|
Tông Môn Cảnh Huấn 4
4. Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên
Tích lũy thiện nghiệp Hôm nay, tôi vô cùng hoan hỷ và cảm động khi thấy tất cả Phật tử cùng chung lo xây dựng ngôi Chánh điện. Nơi đây là chốn núi rừng mà các Phật tử không nệ hà nhọc nhằn, cùng tới đây để hợp tác với quý thầy làm Phật sự, thật đáng quý! Tôi được biết, quý Phật tử ở đây phần nhiều không khá giả, nhưng mỗi người đều sẵn sàng hy sinh thời gian quý báu của mình, để Phật sự nơi này sớm được hoàn thành tốt đẹp như hiện tại. Với tinh thần cao cả của quý vị, nên tuy việc làm thấy dường như nhỏ mà kết quả thì không nhỏ. Bởi vì Phật sự này không chỉ của một đời nay thôi, mà còn mãi đến đời con cháu sau này nữa. Ngày nay quý vị đem hết nhiệt tâm làm Phật sự, cùng chung tay góp sức để địa phương có một ngôi thiền viện trang nghiêm rộng rãi, tạo duyên cho Phật tử các nơi có cơ hội về đây nghe pháp, học đạo. Đây là việc làm vừa hữu ích cho mình, mà cũng vừa hữu ích cho người, nên tôi nói lợi ích lớn lao là vậy. Xưa kia, các vị tôn túc ở Ấn Độ từng sang truyền bá Phật giáo tại đây. Trước kia tôi muốn tìm đến di tích này nhưng chưa có cơ hội, cho nên khi được mời xây cất thiền viện tại Tây Thiên, tôi rất hoan hỷ. Theo trong sử sách Phật giáo Trung Quốc xưa gọi Trung Hoa là Đông Độ; gọi Ấn Độ là Tây Thiên, tức chỉ cho người ở trời Tây. Phật giáo có mặt trên đất nước Việt Nam từ rất lâu. Các nhà sử học thường nói, Phật giáo Việt Nam có nền móng Phật giáo từ thời tổ tiên mình chứ không phải mới đây. Nghĩa là cách đây hơn 2.000 năm, tổ tiên chúng ta đã tu theo Phật, được các bậc cao tăng người Ấn Độ sang trực tiếp chỉ dạy. Nhưng sau đó do đất nước ta bị Trung Hoa đô hộ hơn 1.000 năm, nên những di tích xưa bị mai một. Ngày nay, việc tìm được di tích Tây Thiên này để dựng lại hình ảnh đạo Phật từ Ấn Độ truyền sang, nói lên tấm lòng chân thành của thế hệ chúng ta đối với những bậc tiền bối đã đến đây truyền bá Phật pháp. Ơn đức đó rất lớn, bởi vì các ngài đã quên thân mình, đi theo tàu buôn hoặc theo đường bộ từ Ấn Độ sang, rất vất vả. Nơi đây là một trong những di tích trước nhất của Phật giáo Việt Nam, thế mà lâu nay bị lãng quên nên bây giờ không còn gì. Tuy nhiên, những nơi nào đã có dấu chân các bậc truyền giáo chân chánh đi qua thì chúng ta bằng mọi cách cũng phải gầy dựng lại, để người hiện tại được biết và người sau cùng biết. Tổ tiên chúng ta đã tu theo Phật, xem đạo Phật là đạo ông bà và đem Phật giáo truyền bá lại cho con cháu. Vì đã thấm nhuần Phật giáo từ xa xưa, nên đạo Phật đối với người Việt Nam không còn xa lạ. Nhưng sau này vì cách xa nên chúng ta quên, không biết gốc gác từ đâu. Khi chúng tôi nghiên cứu lịch sử, thấy có những giai đoạn đạo Phật có mặt ở nơi này nhưng bị lãng quên. Cho nên, chúng tôi đã tìm về đây nhưng tìm không được dấu vết. Đến năm 1990, chúng tôi ra Bắc, chỉ tìm được lên Yên Tử, nơi các vua đời Trần đã tu và sau đó thì xin phép được xây dựng thiền viện Trúc Lâm Yên Tử. Còn nơi đây bấy giờ không có đường vô Tam Đảo, nên chúng tôi tới mà mờ mịt không biết làm sao tìm, vì không có người hướng dẫn. Ngày nay, chính quyền địa phương có thiện ý, muốn chúng tôi gầy dựng lại nơi di tích một thời bị xao lãng, sống trở lại với quần chúng Việt Nam. Cho nên mới khởi sự xây dựng thiền viện ở đây, khơi lại chốn cũ và làm sống dậy hình ảnh của người xưa, để đông đảo người được lui tới tìm hiểu Phật pháp. Đó là duyên tốt cho Phật giáo Việt Nam hiện nay, cũng là phước lành của quý Phật tử. Khi khởi công xây dựng được đồng bào Phật tử hưởng ứng đông đảo, nhiệt tình làm việc vui vẻ, không tỏ ra chút gì chán ngán. Tinh thần đó khiến chúng tôi thấy cần nỗ lực hơn, cố gắng hoàn thành Phật sự ở nơi này. Tuy nhiên, còn một điều quan trọng mà tôi muốn nhắc cho tất cả nhớ, đó là tuy Phật tử đã có nhiệt tâm hướng về đạo Phật, làm công quả lo cho Tam bảo, thì đối với sự tu hành của mình cũng cần phải cố gắng. Đạo Phật là đạo như thật. Những lời Phật nói ra đều là chân lý, không huyền bí, không mờ ảo mê tín. Phật dạy người cư sĩ tại gia phải biết rõ lý nhân quả. Bởi vì tất cả việc xảy ra trong cuộc đời chúng ta không ngẫu nhiên có, mà đều bắt nguồn từ nhân thành quả. Thí dụ, khi thấy một người đói khát lang thang, chúng ta vì thương mà giúp cho họ cơm ăn áo mặc. Đến khi người ấy lớn khôn gặp lại ân nhân, họ luôn tỏ lòng biết ơn kính trọng và hết lòng giúp đỡ khi cần. Như vậy, nhân đã gieo thì quả tự đến, nếu gieo nhân tốt thì được quả tốt, gây nhân không tốt thì gặp quả không tốt. Người thế gian thường nói làm ơn mắc oán, đó là không thấu triệt lý nhân quả. Sở dĩ làm ơn mắc oán là vì giúp người với tâm khinh thường, hoặc vì một lý do nào đó chứ không phải thật thương người, nên họ không mang ơn mình. Nếu chúng ta thật thà, giúp người không cầu danh lợi, cũng không mong báo đáp thì chẳng người nào quên ơn mình. Nhân quả không ở đồng tiền bát gạo đưa cho người, mà cốt ở lòng mình. Giúp người với tâm từ bi thì dù giúp ít, người ta cũng mang ơn nhiều. Người xưa thường nói: Khi đói chỉ cần một bát gạo, người ta cũng nhớ cả đời. Cho nên, chúng ta hãy sẵn sàng giúp người bằng lòng thương, đừng khởi tâm khinh rẻ kẻ đang nghèo thiếu. Nhân quả theo nhau như bóng với hình. Khi chúng ta đem tâm tốt giúp người thì quả cũng tốt, được người quý trọng. Khi đem tâm xấu giúp người thì quả cũng đơn sơ, không đầy đủ. Nhiều người không hiểu, thấy hồi trước người đó giàu có thường hay giúp người khác, tới chừng họ sa cơ thất thế thì không ai kính trọng, thương mến. Lỗi tại tâm của họ. Khi giúp người không có lòng thương, chỉ giúp để tỏ ra mình là người giàu có dư dả. Cho nên nhân quả rất tế nhị. Không phải đưa tiền bạc, cho gạo lúa là kết quả đều tốt. Gốc từ tâm mình. Tâm thương người thì quả sẽ tốt, chỉ cần chút ít mà luôn được người kính trọng. Kinh Phật kể rằng, ngày xưa có một cô gái mồ côi cha mẹ, phải đi ăn xin ngoài chợ. Một hôm, nghe nói cúng dường Tam bảo thì có phước, cô liền tự nghĩ, làm sao tạo phước để khỏi nghèo khổ nữa. Hôm đó xin được hai xu, cô muốn cúng cái gì chư Tăng trong chùa đều hưởng được. Nghĩ vậy cô mua hai xu muối đem vô chùa năn nỉ vị Tăng nấu ăn: “Con xin được có hai xu để mua muối, xin được cúng hết chư Tăng trong chùa, mong giúp đỡ giùm con”. Vị Tăng nấu ăn hôm ấy liền bỏ nắm muối của cô vào nồi canh to, thế là chư Tăng đều được hưởng đầy đủ. Bẵng đi một thời gian, cô không còn nhớ chuyện cúng muối ấy nữa. Lần lần lớn khôn, cô càng xinh đẹp lạ thường. Khi đó trong triều đình, nhà vua muốn chọn vợ cho thái tử, bèn ra lệnh cho các quan đi tìm, nếu chọn được người thái tử vừa ý thì sẽ trọng thưởng. Bấy giờ, một ông quan đi ngang qua vùng ấy, thấy trên trời có vầng mây đỏ, ông nghĩ nơi đây chắc có dị nhân phước lớn. Trên đường trở về, ông thấy một cô gái khoảng 16, 17 tuổi đang trùm chiếu ngủ. Ông đến gần nhìn, bất chợt cô gái thức đậy tốc chiếu ra, trông xinh đẹp lạ thường. Thấy cô sống đầu đường xó chợ, ông tội nghiệp đem về nuôi cho ăn mặc, dạy dỗ đàng hoàng. Đến năm cô 18 tuổi, ông dẫn đến trình nhà vua, thái tử vừa thấy thì đẹp lòng ngay. Thời gian sau, nhà vua mất thái tử lên ngôi và cô trở thành hoàng hậu. Cô nghĩ, không biết mình đã làm phước gì mà được thế này, có lẽ do việc cúng muối năm xưa mà ra. Một hôm hoàng hậu sắm đủ thứ vật dụng sang trọng, truyền chở vô ngôi chùa ngày trước. Nhưng có một điều khác lạ, lúc còn là cô bé ăn xin chỉ với hai xu muối, mà thầy Trụ trì bảo chư Tăng đánh chuông trống đón đại thí chủ đến cúng dường. Bây giờ là hoàng hậu, đem rất nhiều tài vật đến cúng nhưng thầy Trụ trì không bảo ai đón. Hoàng hậu đến gặp thầy Trụ trì và hỏi duyên do. Thầy Trụ trì nói: “Ngày xưa hai đồng xu quý, vì đó là mạng sống của con. Do muốn cúng dường con phải nhịn đói, nên hai xu ấy lớn vô cùng. Ngày nay là hoàng hậu, của cải đầy xe nhưng đó là của dân chứ không phải của con. Lấy của người làm phước cho mình, đâu có gì là quan trọng”. Hoàng hậu nghe xong, giật mình thức tỉnh. Qua câu chuyện này cho chúng ta thấy, nhân quả tùy theo tâm. Tâm rộng rãi biết hy sinh thì phước lớn, tâm hơi xem thường thì phước không lớn. Nhân đã gây thì quả phải đến, không chạy trốn đi đâu được. Nhiều vị hay than thở, mình làm phước nhiều mà sao bây giờ vẫn nghèo. Than như vậy là chưa tin nhân quả, bởi tuy ngày nay mình làm phước nhưng nợ trước trả chưa hết, chừng nào trả hết thì mới khá được. Như có người làm ăn được nhiều tiền, nhưng do thiếu nợ phải trả, thành ra không dư dả. Phật tử phải hiểu xa, thấy rõ, đừng vội oán trách này kia, như vậy là không đúng nhân quả. Làm điều lành là gieo nhân lành, đã có nhân lành thì nhất định sớm muộn gì cũng sẽ có quả lành. Nếu chúng ta làm điều dữ, ngay lúc đó chưa trả liền thì thời gian sau cũng phải trả. Lý nhân quả là lẽ thật như vậy. Nếu hiểu và biết sống đúng như lý nhân quả thì đời sống hiện tại được an lành, mai sau cũng an lành. Không hiểu nhân quả, làm bừa làm bướng không sợ tội lỗi thì sau này sẽ khổ. Tất cả mọi người không ai tránh khỏi cái chết, có thân là phải chết. Tôi hỏi quý Phật tử, chết là hết hay còn? Có người nói chết là còn, có người nói chết là hết, nhưng đúng với cái nhìn của đạo Phật thì chết không phải là hết. Bởi thân tứ đại này là do đất, nước, gió, lửa hòa hợp mà thành. Chất cứng là đất, chất ướt là nước, động là gió, nóng ấm là lửa. Khi thân chết tức là tứ đại tan rã, đất nước gió lửa trả về cho đất nước gió lửa chứ không mất. Còn cái hiểu biết của mình thì không có hình tướng nên không có chỗ trả. Hiểu biết sáng suốt ấy, đạo Phật gọi là tâm, người thế gian gọi là linh hồn, tùy theo duyên nghiệp mà đi tới nơi tốt hoặc xấu. Nếu là người hiểu