếu với cha mẹ, không nên làm cha mẹ buồn. Bởi vì cha mẹ sanh ra tụi con, nuôi nấng lo lắng cho tụi con từ cái ăn cái mặc cho đến việc học hành, nên phải biết thương cha mẹ. Đó là người con hiếu thảo. Có hiếu thì sẽ được mọi người khen ngợi thương mến, còn bất hiếu thì bị mọi người ghét bỏ chê cười. 

Các con ráng theo các anh chị huynh trưởng, để được dạy dỗ, gần gũi với Phật pháp. Nhờ đó đời này có phước, đời sau phước nhiều hơn. Như vậy mới xứng đáng là người con trong Gia đình Phật tử.

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 4
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
Danh sách chương: