|
Tông Môn Cảnh Huấn 4
15. Chùa Bồ Đề (Canada)
Nói về hai chữ Bồ đề Năm 2002 Hôm nay tôi nói về ý nghĩa của hai chữ Bồ-đề vì Bồ-đề cũng là tên gọi của ngôi chùa này. Vì vậy tôi sẽ giải thích trọng tâm hai chữ Bồ-đề, theo trong kinh giáo và qua cái nhìn của các thiền sư, để quý vị nắm rõ hơn. Bồ-đề tiếng Phạn là Bodhi, đọc trại âm là Bồ-đề, Trung Hoa dịch là giác. Sau khi đức Phật thành đạo dưới cội tất-bát-la thì cây này được đổi tên thành cây bồ-đề. Đạo Phật lấy giác ngộ làm chỗ cứu cánh, nếu không giác ngộ coi như sự tu chưa xong. Bồ-tát Sĩ-đạt-ta do giác ngộ mà thành Phật, chư vị Bồ-tát, A-la-hán cũng do giác ngộ mà thành. Giác ngộ có hai: phần giác và mãn giác. Phần giác là giác ngộ từng phần, mãn giác là giác ngộ viên mãn. Các vị Thanh văn, do giác ngộ lý vô thường, vô ngã mà chứng thánh quả. Những hàng Duyên giác giác ngộ các pháp do nhân duyên sanh mà chứng quả. Chư vị Bồ-tát giác ngộ các pháp tự tánh không, tu lục độ vạn hạnh thành tựu quả vị Bồ-tát. Đây gọi là phần giác. Phật giác ngộ đến chỗ tột cùng đầy đủ tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn; nghĩa là tự mình đã giác ngộ lại giác ngộ cho người, công hạnh tròn đủ, nên gọi Phật là bậc toàn giác hay mãn giác. Bây giờ tôi sẽ nói về trường hợp giác ngộ của các vị thiền sư. Trường hợp thứ nhất. Ngũ tổ Hoằng Nhẫn đến lúc tuổi già muốn đồ đệ trình kiến giải để tìm người kế thừa, xứng đáng được trao y bát làm Tổ thứ sáu. Trong hội của Tổ có cả thảy 500 vị, đứng đầu là Giáo thọ sư Thần Tú. Tăng chúng không ai dám trình kệ, vì nghĩ chỉ có thầy giáo thọ mới vào cửa được. Ngài Thần Tú lâu nay chưa dám nghĩ đến việc này, giờ ở vào hoàn cảnh tiến thoái không xong, dù rất lo âu nhưng buộc lòng phải làm kệ. Làm xong trong tâm bất an, không dám trình thẳng với Ngũ Tổ, ngài lén viết lên vách ngoài hành lang chùa bài kệ: Thân thị bồ-đề thọ, Tâm như minh cảnh đài, Thời thời cần phất thức, Vật sử nhạ trần ai. Dịch: Thân là cây bồ-đề, Tâm như đài gương sáng, Luôn luôn phải lau chùi, Chớ để dính bụi nhơ. Ngũ Tổ đọc bài kệ thầm biết chưa đạt nhưng vẫn khen hay, rồi bảo chúng mỗi người đều phải lễ bái, học theo đó mà tu. Sau đó, Ngũ Tổ cho gọi ngài Thần Tú vào thất hỏi: “Phải ông làm bài kệ này không?”. Ngài khiêm nhường thưa: “Bạch Hòa thượng, con làm nhưng không dám mong cầu Tổ vị chỉ trình để Thầy xem có chút trí tuệ chăng?”. Ngũ Tổ nói: “Bài kệ này chưa vào cửa được, nên viết bài khác”. Ngài xuất hạn mồ hôi, không biết phải viết lại thế nào. Ngài Huệ Năng đang làm công quả giã gạo dưới nhà trù, nghe chú điệu đi ngang đọc bài kệ của ngài Thần Tú. Ngài Huệ Năng bèn nhờ dẫn đến hành lang đọc lại bài kệ cho ngài nghe. Lúc ấy có quan Biệt giá họ Trương cũng đang đứng đó, ngài Huệ Năng nói tôi cũng có một bài kệ, nhưng không biết chữ, nhờ quan Biệt giá viết giùm. Quan Biệt giá ngạc nhiên hỏi: - Cư sĩ công quả mà cũng có kệ sao? Ngài đáp: - Kẻ hạ cũng có trí thượng thượng, người được xem là thượng thượng vẫn không có ý chí. Không nên nhìn hình thức bên ngoài để đánh giá, người tầm thường vẫn có của báu bên trong. Quan Biệt giá liền viết giùm ngài bài kệ: Bồ-đề bổn vô thọ, Minh cảnh diệc phi đài. Bản lai vô nhất vật, Hà xứ nhạ trần ai? Dịch: Bồ-đề vốn không cây, Gương sáng cũng chẳng đài. Xưa nay không một vật, Chỗ nào dính bụi bặm? Viết xong, ai nấy đều ngạc nhiên, không ngờ một cư sĩ mà có thể làm kệ hay như thế. Ngũ Tổ nghe bàn tán xôn xao liền đến xem, rồi lấy dép xóa đi và nói cũng chưa thấy tánh. Ngài Thần Tú nói thân là cây bồ-đề, tâm như đài gương sáng, phải lau chùi đừng để dính bụi nhơ, vì bụi nhơ khiến gương không sáng. Ngài Huệ Năng nói ngược lại, Bồ-đề vốn không cây, gương sáng cũng không đài, xưa nay không một vật thì chỗ nào dính bụi bặm mà lau chùi? Nhìn trên mặt văn chương, ngài Thần Tú nói rất hay. Ngài cụ thể hóa Bồ-đề và tâm nhưng vô tình trở thành vướng mắc. Đã biết Bồ-đề là tánh giác không hình tướng mà còn nói cây. Tâm như đài gương sáng, chữ đài làm giảm giá trị của gương. Gương vốn tự sáng, không cần để trên đài nó mới sáng. Cho nên Lục Tổ nói, gương sáng cũng chẳng đài để phá cái chấp hình thức. Bồ-đề là tánh giác, thể Bồ-đề không hình tướng, tự nó sáng và thanh tịnh, không phải vật thì lau chùi cái gì? Nếu đợi chùi rửa mới thanh tịnh thì không đúng tâm Bồ-đề nên nói, xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi nhơ. Ngài Thần Tú dụ tánh giác như đài gương, phải ráng lau chùi nó mới hiện rõ. Nhiều người cho rằng dạy như thế dễ tu vì thực tế hơn. Phiền não là bụi bặm nhơ nhiễm, nếu chịu khó gột rửa đều đều gương tâm mới sáng. Ngài Huệ Năng nhận ra tánh giác sẵn có không sanh diệt, không phải do lau chùi mà được. Cách trình bày này có vẻ trừu tượng không thực tế, nhưng con mắt của Ngũ Tổ nhìn người không lầm. Một bên còn hình thức vì dụng công, một bên không mắc kẹt hình thức mà chỉ thẳng tánh giác. Khi biết Huệ Năng xứng đáng được truyền tâm ấn, giữa đêm khuya Ngũ Tổ gọi vô thất giảng kinh Kim Cang cho nghe. Tới câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, ngài liền đại ngộ thốt lên rằng: Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt, Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ, Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động, Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp! Ngũ Tổ biết ngài đã thấy tột lý đạo liền truyền y bát và đặt pháp hiệu là Huệ Năng, ấn chứng ngài là vị Tổ thứ sáu của Thiền tông Trung Hoa. Vì sợ ngài bị hại nên Ngũ Tổ đưa qua sông lánh nạn. Từ đó về sau ngài Huệ Năng phải ẩn trong nhóm thợ săn nhiều năm, chịu không biết bao gian nan khó khổ, đợi khi đủ duyên mới xuất hiện truyền bá pháp môn đốn giáo của Tổ sư. Qua sự giác ngộ sâu cạn của hai vị thiền sư vừa nêu trên, chúng ta có thể hiểu rõ hơn ý nghĩa chữ Bồ-đề trong nhà thiền. Ngài Thần Tú thấy biết mình có tánh giác nhưng bị bụi phủ, phải ráng lau chùi. Ngài Huệ Năng thấy biết tánh giác không hình tướng, luôn luôn trong sạch, không cần lau chùi. Hai cái nhìn khác nhau rất xa. Thấy tánh giác tròn đủ, không hình tướng là trực ngộ được bản thể chân thật. Vì thế việc tu hành vượt ngoài các hình thức thông thường. Trường hợp thứ hai. Thiền sư Hoài Nhượng ở núi Nam Nhạc. Trước học với thiền sư Huệ An ở Tung Sơn, sau qua Lục Tổ tham vấn. Tổ hỏi. - Ở đâu đến? Ngài trả lời: - Ở Tung Sơn đến. - Vật gì đến như thế? - Nói in tuồng một vật tức không trúng. Ngài Hoài Nhượng biết Tổ muốn hỏi chỗ chân thật chứ không phải vật có hình tướng, vô thường sanh diệt nên thưa, nói in tuồng một vật tức không trúng. Thiền ngữ thật đặc biệt. Nói in tuồng một vật tức không đúng, giống câu bản lai vô nhất vật. Rõ ràng xưa nay không một vật. Lục Tổ tuy thầm biết ngài đã vào được cửa nhưng vì muốn thử xem có lạc vào sở tri chướng hay không, nên hỏi tiếp: “Lại có thể tu chứng chăng”. Ngài đáp: “Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được”. Đã thật thấy được bản tâm, tuy không phải một vật nhưng vẫn có tu chứng, đúng với chỗ Lục Tổ nói: “Bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai?”. Cái thấy của hai thầy trò không khác, vì vậy Tổ truyền tâm ấn cho ngài. Thiền sư Hoài Nhượng hoát nhiên khế hội và được Lục Tổ ấn chứng. Từ đó ngài hầu Tổ ngót 15 năm, sau về tu ở núi Nam Nhạc. Dưới ngài có Mã Tổ Đạo Nhất và nhiều vị thiền sư truyền bá Thiền tông cho tới bây giờ. Hệ phái Tào Động, Lâm Tế rất phổ biến ở Việt Nam, Trung Hoa và Nhật Bản. Tông Lâm Tế truyền thừa đến ngày nay đều là con cháu của ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng. Tại Việt Nam, vào cuối thế kỷ 18 có thiền sư Thanh Đàm hiệu Minh Chánh ở Bích Động. Ngài từng làm một bài kệ giải công án của Thuần-đà. Sau khi Phật thọ thực bữa cơm do Thuần-đà cúng dường thì bị bệnh, vì thế bữa cơm đó gây ra nhiều dư luận. Đồ đệ Phật kết án ông đã đầu độc đức Phật, thế nhưng Thế Tôn lại tán thán. Hai người cúng dường được lợi ích lớn, đó là mục nữ Su-già-ta cúng dường bát sữa đầu tiên trước khi Phật thành đạo, và cư sĩ Thuần-đà cúng dường bữa cơm sau cuối trước khi Phật nhập Niết-bàn. Như vậy, Thuần-đà có tội hay không? Thiền sư Minh Chánh có làm bài kệ giải thích: Không nói ngắn, chẳng nói dài, Ngắn dài, phải quấy thảy đều sai, Cầu hay lại hóa người chê vụng, Bắn sẻ đâu ngờ sói chực ngay. Công danh cái thế màn sương sớm, Phú quý kinh nhân giấc mộng dài, Chẳng hiểu bản lai vô nhất vật, Công phu uổng phí một đời ai. Không nói ngắn, chẳng nói dài; ngắn dài, phải quấy thảy đều sai. Ngắn dài, phải quấy vốn không thật, không cố định. Như cái cây 2 thước ngắn hơn cây 4 thước, nhưng lại dài hơn cây 1 thước. Rõ ràng ngắn dài không cố định, chẳng qua phân biệt đối đãi thôi, vậy mà chúng ta chấp cho là thật. Văn hóa mỗi nước cũng khác nhau, nơi này phải, nơi khác quấy; thời này phải, thời khác quấy. Như ngày xưa phụ nữ thường bị coi thường hơn nam nhân, nhưng bây giờ nam nữ đã bình quyền. Phải quấy không cố định, vậy mà chúng ta cứ cãi nhau thật vô lý. Biết phải quấy không thật, buông đi, cười thôi. Hiểu được như thế, cuộc sống an lành biết mấy. Trong kinh A Hàm Phật dạy rất rõ, người biết tôn trọng chân lý là khi nghĩ hoặc thấy thế nào, cứ trình bày đây là điều tôi nghĩ, tôi thấy. Ngay đó thôi, đừng thêm đúng sai. Dù trải thời gian lâu xa, cái nhìn của Đức Phật và thiền sư vẫn không khác. Điều này cho thấy đạo Phật rất sáng suốt cởi mở, không cố chấp. Ai cũng có quyền trình bày sự hiểu biết của mình, nhưng không độc đoán cho mình đúng, còn khác mình là sai. Thiền sư Minh Chánh nói, người nào còn thấy dài ngắn phải quấy là chưa nhận được lẽ thật. Mình đưa ra ý kiến gì đều muốn thiên hạ chấp thuận, ai cãi lại liền nổi giận lôi đình. Bởi vậy trong nhà vợ chồng cãi nhau, ra ngoài công sở đồng nghiệp khẩu chiến. Cứ thế mà con người sống trong điên đảo, bị phiền não làm cho khổ đau. Nội dung bài kệ là một pháp tu rất thiết thực, khỏi cần nhọc nhằn, miễn đừng thấy thị phi, trường đoản thì cả ngày không phiền não, an ổn nhẹ nhàng. Một khi nhận định đúng, mọi thứ đều hay. Vì vậy trong Bát chánh đạo, đức Phật đặt chánh kiến lên trên. Trước phải có nhận định đúng, sau mọi việc mới đúng theo. Người tu sáng suốt thấy rõ tất cả pháp đối đãi không thật. Nhiều Phật tử than thở tu hoài không hết phiền não, là do chấp chặt phải quấy thành ra khó tu. Nhà thiền không dạy nhiều, chỉ một câu ách yếu mà ứng dụng tu suốt đời có khi cũng chưa rồi. Công danh cái thế màn sương sớm, phú quý kinh nhân giấc mộng dài. Công danh dù tột đỉnh rốt cuộc cũng như màn sương buổi sáng, nắng lên liền tan hết. Người thế gian ai cũng muốn được công danh, trọn đời mải mê theo đuổi mà không biết nó hư ảo. Giàu sang đến nỗi người ta nghe tới tên liền hoảng sợ, cũng chỉ là một giấc mộng dài thôi. Đến lúc nhắm mắt tắt thở, ra đi với hai bàn tay trắng, bao nhiêu sự nghiệp tài sản bỏ lại hết. Cả đời theo đuổi công danh phú quý, nhưng kết quả chỉ là sương sớm, giấc mộng dài, không có gì thật. Nếu lúc nào chúng ta cũng nhớ điều này thì cuộc sống nhẹ nhàng thảnh thơi. Chẳng biết bản lai vô nhất vật, công phu uổng phí một đời ai. Không nhận ra bản lai vô nhất vật thì luống uổng một đời tu. Người xuất gia cả đời đi tu mà không nhận ra tánh giác, là vô ích. Tánh giác chân thật không bại hoại, không gì có thể làm lem luốc lại không hay biết, mải chạy theo những thứ hư ảo sớm còn tối mất thì làm sao nắm giữ được. Thật đáng buồn! Cái nhìn của Lục Tổ với cái nhìn của thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng và ngài Minh Chánh không khác, tất cả đều đi đến chỗ nhận ra tâm chân thật bất sanh bất diệt. Sự giác ngộ của thiền sư là nhận lại bản lai vô nhất vật của chính mình. Nhận ra mặt thật lâu nay mình bỏ quên mới xứng đáng với tâm nguyện xuất gia cầu giác ngộ giải thoát. Tu không phải chuyện xa xôi lạ lùng mà thực tế rõ ràng. Sau khi Lục Tổ nhận y bát từ Ngũ Tổ, ngài phải trốn đi trong đêm khuya vì sợ Tăng chúng đuổi theo giành lại. Đọc tới đây tôi rất buồn, tại sao trong chùa còn giành giật như vậy? Càng sống lâu trong đạo, nghiên cứu và học hỏi giáo lý, tôi mới thấu hiểu điều này. Năm trăm chúng xuất gia không được thầy truyền y bát, ông cư sĩ mới tới chưa bao lâu lại được truyền, không tức sao được! Nếu chúng ta có mặt trong hội đó chắc cũng giống vậy thôi. Trong số đó có thượng tọa Huệ Minh, trung niên mới xuất gia, đuổi theo kịp Lục Tổ. Tổ thấy thế mới để y trên tảng đá nói: “Y này là biểu tín, có thể dùng sức mà tranh sao!”. Rồi ẩn vào bụi rậm. Huệ Minh chạy lại liền ôm y bát lên mà không được, liền kêu: “Cư sĩ, cư sĩ! Tôi vì pháp mà đến, không phải vì y đến”. Lục Tổ bước ra bảo: “Ông nên bặt hết các duyên, chớ sanh một niệm, ta sẽ vì ông nói”. Huệ Minh im lặng giây lâu, Lục Tổ bảo: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh?”. Ngay đó ngài Huệ Minh nhận ra và tôn Lục Tổ làm thầy. Lúc ở thiền viện Chơn Không, có lần tôi nhập thất ba tháng. Sau khi ra thất, thầy đại diện trong chúng bạch: - Bạch Thầy! Ba tháng qua Thầy có điều gì hay xin kể lại cho chúng con nghe. Tôi nói: - Không có gì đặc biệt, nhưng tôi sẽ kể cho mấy chú nghe câu chuyện. Có anh chàng nọ rất thích son phấn, nên ngay cửa ra vào anh để bên đây hộp son, bên kia hộp phấn. Mỗi khi trong nhà đi ra anh chấm phấn quẹt lên mặt một cái, lúc trở vào anh chấm son quẹt lên mặt một cái. Quẹt hoài không chịu rửa, lâu ngày mặt bên đây trắng mặt bên kia đỏ. Người ta kêu anh là thằng mặt trắng mặt đỏ, dần dần anh cũng chấp nhận tên gọi đó. Một hôm có người bạn thân từ thuở nhỏ về chơi, hỏi tại sao mặt mày lại như thế. Anh đáp: “Tôi mặt trắng mặt đỏ vậy mà”. Người bạn nói: “Không phải. Tao nhớ hồi xưa mày không như vậy. Tại mày bôi phấn trét son lên hoài nên thành mặt trắng mặt đỏ. Nếu bây giờ chịu khó chùi rửa, sẽ hiện ra mặt thật thôi”. Nghe người bạn nói có lý, anh bắt đầu chùi rửa. Lâu ngày son phấn trôi hết, hiện lại bộ mặt xưa. Qua câu chuyện này, tôi muốn nhắc tới gương mặt xưa của chúng ta. Son phấn dụ cho thiện ác, phải quấy hai bên. Bởi quá thích son phấn nên anh chàng kia đánh mất mặt thật, cũng vậy chúng ta chạy theo đối đãi nên quên mất bản lai diện mục của chính mình. Do chúng ta cố chấp đối đãi nên tâm luôn bất an. Đang mặc bộ đồ tương đối ấm áp vừa ý, thấy ai mặc bộ khác đẹp hơn liền muốn được như họ. Đủ tiền sắm không nói gì, chưa đủ phải lo tính toán. Hoặc ăn tạm no rồi mà nghe người ta nói món kia ngon, lại muốn ăn thêm thành ra phát ách. Từ sớm tới chiều bị mấy thứ đó quay cuồng khiến quên mất mình. Nếu tỉnh lại không chạy theo nữa thì tâm an nhiên tự tại. Người tu thiền phải thấy rõ các pháp hư ảo không thật, nhận chân được cái thật của chính mình. Thấy biết như vậy là giác, chưa thấy biết như vậy là mê. Yếu chỉ nhà thiền dạy “trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật”, đây là Phật nhân chứ không phải Phật quả, cần nỗ lực công phu nhiều hơn nữa mới thành Phật quả. Tóm lại, ý nghĩ Bồ-đề là giác, giác từng phần hoặc giác viên mãn. Giác viên mãn là nhận và sống được với tâm chân thật của chính mình, biết rõ mọi thứ hư dối không lầm. Nắm được ý nghĩa Bồ-đề rồi, sự tu không khó. Đó là tôi nói qua ý nghĩa sự giác ngộ của đức Phật và các vị thiền sư trong nhà thiền. Mong tất cả quý Phật tử ghi nhớ và thực hành được nhiều lợi lạc. Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 4
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
|
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
15. Chùa Bồ Đề (Canada)
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
21. Đạo Phật là đạo của tất cả mọi người (Chùa Phật Quang - Bến Tre)
27. Đạo Phật vì con người, xoáy sâu vào con người (Đạo tràng Trúc Lâm Tuệ Phát)
37. Tại sao Phật tử phải tụng kinh, niệm Phật, trì chú và tọa thiền...