đạo, chúng ta biết ngày mai thân này hoại thì hiện tại phải làm gì? Đừng nghĩ là lên núi tìm thuốc trường sinh uống để sống mãi. Thuở nhỏ chúng ta thường nghe nói, mấy ông tiên uống thuốc trường sinh sống mãi. Nhưng bây giờ quý vị tìm xem, có một ông tiên nào còn không? Nếu thuốc hay thì sống thêm vài trăm tuổi, rồi cũng chết. Cái chết không hẹn trước với người nào, bởi nó là một quy luật không ai chối cãi được. Ai rồi cũng chết, hiểu như vậy rồi thì lúc đang sống tuy phải lo cho sự sống, nhưng cũng đừng quên chuẩn bị cho cái chết. Chuẩn bị bằng cách là ngay bây giờ làm được việc gì tốt lành thì cố gắng đừng bỏ qua, bỏ qua một việc tốt thì sau này thiệt thòi một phần. Làm điều tốt để giúp đỡ lẫn nhau, đem tình thương chan rải trong gia đình và xã hội. Giúp đỡ người bằng tất cả khả năng mình có, dù ít hay nhiều cũng làm với tâm thương người, sẵn sàng giúp họ. Muốn ngày mai ra đi được phước lành thì hiện tại phải làm điều lành, như hôm nay quý Phật tử về đây vui vẻ phụ đổ mái chùa, đó là nhân lành. Được như vậy thì bảo đảm khi nhắm mắt đi đường tốt lành, nếu hung ác thì sẽ đi đường xấu ác. Tương lai rõ ràng trước mắt. Trong một tháng, chúng ta lo cho sự sống hết 20 ngày, còn 10 ngày phải nghĩ đến cái chết để chuẩn bị. Tuy tôi nói 10 ngày, nhưng lúc nào quý Phật tử cũng có thể chuẩn bị cho mình. Giữ tâm sáng suốt, lương thiện để đời sau được sanh ra chỗ lành. Đó là biết chuẩn bị cho cái chết. Nếu chỉ lo ăn uống hưởng thụ, tới chừng ngã ra chết không biết đi đâu thì thật đáng thương. Người sáng suốt khôn ngoan khi sống phải biết dù chứa tiền của đến bao nhiêu khi chết đến cũng không làm gì được. Nhiều khi con cái còn giành nhau, kiện tụng đủ thứ. Người làm ăn có tiền của nên sẵn sàng giúp đỡ những người nghèo, để cuộc sống này ai cũng no ấm vui tươi. Đó là biết thương người cũng là biết thương mình, dành dụm phước lành cho mai sau. Tất cả phải ý thức, đừng chỉ lo cho lúc sống mà quên cái chết. Lúc nào cũng nhớ mình sẽ chết, phải làm sao cho cái chết được tốt đẹp, đời sau bằng hoặc hơn đời này, đừng để sanh ra bị tật nguyền không tốt. Phật tử khéo tu phải biết bòn mót những điều lành, từ việc rất nhỏ đến việc lớn, tránh chừa không làm những điều dữ. Nếu niệm Phật mà ai động tới liền chửi, tức là bị ác khẩu rồi. Nhiều người cứ lầm tưởng, mình tu với Phật chứ không tu với chúng sanh, đó là sai lầm lớn. Phật thương chúng sanh như con, mình không chịu thương con Phật mà cứ thương Phật. Phật đâu có khổ mà thương. Thương chúng sanh chung quanh mình, chính là quý kính Phật. Hiểu được như vậy thì sự tu mới có lợi ích. Tôi đã kể hai vấn đề nhân quả và chuẩn bị cho đời sau, mong tất cả nhớ. Nếu cố gắng thực hành cho bằng được thì bảo đảm quý vị sẽ được bình an trong đời này và cả đời sau. Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 4
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
|
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
4. Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
21. Đạo Phật là đạo của tất cả mọi người (Chùa Phật Quang - Bến Tre)
27. Đạo Phật vì con người, xoáy sâu vào con người (Đạo tràng Trúc Lâm Tuệ Phát)
37. Tại sao Phật tử phải tụng kinh, niệm Phật, trì chú và tọa thiền...