Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 4
14. Thiền tự Đạo Viên (Canada)

Phản quan tự kỷ

Năm 2002

Khi tổ Đạt-ma sang Trung Hoa truyền bá thiền, ngài nói bốn câu kệ:

Bất lập văn tự, 

Giáo ngoại biệt truyền. 

Trực chỉ nhân tâm, 

Kiến tánh thành Phật. 

Dịch: 

Không lập văn tự, 

Truyền ngoài giáo lý. 

Chỉ thẳng tâm người, 

Thấy tánh thành Phật. 

Bốn câu kệ này là chủ trương, đường lối của tổ Đạt-ma truyền dạy thiền. Vì thiền không có văn tự, không có giáo lý, nên nói giáo ngoại biệt truyền. Bởi nhận ra bản tánh của mình thì thành Phật, nên nói trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Đơn giản như vậy.

Xưa nay chúng ta đều ngỡ tâm hơn thua, phải quấy, tốt xấu, được mất, khen chê… là tâm mình nên cứ chạy theo nó hoài. Đến cả khi ngồi thiền hay niệm Phật cũng bị tâm lăng xăng chi phối. Do đó mới tìm đến thầy để cầu cho tâm được an, nhưng làm gì tâm cũng không an. Pháp tu theo Nguyên thủy, muốn an tâm thường dạy quán hơi thở hoặc quán Tứ niệm xứ... Tổ Đạt-ma thì không dạy pháp nào hết, chỉ bảo “đem tâm ra ta an cho”. 

Như vậy, Tổ an tâm mà không dùng một pháp nào, chỉ quay lại tìm xem tâm bất an ở đâu. Chỗ này nhà thiền còn gọi là “phản quan tự kỷ”, tức xoay trở lại chính mình. Câu nói của Tổ làm cho ngài Huệ Khả sửng sốt, quay lại tìm tâm thì không thấy. Không thấy tức là lúc đó tâm đã an rồi, nên Tổ xác nhận “ta đã an tâm cho ngươi rồi”. An tâm mà không có một pháp, nên nói không một pháp cho người. Đây là chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật.

Phật nói thân này do tứ đại hợp thành. Đầy đủ bốn chất đất nước gió lửa thì thân tồn tại, nếu thiếu một thứ là thân mất liền. Trong thân chúng ta, chất cứng là đất, ướt là nước, động là gió, ấm là lửa. Bốn thứ này từ cha mẹ sanh cho tới bây giờ, nó còn nguyên hay luôn đổi thay? Mũi mượn không khí ở ngoài hít vô rồi trả ra, cứ mượn vô trả ra như thế. Nếu mượn trả đều đặn thì sống, còn thở khì ra mà không hít lại thì chết. Một lát mượn tách nước, chén cơm... rồi cũng phải trả. Rõ ràng cuộc sống con người chẳng qua là sự vay mượn. Mượn trả suôn sẻ thì sống, mượn trả không suôn sẻ thì chết. Như vậy, thân này có giá trị chân thật gì đâu mà lầm chấp nó để gây tạo phiền não. 

Về thân là như vậy, còn về tâm thì sao? Đa số người cho rằng những nghĩ suy khôn dại, hơn thua, phải quấy, tốt xấu là tâm mình. Thế nên, cái thân nặng mấy chục ký này bị tâm suy nghĩ ấy điều khiển. Khi niệm muốn đi dấy lên sai thân đi thì nó đi, niệm ăn cơm dấy lên sai thân ăn thì nó ăn... tất cả đều do tâm dấy động thúc đẩy rồi thân làm theo. Có nghĩ mới có hành động, có nghĩ mới có nói năng. Như vậy, nói năng hành động là từ suy nghĩ mà ra, cho nên tâm suy nghĩ là chủ động, còn thân là cái bị động. Nếu suy nghĩ của chúng ta là thật thì phải biết nó ở đâu, ra sao. Bình thường tâm ấy dấy nghĩ hơn thua, nhưng tìm lại thì nó mất, rõ ràng nó không thật. Thiền tông dạy, chỉ cần nhìn lại xem cái tâm suy nghĩ ấy không thật thì tâm tự an. 

Phần vật chất thì nhận thân là thật, nên tìm vật chất cung phụng cho nó ấm no. Phần tinh thần thì nhận suy nghĩ phân biệt là tâm mình thật. Lầm thận hai thứ này thật là tỉnh sáng hay mê lầm? Tất cả chúng ta hiện giờ đang mê lầm, thế mà ra đường có ai nói mình mê quá thì nổi sân liền, vì ngầm cho mình khôn ngoan nên không chấp nhận mình mê muội. Lúc nào cũng thấy mình khôn ngoan, nhưng sự thật không biết mình là gì hết. 

Trong kinh Viên Giác, Bồ-tát Văn Thù hỏi Phật thế nào là vô minh. Phật dạy, chấp thân hư giả cho là thân thật, chấp tâm duyên theo bóng dáng sáu trần cho là tâm thật, đó là vô minh. Sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Mắt duyên sắc, tai duyên tiếng, mũi duyên mùi, lưỡi duyên vị, thân duyên cảm xúc, ý duyên pháp trần. Tâm duyên theo bóng dáng sáu trần mà cho đó là tâm thật. Thấy thân thật, tâm duyên theo bóng dáng sáu trần là thật, đó là đang ở trong vô minh. 

Ngài Huệ Khả thấy tâm lăng xăng làm chướng ngại mình vì ngài ngỡ nó thật. Khi nghe Tổ bảo thì ngài quay tìm, tức là dùng trí tuệ soi sáng lại tâm lăng xăng. Như vậy, tổ Đạt-ma đã dạy ngài Huệ Khả phản quan rồi. Thiền tông từ thời đức Phật truyền cho tổ Ca-diếp mãi về sau, đến ngài Đạt-ma là Tổ thứ 28 thì truyền thiền sang Trung Hoa. Dòng thiền này sang tới Việt Nam, được chư Tổ đời Trần ứng dụng tu, chỉ thẳng không quanh co. Chỉ thẳng ngay tâm mình, biết bóng dáng không thật liền dẹp bỏ, tức cái chân thật hiện tiền. 

Pháp Phật dạy cốt dừng tâm lăng xăng. Tâm lăng xăng là hư dối, nhưng nó lại là chủ tạo nghiệp. Do đó, nếu chạy theo nó thì sẽ tạo nghiệp lành hoặc nghiệp dữ. Tạo nghiệp lành, nghiệp dữ đều đi trong luân hồi sanh tử. Nếu tâm lăng xăng theo chiều xấu thì đi xuống ba đường ác là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Tâm lăng xăng theo chiều tốt thì được làm người, a-tu-la hoặc trời. Tâm lăng xăng đối đãi còn là còn đi trong sanh tử, khi nào tâm lăng xăng đối đãi lặng mất, chừng đó chúng ta mới giải thoát sanh tử. 

Vì để dừng tâm vọng động lăng xăng này, đối với người nặng về lòng tin thì đức Phật dạy niệm Phật. Tin Phật A Di Đà, tin cõi Cực Lạc, tin mình niệm Phật sẽ được Phật đón về Tây phương. Dùng lòng tin tha thiết chí tâm niệm Phật như thế, dần dần tâm lăng xăng lặng sạch. Với người nghiêng về trí quán thì Phật dạy có nhiều cách, như hệ Nguyên thủy thì quán thân bất tịnh nhơ nhớp. Thiền tông thì đi thẳng, biết gốc tạo nghiệp sanh tử luân hồi là tâm niệm lăng xăng, nhìn thẳng niệm lăng xăng lặng hết thì tâm an định, an định thì tâm chân thật hiện tiền, đó là giải thoát sanh tử. 

Thiền tông nhìn thẳng để biết tâm vọng tưởng hư giả, tức là không mượn một phương tiện nào để dừng tâm, nên nói không có pháp môn. Vì không có pháp môn nào nên nói giáo ngoại biệt truyền. Nhìn thắng bằng trí tuệ thấy vọng tưởng không thật, làm chủ được nó lâu ngày tự nó tan biến. Tâm lăng xăng hết, nhưng cái biết tâm lăng xăng vẫn hiện tiền, đó là chỗ đặc biệt của nhà thiền. Đi sâu trong cái giả dối không thật để nhận ra cái chân thật muôn đời của mình, tạm gọi là “bản lai diện mục”. 

Dùng trí tuệ nhìn lại thì tâm lăng xăng tan biến, gọi là phản quan tự kỷ. Đây là một pháp tu mà không có pháp gì hết, chỉ lấy trí chiếu rọi lại mình. Người ta tu hay cầu được Phật xoa đầu, Bồ-tát ấn chứng v.v... nhưng nhà thiền không cầu như thế. Dứt tâm lăng xăng rồi thì trí tuệ tự sáng không cầu chi hết, nên nói không phải từ ngoài mà được. Phá tan mê lầm, gọi là giác ngộ. Dừng được tâm sanh diệt, lăng xăng không còn dấy động nữa là đi tới giải thoát sanh tử. Đường lối tu theo Thiền tông là lối tắt, đi thẳng không quanh co cũng không mượn phương tiện. 

Nếu ai nghiên cứu mười bức tranh chăn trâu của Thiền tông, sẽ thấy lối minh họa của các thiền sư hết sức đích xác. Trong mười mục chăn trâu, mục thứ nhất là thằng chăn đi tìm con trâu. Thằng chăn tượng trưng cho trí tuệ Bát-nhã, con trâu là tâm vọng tưởng. Thằng chăn đi tìm trâu, không thấy dấu vết gì hết nhưng vẫn xách roi đi tìm. Sang mục thứ hai, dần dần thấy dấu rồi, thằng chăn tay cầm coi, tay nắm dây dàm xỏ mũi trâu dắt về. 

Chỗ này người ta không hiểu làm gì, đây chính là dùng phương tiện để dừng tâm lăng xăng, phương tiện là giới luật, là sợi dây xỏ mũi kiềm chế con trâu. Như hàng cư sĩ thì giữ 5 giới, Sa-di giữ 10 giới, Tỳ-kheo-ni giữ 348 giới, Tỳ-kheo giữ 250 giới... Bị sợi dây xỏ mũi kiềm chế nên ngoảnh đầu bên này bị giật lại, ngoảnh đầu bên kia bị giật lại. Cũng vậy, giới luật dụ như sợi dây dàm xỏ mũi con trâu. Người tu giữ giới không cho phạm tức là không đi lệch ra phạm vi của mình. Nếu trâu hung hăng quá, lôi không thèm đi thì chú mục đồng phải cầm dây roi để đánh. Roi và dây dàm dụ cho giới luật. 

Trí tuệ Bát-nhã là trí tuệ sáng suốt của mình, biết con trâu hung hăng nên đi tìm bắt, trừng phạt không cho nó chạy nữa. Sở dĩ chúng ta ngồi thiền là để kiềm chế, giữ tâm không cho lăng xăng. Sau khi giữ được rồi thì kéo trâu trở về, từ đó thằng chăn mới leo lên lưng cỡi được. Giữ gìn kỹ một thời gian trâu thuần hòa, bấy giờ nó nằm dưới cội cây, thằng chăn dựa cây ngủ không cần làm gì, mà trâu cũng quanh quẩn ở bên, không đi đâu hết. Đây là chỉ cho khi chúng ta theo dõi, điều phục tâm lăng xăng đến lúc nó hiền hòa, yên lặng từ từ. Giai đoạn sau trâu mất hẳn, tức tâm lăng xăng lặng hết rồi, đó là giai đoạn thành công thứ nhất.

Trâu và thằng chăn đều mất, đây là tới mục thứ tám. Không còn trâu, không còn thằng chăn chỉ có một vòng tròn như mặt trăng. Thằng chăn là đối với con trâu, khi trâu còn hung hăng thì phải có lần tìm, đuổi bắt, chăn giữ để kiềm chế nó. Khi trâu thuần rồi thì thằng chăn đâu cần làm gì nữa. Cũng vậy, khi tâm còn lăng xăng thì chúng ta phải nhìn theo dõi, không để cho nó lăng xăng. Khi tâm lăng xăng ấy đã yên lặng rồi thì mình còn dùng trí nhìn nó làm chi. Do đó trâu mất thì chăn cũng không còn. Thế nên, lúc đó trí cũng lặng. Cái bị thấy hết thì người hay thấy cũng lặng luôn. Cái bị thấy là tâm lăng xăng, người hay thấy là trí Bát-nhã, cả hai đều mất chỉ còn một tâm lặng lẽ. 

Đến đây nhà thiền gọi là đầu sào trăm trượng cần phải nhảy qua khỏi chỗ này nữa. Như người trèo lên cây trăm thước, khi trèo lên là còn có cây để trèo. Trèo tới đầu sào chót ở trên, phải nhảy qua khỏi mới đến đích được. Nhảy khỏi đầu sào trăm trượng mới thể nhập Pháp thân. Chúng ta có Pháp thân chân thật nhưng lâu nay quên mất, bây giờ trở về được nên gọi là thể nhập. Trong mục thứ chín tượng trưng bằng hình ảnh lá rụng về cội, chim bay về tổ. 

Thể nhập Pháp thân rồi thì tới mục thứ mười là thõng tay vào chợ, với hình ảnh ông già bụng bự, tay quảy cá chép, tay cầm bầu rượu đi vô xóm làng để giáo hóa chúng sanh. Thể tánh chân tâm có đầy đủ ba thân: Pháp thân, Báo thân, Ứng thân hay Hóa thân. Người thể nhập Pháp thân rồi thì tùy duyên thị hiện độ sanh. Bằng con mắt trí tuệ nhìn thấy chúng sanh nào có căn cơ thức tỉnh thì lăn xả vào đó để hóa độ họ. Với kẻ say mê rượu chè thì tới quán rượu tìm cách gần gũi để giáo hóa. Tóm lại, chúng sanh mê say cái gì thì tùy theo đó mà hiện thân ứng hóa độ họ. Vì vậy, tượng trưng bằng hình ảnh ông già tay xách bầu rượu đi vào xóm làng. Đây là pháp Đồng sự nhiếp trong Tứ nhiếp pháp. 

Bồ-tát có đủ hình thức, đủ phương tiện thị hiện để làm lợi ích cho chúng sanh. Khi người say mê rượu chè, cờ bạc hoặc làm việc gì không tốt, kịp thời có người ngăn cản không nên làm, đó chính là Bồ-tát hiện thân để nhắc nhở chuyển hóa họ. Với hình thức của một thầy tu thì không thể giao du với người uống rượu được, vậy làm sao khuyên ngăn. Thế nên Bồ-tát phải có hình thức như vậy, gọi là ứng thân để giáo hóa chúng sanh. Tinh thần tu Phật kỳ đặc ở chỗ đó. Thấy thân giả, tâm hư dối, biết rõ không mê lầm, nên Bồ-tát luôn nỗ lực quyết tu tiến tới giải thoát. Thế nhưng các ngài luôn thị hiện tất cả tướng để tùy duyên hóa độ chúng sanh chứ không thảnh thơi bỏ mặc ai làm gì thì làm. Ðó là tinh thần tu hành của Bồ-tát. 

Người tu theo Thiền tông tới chỗ tâm thanh tịnh không còn vọng niệm, khi đó trí tuệ Bát-nhã cũng buông luôn. Có người thắc mắc, nếu buôn luôn trí tuệ Bát-nhã vậy mình có ngu không. Nhiều người sợ tu thiền riết thành khờ, vì cho rằng có suy tính việc này việc nọ mới khôn, còn không nhớ nghĩ không tính toán gì hết thì thành ngu. Nếu tu để thành ngu thì chúng ta tu làm chi? 

Một khi tất cả những loạn động sạch rồi, tâm chân thật thanh tịnh sáng suốt hiện ra thì lúc ấy diệu dụng cùng khắp. Phật dạy, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, hay còn gọi là trí vô sư. Người đời quý trọng những vị thông minh có kiến thức cao, nhưng trong đạo Phật thì ngược lại, không quý trí tuệ thế gian mà quý trí tuệ xuất thế gian. Trí tuệ thế gian là trí hữu sư, còn trí tuệ xuất thế là trí vô sư. Vô sư là không thầy. 

Khi thái tử Tất-đạt-đa rời bỏ khổ hạnh, đến dưới cội cây tất-bát-la thiền định. Đến đêm thứ 49, trong khoảng canh một tới canh hai Ngài chứng Túc mạng minh, rõ sáng biết được sanh mạng vô số đời trước của mình. Ngài nói: “Ta nhớ vô số kiếp về trước như nhớ việc mới xảy ra hôm qua, rõ ràng không có chỗ sai sót”. Từ đó Ngài biết con người không phải mới có mặt một lần ở đời này, mà đã vô lượng lần sanh đi tử lại. 

Khoảng canh hai tới canh ba, Ngài chứng được Thiên nhãn minh. Với con mắt này, Ngài thấy thấu suốt tất cả sự vật lớn nhỏ dù ở rất xa. Ngài nói trong bầu hư không này có hằng hà sa số thế giới. Phật thấy các thế giới nhiều như cát sông Hằng ở Ấn Độ, mà không phải nhìn qua kính viễn vọng, cho đến những vật nhỏ tí ti như vi trùng trong bát nước, Thế nên Phật dạy các thầy Tỳ-kheo khi uống nước phải lọc kỹ và tụng bài kệ: 

Phật quán nhất bát thủy, 

Bát vạn tứ thiên trùng, 

Nhược bất trì thử chú, 

Như thực chúng sanh nhục. 

Đức Phật thấy xa thật xa, nhỏ thật nhỏ. Ngài thấy chúng sanh sau khi thân hoại bị nghiệp dẫn đi luân hồi trong sáu đường, như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường thấy kẻ qua người lại rõ ràng. Vì vậy Phật mới nói lý luân hồi nghiệp báo, để nhắc nhở mọi người biết thức tỉnh, dè dặt để đời sau đừng đọa vào những đường khổ. 

Từ canh ba đến canh năm, khi sao mai vừa mọc Ngài chứng được Lậu tận minh, không còn rơi rớt lại trong sanh tử ở tam giới nữa. Sau đó, Phật giảng nói về pháp Tứ đế v.v... chỉ rõ nguyên nhân nào chúng sanh trầm luân, nguyên nhân nào thoát khỏi vòng sanh tử. 

Như vậy, thời gian Phật ngồi dưới cội bồ-đề, Ngài chỉ định tâm cho yên lặng hoàn toàn, từ đó tự sáng lên chứ hoàn toàn không học với ai hết. Trí tự sáng ấy là trí vô sư. Thế nên Phật nói: “Ta học đạo không thầy”. Ngồi thiền là một phương tiện để dừng tâm lăng xăng tạo nghiệp, tới chỗ an định hoàn toàn. Khi tâm an định hoàn toàn rồi thì trí tuệ vô sư hiển bày, vượt hết tất cả trí phàm tục. Biết mấu chốt đó chúng ta mới nắm vững đường tu mà Phật đã dạy. 

Phật chỉ cho chúng ta hai con đường: 

1. Nếu còn sanh tử thì lựa sanh tử tốt, tránh sanh tử xấu. Đó là đi trong ba đường lành: trời, a-tu-la, người.

2. Hai là giải thoát sanh tử. Định tâm yên lặng dứt hết mầm suy tưởng, được hoàn toàn an định, trí vô sư hiển hiện. Đầy đủ tam thân, tứ trí, ngữ nhãn, lục thông, v.v... đây là chỗ siêu thoát nhiệm mầu. 

Phật chỉ ra con đường rồi tùy chúng ta chọn lựa, ai muốn đi gần thì chọn lựa đường tốt, ai muốn đi xa thì phải cố gắng tu để vượt ra khỏi sanh tử. 

Trong nhà thiền, các thiền sư luôn luôn chỉ cho người tu thiền biết mà nhận ra cái thật của mình. Đức Phật trên hội Linh Sơn, không thuyết pháp mà chỉ đưa cành hoa sen lên. Sau đó Ngài nhìn khắp chúng hội, tất cả đều ngơ ngác chỉ riêng ngài Ca-diếp nhìn Phật mỉm cười. Phật liền ấn chứng, bảo: Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, nay trao cho Ca-diếp. Ngang đó ngài Ca-diếp được truyền y bát, làm Tổ kế thừa thứ nhất. 

Phật đưa cành hoa sen lên rồi nhìn từng người, vậy Phật muốn chỉ cái gì? Quả là một bài pháp không lời. Câu nói kỳ đặc mà lâu nay ít ai để ý tới, đó là: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm”. Chánh pháp nhãn tạng là chánh pháp từ kho con mắt. Phật đưa cành hoa lên, ngài Ca-diếp nhìn Phật, Phật nhìn ngài Ca-diếp. Ngài Ca-diếp mỉm cười là nhận được chánh pháp từ kho con mắt, từ kho con mắt mà nhận được tánh giác. Do nhận được yếu chỉ này, nên ngài Ca-diếp trở thành Tổ sư. 

Tại sao từ con mắt có chánh pháp? Như bình hoa ở đây, tất cả mọi người nhìn vào ai cũng thấy. Khi thấy bình hoa không suy nghĩ gì, vừa khởi niệm phân biệt bình hoa đẹp xấu thì có thứ khác chen vô. Thấy bình hoa là bình hoa, cái thấy biết đó rõ ràng nhưng vừa có ý nghĩ bình hoa đẹp xấu thì liền có niệm tiếp theo, ai chưng hoa khéo quá hoặc ai chưng xấu quá. Có khen chê thì có thương ghét, từ đó tạo nghiệp. Nếu thấy bình hoa chỉ là bình hoa thì đâu có tạo nghiệp. 

Từ đây nghiệm ra các việc khác cũng như thế. Cái thấy biết sẵn ngay nơi tai mắt mình, thấy biết ở chặng thứ nhất thì đúng, mà qua chặng thứ hai thứ ba thì sai. Bởi chặng thứ nhất là cái thấy thật, qua chặng thứ hai, thứ ba có tình thức xen vô nên hết thật. Có tình thức là có tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử. Nếu biết sống trở lại tâm chân thật thì ra khỏi luân hồi sanh tử, ngược lại sống với tâm phân biệt lăng xăng thì trôi lăn mãi trong sáu đường, không biết bao giờ ra khỏi. Phật muốn cho chúng sanh thấy cái chân thật hiện tiền của mình, nên dạy dẹp bỏ hết những thứ hư dối, đừng mê lầm nữa. Như vậy tu thành Phật là trở về với tâm bất sanh bất diệt thường hằng của mình. 

Ở Việt Nam, Thiền tông đời Trần lấy “phản quan tự kỷ” làm bổn phận chủ yếu của người tu. Đến ngày nào tâm hoàn toàn yên lặng thanh tịnh, chừng đó sẽ giác ngộ viên mãn. Cách chỉ dạy này không khác với cách chỉ dạy của đức Phật chỉ dạy cho ngài Ca-diếp, tổ Đạt-ma chỉ dạy cho tổ Huệ Khả. Thật là một hệ thống từ đầu tới cuối, nhất quán không hai. 

Tuệ Trung thượng sĩ tu đúng như vậy nên tuy còn gia đình, đầy đủ thê thiếp mà vẫn ngộ đạo. Tới giờ phút sắp lâm chung, ở tại Dưỡng Chân Trang, ngài nằm yên nhắm mắt, các thê thiếp nghe vậy chạy ra khóc lóc, ngài mở mắt ngồi dậy bảo lấy nước rửa mặt. Rửa mặt xong, ngài quở: “Ta đi có nơi, về có chốn. Các ngươi khóc lóc làm náo loạn chân tánh ta”. Nói rồi nằm xuống thị tịch. Dù là một người cư sĩ nhưng khi nhận ra cái thật rồi, lúc ra đi rất thảnh thơi. Điều này cho thấy, quý Phật tử còn tóc đừng ngại tu không được. Còn tóc hay cạo tóc gì miễn là thực hành đúng thì kết quả như nhau. 

Đó là những gì tôi muốn nhắc nhở quý Phật tử, mong tất cả ghi nhớ và cố gắng thực hành để được giải thoát an vui.

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 4
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
Danh sách chương: