|
Tông Môn Cảnh Huấn 4
2. Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (Chùa Lân)
Khái quát về tinh thần Trúc Lâm Yên Tử Hôm nay được phúc duyên trở về chốn Tổ, tôi xem nơi đây như Tổ đình của mình. Vì tôi chủ trương khôi phục Thiền tông Việt Nam nói chung, hay Thiền tông đời Trần nói riêng. Thế nên khi lập thiền viện ở Đà Lạt, tôi đặt tên là thiền viện Trúc Lâm, tức là gọi tắt từ chữ Trúc Lâm Yên Tử. Tôi thường nói, Thiền tông đời Trần là nền tảng của Thiền tông Việt Nam. Vì vậy muốn khôi phục Thiền tông Việt Nam, chúng ta cần phải biết rõ Thiền tông đời Trần có những ưu điểm gì mà chủ trương khôi phục. Trước hết, tôi nói khái quát về tinh thần và sơ lược lịch sử của hệ Trúc Lâm Yên Tử. Xưa kia Trúc Lâm Yên Tử là nơi xa xôi hẻo lánh, rừng rú cọp sói ở đầy, ít có người lai vãng. Vào đời Lý, thiền sư Hiện Quang là một bậc tu hành đắc lực, nhưng do ở gần thành thị nên có một cô công chúa thường đến cúng dường, dần dần ra vẻ quyến luyến ngài. Cảm thấy trở ngại cho việc tu hành, ngài bèn rút lui lên vùng núi rừng Yên Tử để ẩn tu và đắc đạo ở đây. Như vậy, ngài Hiện Quang là vị thiền sư đầu tiên đến ở tu trên núi này, sau có quốc sư Phù Vân và kế tiếp là vua Trần Thái Tông. Khi vua Trần Thái Tông trốn triều đình quyết tìm lên núi Yên Tử để tu, tới đây vua gặp quốc sư Phù Vân là đồ đệ của thiền sư Hiện Quang. Có thể nói, quốc sư Phù Vân vừa là một bậc tu hành đạt đạo, vừa là người rất có tâm đối với đất nước. Cho nên khi nghe vua Trần Thái Tông xin ở tu, ngài nói: “Lão tăng ở chốn sơn dã đã lâu, xương cứng mặt gầy, ăn rau rừng, nhai hạt dẻ, uống nước suối, vui cảnh núi rừng đã quen, lòng nhẹ như mây nổi, cho nên mới theo gió mà đến đây. Nay bệ hạ bỏ địa vị nhân chủ mà nghĩ đến cảnh quê mùa rừng núi, hẳn là muốn tìm cầu gì ở đây cho nên mới đến?”. Vua thưa: “Trẫm còn thơ ấu đã sớm mất mẹ cha, chơ vơ đứng trên sĩ dân, không có nơi nào để nương tựa. Lại nghĩ rằng, sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường cho nên mới vào đây, chỉ muốn cầu thành Phật chứ chẳng muốn tìm gì khác”. Quốc sư nói: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm lắng lặng trí tuệ xuất hiện, đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy, tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không cần đi tìm cực khổ ở bên ngoài”. Quốc sư Phù Vân dạy cho vua biết, Phật trong tâm của mỗi người chứ không phải ở bên ngoài, dù có lên rừng lên núi cũng không bao giờ thấy Phật. Khi nào tâm lắng sạch mọi vọng tưởng phiền não, chỉ thuần một tánh tri giác thường nhiên thì đó chính là Phật, đừng đi tìm đâu xa xôi. Nhà vua nghe câu nói này liền khai ngộ. Lúc đó Trần Thủ Độ là người đứng ra lãnh đạo quốc gia dưới nhà vua, nên khi biết vua bỏ triều đình đi tu, ông mới ra lệnh cho bá quan lên núi Yên Tử tìm đón vua về kinh. Trần Thủ Độ yêu cầu vua quay lại lãnh đạo đất nước, vì quần chúng thương trông đợi nhà vua trở về. Nghe lời Trần Thủ Độ nói tha thiết, vua Trần Thái Tông bạch lại với quốc sư. Quốc sư cầm tay nhà vua, nói: “Phàm làm đấng nhân quân thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về, bệ hạ không về sao được? Tuy nhiên, việc nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng phút nào quên”. Quốc sư dặn dò vua Trần Thái Tông, phàm đà là đấng quân vương thì làm việc gì cũng phải thuận theo lòng dân. Dân muốn rước về thì nhà vua nên trở về, quan trọng là dù lo việc nước nhưng đừng quên nghiên cứu, tu hành. Lời nhắc nhở của Quốc sư thật rất chí thiết, vừa trọng đạo đức tu hành vừa hợp đạo lý của nhân gian. Một vị thiền sư ở núi tu hành mà vẫn đặt nặng vấn đề người lãnh đạo đất nước phải thuận theo lòng của muôn dân, muôn dân muốn sao thì mình phải thực hiện như vậy. Hai chữ quốc sư là do sau này vua Trần Thái Tông phong, chứ lúc ấy ngài chỉ là một thiền sư ở núi mà thôi. Trần Thái Tông trở về rồi, từ đó về sau tuy lo việc triều chính mà vẫn không quên nghiên cứu kinh điển và tu tập thiền định. Mỗi lúc rảnh việc, vua thường tụng kinh Kim Cang. Một hôm tụng tới câu: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nhà vua khai ngộ. Sau đó, vua có viết quyền Thiền Tông Chỉ Nam và trình lên Quốc sư, nhưng rất tiếc nguyên bản của quyển sách bây giờ đã lạc mất chỉ tìm được lời tựa. Lời tựa này tôi đã dịch trong quyền Khóa Hư Lục, nếu ai có đọc thì sẽ thấy. Thời vua Trần Thái Tông là thời quân Nguyên - Mông kéo sang chiếm Việt Nam, đây cũng là trận đánh thắng Nguyên - Mông đầu tiên của nước ta. Một ông vua vừa lo việc dân, việc nước, lại còn chống ngoại xâm mà vẫn tu hành được, chúng ta bây giờ bảo ráng tinh tấn tu hành thì nói con bận quá tu không được. Quý vị thử nghĩ xem, so với nhà vua thì mình bận nhiều hay ít? Một ông vua đa đoan công việc mà vẫn để dành thời giờ tu hành và ngộ đạo, đó là chuyện quá hy hữu. Chúng ta là con cháu thì phải học hỏi, để noi theo mà cố gắng tu. Nên biết, việc thế gian dù cho có lo hay, làm giỏi đi chăng nữa, nếu ngày nào mình chưa nhắm mắt thì việc cũng chưa rồi. Cho nên mỗi người phải khôn ngoan, khéo học theo gương người xưa, vừa Ìo việc nhà cũng vừa tu hành để gieo nhân tốt lành cho mình, đừng để mất thời giờ luống uổng. Như vậy, thiền sư Phù Vân là thời vua Trần Thái Tông, kế đến là thiền sư Đại Đăng thuộc thời đại vua Trần Thánh Tông. Trần Thánh Tông cũng là một ông vua ở triều lo việc nước nhưng vẫn thấm nhuần và tỏ ngộ được lý thiền. Sang năm tôi sẽ cho in thêm quyển Thánh Đăng Lục, trong đó có kế đủ năm vị vua vừa làm việc nước mà vẫn tu thiền. Đó là Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Quyển sách này cho chúng ta thấy các vua Trần đều hướng về Phật pháp tu hành. Vào triều đại nhà Trần, vị vua trốn đi tu đầu tiên là Trần Thái Tông, đến vị vua thứ ba là Trần Nhân Tông cũng trốn lên núi Yên Tử để tu. Lúc còn là thái tử Trần Khâm, vua cha là Trần Thánh Tông thấy con mến đạo nên gởi ngài đến học với Tuệ Trung thượng sĩ. Tuệ Trung thượng sĩ là một ông quan ngộ lý thiền, những lời dạy về thiền của Ngài rất hay, được ghi chép đầy đủ trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục. Lúc còn nhỏ, vua Nhân Tông đã lớn lên trong sự dạy dỗ về lý thiền. Thế nên vào năm 16 tuổi, được lập làm Hoàng thái tử mà Ngài cố từ chối, nhường ngôi lại cho em mà không được, vì thế Ngài bỏ trốn lên núi Yên Tử để tu. Vua Trần Thánh Tông thấy rõ ngài là người đủ sức để lo việc nước lâu dài, vì vậy cho người lên núi Yên Tử bắt trở về, sau đó truyền ngôi lại cho ngài. Trần Nhân Tông ngộ được lý thiền nơi Tuệ Trung thượng sĩ qua câu hỏi: “Việc bổn phận chủ yếu, căn bản của người tu thiền là gì?; Tuệ Trung thượng sĩ đáp: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”. Nghĩa là quay lại soi sáng chính mình đó là phận sự chính, không do tìm cầu bên ngoài mà được. Ngay câu ấy ngài ngộ, sau đó từ giã Thượng sĩ trở về làm bổn phận của mình. Như vậy, vua Trần Nhân Tông đã ngộ đạo lúc còn làm thái tử, nhưng vì trọng trách của một người lo cho dân, cho nước, nên ngài đành phải lên ngôi vua. Thời của ngài, đất nước chúng ta có hai trận đánh đuổi giặc Nguyên - Mông. Sau khi chiến thắng ngoại xâm, năm đó ngài 40 tuổi nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, rồi lên núi Yên Tử xuất gia tu hành, mở ra một dòng thiền thuần túy Việt Nam. Đây được xem là thời đại kỳ đặc của Phật giáo nước ta. Tại sao như thế? Bởi vì thiền sư Phù Vân, thiền sư Đại Đăng tuy là quốc sư, nhưng vẫn theo hệ phái của Phật giáo Trung Hoa. Nhưng đến vua Trần Nhân Tông vì không muốn lệ thuộc nước ngoài, nên ngài chọn lấy tinh ba của dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường dung hội lại, lập thành một hệ phái lấy tên là Trúc Lâm Yên Tử, ngài là người đứng đầu và trở thành Sơ Tổ của phái thiền này. Một thiền sư Việt Nam đứng ra lập một tông phái thiền Việt Nam, thế nên ngày nay khi muốn khôi phục Thiền tông Việt Nam, tôi y cứ vào Sơ tổ Trúc Lâm và coi đây là Tổ đình, điều này hoàn toàn hợp lý. Chủ trương của tôi là thế, nên xem như chúng ta thuộc hệ thống Trúc Lâm Yên Tử, đã là con cháu thì mình phải kính trọng, tôn quý chư Tổ ở đây, đó là lẽ đương nhiên. Đây là lần thứ hai chúng tôi lên tới chốn Tổ. Kỳ trước là vào năm 1990, đường sá còn rất khó khăn, phải để xe xa tận ngoài kia rồi lội bộ lên đây. Bắt đầu đi từ 6 giờ sáng mà leo lên tới nơi đã gần 2 giờ chiều, nhìn thấy ngôi chùa quá nhỏ không tiện để ở lại, buộc lòng chúng tôi phải trở xuống chùa Long Động ngủ nhờ rồi trở về. Lần này phương tiện xe cộ tốt hơn, lên núi có thể tạm nghỉ lại được, nên tôi nhất định đi và xem như cũng là kỳ cuối, vì tuổi tôi đã cao rồi. Chúng ta lên đây chiêm bái nhằm tỏ lòng quý kính, quy hướng chư Tổ. Chuyến đi này được sự hưởng ứng của quý Phật tử ở Hà Nội và các tỉnh thành lân cận khá đông, tôi thấy rất vui vì mình về đây không đơn độc. Chúng ta về đất Tổ với một lòng thành kính biết ơn, cùng có cả thầy trò Tăng Ni và Phật tử đông đảo như vầy là rất tốt, rất quý. Tôi nói qua như thế để quý Phật tử thấy được chủ trương, đường lối mà tôi lập ra. Tôi lập thiền viện Trúc Lâm cũng chính là muốn Tăng Ni chuyên tu theo hướng của Sơ tổ Trúc Lâm chỉ dạy. Sơ Tổ dạy pháp tu rất nhiều, nhưng về nghi thức thời khóa thì không nói tới, nhưng ông nội ngài là vua Trần Thái Tông, có soạn ra nghi thức Lục Thời Sám Hối làm thời khóa tụng hằng ngày. Tôi thiết nghĩ mình đã tu theo Phật giáo Việt Nam, vậy thì có hai điều chúng ta không thể thiếu được. Thứ nhất, Tổ sư Thiền tông Việt Nam phải là người Việt Nam. Thứ hai, nghi thức tụng niệm của Thiền tông Việt Nam phải do những vị Tổ Việt Nam soạn. Do vậy tôi y cứ theo khoa nghi của vua Trần Thái Tông soạn, lấy đây làm thời khóa tụng. Nhưng vì không đủ giờ tụng hết sáu thời, nên tôi tóm lược gom gọn lại, chỉ còn một thời để Tăng Ni, Phật tử tụng niệm hằng ngày. Sơ tổ Trần Nhân Tông khi còn làm thái thượng hoàng, ngài có làm bài Cư Trần Lạc Đạo Phú, nói lên tinh thần ở trong lòng bụi bặm trần thế mà vẫn vui với đạo, vẫn tu tập được. Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc xan hề khốn tắc miên. Gia trung hữu bảo hưu tầm mích, Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền. Câu kết của bài phú này rất quan trọng, vì thế ba câu trước tôi chỉ giảng sơ sơ thôi, đến câu cuối sẽ giải thích kỹ hơn. Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, chữ trần là chỉ cuộc đời. Chúng ta ở giữa cuộc đời muốn được vui với đạo thì hãy khéo sống tùy duyên. Tùy duyên tức là không đòi hỏi, không thắc mắc. Việc gì đến thì làm hết bổn phận, không ôm lòng so tính, không tiếc nuối hay lo buồn. Cơ tắc xan hề khốn tắc miên, đói đến thì ăn mệt ngủ liền. Nói đói ăn mệt ngủ không phải chủ yếu ở việc ăn ngủ, mà trong tất cả việc làm của chúng ta, cũng đều như khi đói cần ăn thì ăn vậy. Việc cần làm thì làm, việc qua rồi thì thôi, đừng suy nghĩ việc làm này sẽ lợi hại thế nào, được mất nhiều hay ít... Đó là chúng ta khéo sống tùy duyên. Nếu làm xong rồi mà đầu vẫn cứ căng hoài thì không lợi ích gì. Việc đã làm, dù kết quả tốt hay không tốt mình cũng chấp nhận thôi, vì làm rồi có hối tiếc chỉ vô ích. Gia trung hữu bảo hưu tầm mích, trong nhà mình đã sẵn có của báu, đừng tìm kiếm ở đâu nữa. Của báu nhà mình là gì? Thân chúng ta và ngoại cảnh bên ngoài đều vô thường hư hoại, nhưng trong vô thường hư hoại đó lại ngầm có cái chưa bao giờ bị vô thường, chưa bao giờ hư hoại. Cái không bị vô thường hư hoại đó hơn hẳn tất cả của báu thế gian, cho nên ngay nơi mình mà nhận lấy chứ đừng chạy tìm kiếm bên ngoài. Không tìm kiếm ở đâu hết, vậy thì phải tu bằng cách nào? Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền. Thấy người vật, hoa có v.v... tất cả các cảnh tượng, cái gì ra cái ấy, tốt biết tốt, xấu biết xấu mà không để tâm dính mắc vào ngoại cảnh, gọi đó là vô tâm. Vô tâm là không dính chứ không phải là không biết gì. Thấy trắng biết trắng, đen biết đen mà nói không biết gì sao được? Nếu đối với sáu trần thấy biết tất cả nhưng thấy chỉ là thấy, biết chỉ là biết, không dính không kẹt thì dù cho đi đứng hay nằm ngồi cũng đều là thiền, chứ không phải lúc ngồi mới thiền. Qua bài kệ này, chúng ta thấy ngài nói về lý thiền thật thấu đáo. Không để tâm rong ruổi theo sáu trần, đó là gốc của tu thiền. Ở Trung Hoa, Lục tổ Huệ Năng khai ngộ từ câu nói trong kinh Kim Cang: Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Nghĩa là, không nên khởi tâm dính mắc vào bất cứ một thứ gì. Ở Việt Nam, vua Trần Thái Tông cũng ngộ từ câu kinh này. Đến như vua Trần Nhân Tông, giải thích về thiền rất khéo vẫn không ngoài ý ấy. Gốc của thiền truyền bá từ xưa tới giờ là như vậy. Phật giáo Việt Nam có một hướng đi do chư Tổ cùng các hàng tôn túc đã chỉ dạy rất rõ, nhưng rất tiếc bao nhiêu năm nay mình bỏ quên. Bây giờ đất nước yên bình, việc tìm hiểu và nghiên cứu được thuận lợi hơn, vì vậy tôi cố gắng làm sống dậy tinh thần thiền Trúc Lâm Yên Tử. Nói làm sống dậy, không có nghĩa để lợi ích gì riêng cho cá nhân, mà tôi làm việc này là vì muốn đem lại những điều tốt đẹp cho Phật giáo Việt Nam. Tại sao tôi nói như thế? Bởi vì ở Ấn Độ, đức Thích Ca trước khi thành Phật, Ngài là một vị hoàng thái tử sắp lên ngôi vua, nhưng từ bỏ tất cả để tu đạo và giác ngộ thành Phật hóa độ chúng sanh, được hết thảy nhân loại đều kính trọng. Ở tại đất nước Việt Nam cũng có một ông vua hiểu được pháp Phật dạy, từ bỏ ngai vàng đi tu ngộ đạo rồi giáo hóa mọi người cùng hiểu đạo. Thái tử Tất-đạt-đa tự tìm ra con đường giác ngộ viên mãn, nên gọi Ngài là Phật. Nhà vua chúng ta nương theo pháp Phật mà tu hành, tức là xưa kia đức Phật đã khơi dậy và vạch ra hướng đi sẵn rồi, bây giờ nhà vua nương theo lời chỉ dạy của Phật mà ngộ đạo, vì thế gọi ngài là Tổ. Một ông vua giàu sang phú quý, địa vị quyền thế tột cùng mà không màng, dám bỏ tất cả để đi tu theo đạo Phật, rồi lại đem đạo giác ngộ để truyền bá cho mọi người cùng hiểu. Bấy nhiêu đó chứng tỏ đạo Phật giá trị tới cỡ nào, vậy tại sao chúng ta lại thờ ơ xem thường đạo Phật! Ngày nay đa phần cho rằng đạo Phật bi quan yếm thế, người tu theo đạo Phật là những người tiêu cực yếu đuối. Đây là một lầm lẫn lớn. Thêm vào đó, ngay trong đạo Phật cũng có những người đi tu vì hoàn cảnh chứ không phải thật tâm quyết tìm siêu thoát, nên càng làm cho giá trị của đạo Phật bị thấp đi, khiến cho nhiều người coi thường. Bây giờ muốn người ta nhìn Phật giáo bằng tấm lòng kính trọng, đúng với giá trị thật của đạo Phật thì chúng ta phải làm gì? Phải nhắm vào ai để gầy dựng lại? Hẳn là chỉ có Phật giáo đời Trần, với những ông vua dám xả bỏ thế gian tu Phật được giác ngộ, rồi đem pháp Phật truyền bá cho mọi người cùng giác ngộ, đó mới là cái cao siêu nhất. Hôm nay đủ nhân duyên trở về chốn Tổ, tôi nói đôi chút về chủ trương khôi phục Thiền tông Việt Nam. Đây là điều mà tôi đã nhìn kỹ và quyết tâm làm cho kỳ được, mong rằng chư Tăng Ni và quý Phật tử thông cảm cho việc làm này. Đồng thời cũng xin nhắc lại, tôi cố gắng khôi phục Thiền phái Trúc Lâm đời Trần không phải chỉ lợi ích riêng mình, mà vì muốn cho toàn thể Tăng Ni cũng như Phật tử Việt Nam thấy được giá trị cao quý của đạo Phật. Để chúng ta cùng nhau làm sao cho Phật giáo Việt Nam không bị coi thường, mà càng ngày càng tốt đẹp hơn, được mọi người quý trọng hơn. Về thăm Trúc Lâm Yên Tử Sau khi thiền viện Trúc Lâm Yên Tử xây dựng xong, tôi đã nhập thất hơn hai năm. Hôm nay về thăm lại nơi đây, nhìn thấy chư Tăng nỗ lực vừa tụ vừa lo tôn tạo những cơ sở cần thiết như cất thêm Thiền đường và các thất nhỏ phía trên, còn Phật tử thì đi chùa đông hơn trước. Đó là điều đáng mừng tôi rất hoan hỷ. Chúng ta tu phải tiến, chứ không được lùi. Bởi vì mỗi năm qua mình càng già đi, cái chết gần kề. Mọi người nên biết cuộc đời vô thường, cố gắng thức tỉnh tu hành. Tu cho kịp với tuổi thọ của mỗi người, không nên trì hoãn, vô thường đến trở tay không kịp. Như vậy uổng phí một đời. Lục tổ Huệ Năng nói: “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”. Nghĩa là Phật pháp ở ngay thế gian, không lìa thế gian mà tìm giác ngộ. Chúng ta thấy chỉ một năm mà chung quanh mình đã mất biết bao nhiêu người. Không ít thì nhiều, chẳng năm nào còn y nguyên như vậy. Mỗi lần đi qua những ngôi mộ, chúng ta thấy đây là nơi yên nghỉ của người trước. Một ngày nào đó mình cũng nằm yên dưới mộ. Nhớ như vậy thì thức tỉnh. Biết thân vô thường nên nỗ lực tu, để khi nó bại hoại thì có hướng đi tốt đẹp, sáng sủa hơn. Người khéo tu phải biết như vậy. Nếu mặc tình sống vui với trần tục, tới đâu hay tới đó thì lúc ra đi tâm trạng lo sợ hoảng hốt. Thật khổ! Cho nên, quý vị gắng tu để khi ra đi an nhiên tự tại, vì đã chuẩn bị đầy đủ cho mình một hướng đi tốt đẹp. Hơn nữa, chúng ta lo tu để ngay đời này bớt khổ. Nhiều người cho rằng lớn tuổi mới tu gấp, còn trẻ thì lo gì, vì vậy chần chừ không tu. Tất cả phải hiểu, việc tu tập không dành riêng cho người già mà cho cả người trẻ. Tại sao người trẻ phải tu? Vì nhờ tu mà tạo nên đời sống tốt đẹp, xử sự với nhau hiền lành. Nếu trong gia đình, anh chị em thương mến nhau thì gia đình có hạnh phúc. Nơi nào chúng ta cũng có bạn bè, ai cũng là người thân thì tốt đẹp biết mấy. Người với người cùng một màu da, một chủng tộc khác nào ruột thịt. Ai cũng thương yêu nhau, không hại nhau thì đâu cần phải lo sợ. Chỉ có tu mới đủ tình thương tạo nên một thế giới tốt đẹp. Người không biết tu dễ tàn nhẫn, sát phạt, mưu hại lẫn nhau. Như vậy gia đình riêng cũng không hạnh phúc, huống là cộng đồng xã hội. Chúng ta không nên nghĩ tu tập là chuyện huyền bí xa xôi. Phải nhận định rõ ràng rằng, tu là một việc làm thiết yếu cho con người và cuộc sống hiện tại. Người trong gia đình biết tu thì gia đình hạnh phúc, người trong xã hội biết tu thì xã hội yên ổn, thanh bình. Cho nên, chúng ta tu ngay ở thế gian này, chứ không phải ở cõi nào khác. Có vị đến trước bàn Phật thắp hương cầu xin đủ thứ, mà bình thường thì la mắng con cháu om sòm. Đó là chưa biết tu. Phật thương tất cả chúng sanh, không riêng một cá nhân nào. Không phải ai cầu xin Phật mới thương, không cầu xin Phật không thương. Tình thương của Phật trải khắp nhân gian, vì thương tất cả chúng sanh nên Ngài tìm đạo giác ngộ giải thoát. Chúng ta là đệ tử Phật, phải biết noi theo gương hạnh của Ngài mà yêu thương chúng sanh, từ những người trong gia đình đến người không quen biết ngoài xã hội. Đối với người trong nhà càng phải dè dặt hơn, không nên nghĩ mắng chửi người ngoài có tội, còn la mắng con cháu trong nhà thì không tội. Nếu chúng ta cho rằng, đó là con cháu mình rồi cứ chửi bừa bãi mà không chịu lựa lời hiền hòa để dạy dỗ chúng, đó cũng là cái tội. Phật dạy tu ba nghiệp: thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp. Mắng chửi con cháu tuy ý nghiệp không ác nhưng khẩu nghiệp rất dữ, vì vậy quý Phật tử phải khéo tu. Tu không phải để về Tây phương Cực Lạc mà tu là ngay trong cõi đời này, chúng ta đối xử với nhau trên thuận dưới hòa, thương yêu đùm bọc. Mong mỏi về Cực Lạc mà gia đình bất an bất ổn liên tục thì Cực Lạc đâu không thấy, chỉ có địa ngục hiện tiền. Tu như vậy là sai lầm, thiếu thực tế. Phật tử phải biết điều chỉnh thân miệng và ý cho tốt, đừng để ba nghiệp này lôi vào con đường xấu. Phật pháp tại thế gian là ngay thế gian này chúng ta tu, không đợi đến nơi nào khác mới tu. Đó là tu khẩu nghiệp, còn tu ý nghiệp là thế nào? Đầu tiên giữ cho ý đừng nghĩ xấu người này, người kia rồi ghét giận họ. Ai làm ác thì họ chịu tội, còn chúng ta phải nhìn tất cả đều là người tốt, xem như thân quyến của mình. Không oán thù và hờn giận ai thì tâm trong sạch an vui, oán giận người thì vẻ mặt xấu xí, đêm ngủ không yên. Đối với mọi việc buồn thương giận ghét bỏ hết mới giải thoát triển phược khổ đau. Cho nên người biết tu luôn giữ ý trong sạch. Nếu lỡ phạm sai lầm thì tự tâm sám hối: “Ngày nay con có nghĩ xấu, nghĩ ác, con xin thành tâm sám hối với Phật”. Mỗi tháng nên đến chùa sám hối vào ngày 30, ngày rằm để những nghiệp chướng cũ tiêu mòn dần. Người gan dạ là khi phạm lỗi với ai nên đến sám hối thẳng với người đó. Chúng ta sám hối với Phật thì được nhưng sám hối với người mình có lỗi thì không dám, rõ ràng là thiếu sự can đảm trong tu tập, phải can đảm làm được việc đó thì tội lỗi mới hết. Sám hối với Phật thì Phật tha thứ nhưng người kia đâu có tha thứ, oan khiên còn hoài không tháo gỡ được. Vì vậy, can đảm đối diện với người mình trái nghịch, sẵn sàng sám hối những lầm lỗi mình đã gây tạo với họ; người đó thấy tâm ta đã hối cải, họ liền tha thứ. Như vậy mới hết tội. Sám hối với Phật thì dễ, sám hối với chúng sanh mới khó. Khó mà làm được mới hay, mới xứng đáng là người thức tỉnh. Chúng ta tu ngay thế gian này chứ không ở đâu xa. Thiên hạ mơ tưởng cõi Cực Lạc mà không chịu tu với mọi người chung quanh thì làm sao về được? Muốn về Cực Lạc phải gỡ hết oan khiên trong cõi này, giận người này hờn người kia hoài, đến khi đi bị họ nắm kéo lại không cho đi. Phật tử siêng năng lễ lạy, cầu nguyện xin Phật đủ thứ mà giận ai giận hoài, ghét ai ghét hoài. Như vậy không phải tu tại thế gian, chỉ tu với cõi Tây phương xa xôi nào thôi. Thí dụ ai đó đã làm phiền chúng ta, trong lòng mình buồn lắm, nhưng vì giữ đạo đức nên không cư xử hung dữ với họ. Một hôm, người ấy thức tỉnh đến trước mặt mình xin lỗi: “Hôm đó tôi đã làm điều không tốt khiến anh (chị) buồn. Bây giờ tôi xin lỗi, mong anh (chị) tha thứ”. Ngay đó, nếu chúng ta tha thứ thì cả hai bên đều hết buồn khổ, vui vẻ liền. Về sau gặp mặt nhau là cười chứ không còn nhìn nhau bằng ánh mắt phiền giận nữa. Đó là lẽ thật. Phật pháp không xa, chỉ ngay thế gian mà hiểu đúng đạo lý thì giác ngộ. Chúng ta làm được như vậy thì sẽ hòa thuận được với tất cả mọi người. Không chỉ riêng người ở ngoài, đối với người trong gia đình cũng vậy. Khi chúng ta biết mình rầy la con cháu không đúng, thì đến xoa đầu nó nói: Con bỏ qua cho ba, hồi nãy ba nói như vậy là không đúng. Chúng ta không nên cho mình đúng tuyệt đối, không muốn xin lỗi con cháu. Người lớn phải can đảm hơn người nhỏ. Nếu biết sai thì dù lớn cũng phải xin lỗi đứa nhỏ như thường. Được vậy tu mới tiến, mới không buồn khổ. Tâm ý của chúng ta thường lăng xăng lộn xộn, ít khi được an lành, tự tại. Tăng Ni, Phật tử tu để tâm ý được thanh tịnh. Khi đó nghiệp chướng tiêu mòn, hết sạch. Nên biết tất cả tội lỗi đều từ ý xúi giục. Miệng nói xấu, thân làm xấu đều do ý nghiệp không đúng mà thành. Thế nên ý nghiệp là nghiệp rất nặng nề. Nó là chủ, là gốc tạo nên mọi tội lỗi. Tu tập phải đi từ cạn đến sâu. Ban đầu, chúng ta tu hình thức bên ngoài là cạn. Mỗi khi nghĩ sai liền quở rầy, không cho nghĩ nữa. Sau đó ngồi thiền để lặng cái ý lăng xăng. Một khi không còn nghĩ lăng xăng, không rối loạn trong lòng thì có thể làm chủ được tâm mình, làm chủ được nghiệp. Đó là đi đến giải thoát sanh tử. Quý vị nhớ lời Phật dạy, dừng mọi ý niệm lăng xăng. Ngồi yên tĩnh tọa thiền, thấy từng tâm niệm tốt xấu hiện lên, liền dừng. Ban đầu bắt dừng nó chưa chịu dừng, nhưng tập từ từ sẽ quen. Thực tập quen rồi thì đạo lực của chúng ta mạnh dần, khi đó sẽ làm chủ được. Đó là gieo nhân giải thoát ngay trong đời này. Người ham tu nên tập thói quen mỗi ngày ngồi thiền khoảng nửa tiếng, hoặc một tiếng để nhìn lại tâm ý mình. Thấy niệm khởi lăng xăng liền buông xả, lần lần sẽ yên tĩnh. Sự yên tĩnh này trong nhà Phật gọi là định. Có định thì trí tuệ mới đầy đủ. Tuệ được phát sinh từ định chứ không thể bỗng dưng mà có. Tiếc rằng chúng ta thường nhận cái ý lăng xăng kia làm tâm mình, cái tâm thật thì quên mất, không biết ở đâu. Tôi nghĩ, tôi tính, tôi buồn, tôi giận... cái nào cũng là “tôi” hết. Những suy nghĩ này sanh diệt liên miên, qua rồi mất, không có cái nào là thật. Tâm thật lúc nào cũng hiện tiền, không nên mê lầm tưởng cái giả là thật. Con đường tu không phải đi một chặng mà được. Phải tu từ cạn đến sâu; tu từ thân, miệng rồi đến ý. Người Phật tử biết tu phải hiểu và ứng dụng cho đúng. Đừng tìm cái gì cao siêu, mà ngay nơi ba nghiệp này điều được nó đi đúng đường, tới chỗ thanh tịnh. Mong về cõi tốt đẹp mà ba nghiệp còn lăng xăng, mặc tình tạo nghiệp thì chỉ phí công, vô ích. Biết chuyển hóa ba nghiệp, giữ tâm ý trong sạch mới là thực tu. Đạo Phật không mơ hồ, không viển vông mà chỉ ra lẽ thật. Chúng ta đã tu thì phải tu đúng với những lẽ thật đó. Được như vậy nhất định sẽ có kết quả tốt đẹp, dù tu chưa được nhiều nhưng vẫn có lợi ích. Tôi mong Tăng Ni, Phật tử hiểu được đạo lý này, ứng dụng tu cho đúng để tự cứu mình và cứu người. Hạnh phúc là do chính chúng ta mang lại, chứ không phải ai khác làm cho mình. Đây là lời nhắc nhở đầu năm của tôi đến với các đạo tràng tại đây. Mong tất cả quý vị hiểu và cố gắng thực hành cho tốt. Cái biết chân thật Nhân dịp về dự lễ giỗ Trúc Lâm Đệ Tam Tổ Huyền Quang, tôi có đôi lời nhắc nhở chư Tăng Ni và Phật tử trên bước đường tu hành. Trước hết, tôi xin nói lên tấm lòng cung kính tôn trọng của chúng tôi đối với ba vị Tổ Trúc Lâm. Trước là Sơ Tổ, tức Điều Ngự Giác Hoàng hay còn gọi là Phật hoàng Trần Nhân Tông, kế đến là Nhị tổ Pháp Loa và Tam tổ Huyền Quang. Ngoài ba vị Tổ này, về sau còn nhiều vị tiếp nối Thiền phái, nhưng vì các ngài ẩn cư những nơi xa vắng, nên chúng ta không tìm được sử liệu. Chỉ có hành trạng của Tam tổ là đầy đủ sử liệu lịch sử nên chúng ta biết được các ngài tu và ngộ đạo như thế nào. Tăng Ni, Phật tử noi theo đường lối của Tam tổ Trúc Lâm tu tập, mà không biết rõ Tam tổ tu như thế nào thì làm sao tu theo các ngài được. Cho nên, tuy không nhớ hết lời dạy của chư Tổ, nhưng tôi vẫn nói đại ý những gì các ngài đã tu và chỉ dạy lại để Tăng Ni, Phật tử biết, nương theo đó tu cho đúng. Dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử được sáng lập bởi Sơ tổ Trúc Lâm. Ngài là vị vua dám bỏ ngai vàng, hy sinh cuộc sống hưởng thụ cao sang, làm nhà tu khổ hạnh trong rừng sâu, núi thẳm. Trúc Lâm, Ngọa Vân Am chính là nơi ngài đã tu tập, thành đạo, hóa đạo và viên tịch. Kế thừa sự nghiệp của ngài là Nhị tổ Pháp Loa và Tam tổ Huyền Quang. Đây là những vị Phật sống trong đời thời ấy. Những gì là sự nghiệp của chư Tổ? Các ngài đã hiểu lời Phật dạy, thấy được chỗ Phật chứng nên thực hành đúng như thế. Tu là phải ngộ đạo, kiến tánh chứ không phải tu lấy chừng. Có ngộ đạo, kiến tánh mới giải thoát sanh tử. Bằng không, chỉ loay hoay trong phạm vi phước báu, không giải thoát nổi. Phật nói tu từ sơ phát tâm đến thành Phật phải trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp. Tuy nhiên, còn có một con đường tắt nhất, đó là con đường Thiền tông, con đường mà chư Tổ Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam đã đi. Người quyết chí tu, đi con đường này trong hiện đời có thể giác ngộ. Chỉ một đời mà từ kẻ phàm trở thành thánh. Đường đi rất ngắn nên nếu người không khéo, tu càn tu bướng sẽ sanh bệnh tật. Thế nên, trước khi hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử tu tập, tôi phải tìm hiểu rõ ràng hành trạng của chư Tổ, sau đó ứng dụng tu tập, thấy có lợi ích mới đem chỉ dạy. Tại sao nói tu thiền là con đường thẳng tắt nhất? Vì hành giả tu thiền, ngay đời này đạt đến chỗ cứu cánh viên mãn thì liền giải thoát sanh tử. Thiền tông gọi lối đi này là “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, tức là chỉ thẳng tâm người, nhận được bản tánh, y theo đó mà tu sẽ thành Phật. Có hai lối tu tập: Thứ nhất là đi từ từ, từng bước tu các hạnh: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ... Thực tập một thời gian dài cho đến khi viên mãn các hạnh đó, chứng các quả Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, tiến lên Phật đạo. Thứ hai là đi thẳng vào nội tâm của chính mình. Phật dạy mỗi chúng sanh đều có sẵn tánh Phật, nhưng chúng ta không nhớ nên cứ đi quanh co hết thời gian. Bây giờ, ngay nơi chính mình nhận lại tánh giác thì thấy con đường đó thật gần. Phật tánh không thể tìm ở bên ngoài mà phải đi thẳng vào nội tâm mới nhận ra. Về phần nội tâm, tôi tạm chia ra hai phần: tâm sanh diệt và tâm không sanh diệt. Tâm là cái biết. Cái biết do suy nghĩ, tính toán, phân biệt mà hiện giờ chúng ta đang nhận làm tâm mình là cái biết của tâm sanh diệt. Cái biết không động, không có giới hạn mới là cái biết của tâm không sanh diệt. Cái biết không sanh diệt đó gọi là chân tâm, là Phật tánh, hay tánh giác sẵn có của chính mình. Chúng ta tu là buông hết những cái biết sanh diệt, hằng sống với cái biết không sanh diệt. Nhận ra tánh thật thì thành Phật, không việc gì bên ngoài. Đọc sử đức Phật, sau 49 ngày đêm ngồi dưới cội bồ-đề, Ngài đã giác ngộ viên mãn ngay từ tâm của mình. Thế Tôn thấy mỗi chúng sanh đều có sẵn tánh Phật. Rất tiếc chúng ta không nhận ra, cứ chạy theo vọng tưởng, cho đó là tâm mình. Năm tháng dần dà, bị tâm sanh diệt dẫn đắt, kéo lôi tạo nghiệp, nhắm mắt nghiệp dẫn vào luân hồi. Phật là giác, là nhận ra những sai lầm mà lâu nay con người mê chấp. Chấp thân thật, chấp tâm sanh diệt thật. Đó là mê lầm. Chúng sanh cho những suy nghĩ tính toán là tâm mình, cho thân tứ đại duyên hợp tạm bợ là thân mình rồi bám vào đó. Thân này đến lúc hết duyên cũng phải hoại chứ đâu tồn tại mãi. Nó chỉ có trong một chặng, tùy theo nghiệp duyên riêng của mỗi người. Người dài bảy tám chục năm, người ngắn chỉ được ba bốn hoặc hai ba chục năm. Có rồi mất như vậy thì gọi cái gì là thật. Chúng ta thường quên mất điều này, nên cứ ở mãi trong mê lầm không ra khỏi. Thân không thật thì suy nghĩ có thật không? Chúng ta thứ nhìn lại tâm mình. Tôi suy nghĩ, tôi tính toán, tôi nhận định... Tất cả đều là “tôi”. Vậy thì có một hay có nhiều cái tôi? Nếu là một thì cái một đó có từ khi chúng ta sanh ra cho đến trăm tuổi không bao giờ thiếu. Suy nghĩ thì chợt có chợt không, nay thế này mai thế khác. Chỉ một con người mà suy nghĩ tốt xấu, phải quấy đủ thứ. Mình thì chỉ có một, mà suy nghĩ thì đổi thay như chong chóng. Vậy mà chúng ta cho đó là tâm mình, có phải sai lầm không? Con người bị những thứ hư huyễn quay cuồng, dẫn đi luân hồi muôn kiếp. Bây giờ có chút thời gian thảnh thơi, không nghĩ gì hết, lúc đó chúng ta biết không? Khi suy nghĩ chúng ta cho đó là biết, nhưng thật ra khi không suy nghĩ mình vẫn biết, bởi cái biết luôn luôn hiện hữu nơi mình. Hơn nữa, suy nghĩ có đối tượng, hình tướng, còn cái không suy nghĩ thì không có đối tượng, không hình tướng nhưng nó bàng bạc khắp hết. Cho nên, Phật dạy muốn tu đến giác ngộ thì phải dừng tâm lăng xăng. Tâm sanh diệt dừng thì tâm vô sanh hiện tiền đầy đủ. Tâm này không có tướng mạo nên không sanh diệt, không động nhưng luôn luôn thường biết. Chúng ta nhìn lên trời thấy trời xanh mây trắng. Trời xanh biết trời xanh, mây trắng biết mây trắng. Cái biết đó chính là tâm. Nó không có hình dáng mà mình thấy tận trời xanh, mây trắng. Thế nên nói chúng ta có cái biết trùm khắp, không giới hạn. Vậy mà lâu nay mình bỏ quên, lại cho cái biết lăng xăng trong đầu là cái biết của mình. Rồi đuổi theo buồn thương giận ghét, chất chứa cả đời thành một kho phiền não. Đến lúc nhắm mắt bị nó lôi vào lục đạo luân hồi, có khi đi đường tốt, có khi đi đường xấu. Muốn giải thoát sanh tử thì phải dừng tâm lăng xăng, sống với tâm chân thật hiện tiền. Mắt biết thấy, tai biết nghe, thân biết xúc chạm... Nhận được cái biết chân thật này thì đừng nhận cái biết lăng xăng trong đầu là cái biết của mình để rồi khôn dại, hơn thua đủ thứ. Cái biết lăng xăng đó chỉ hữu dụng trong thời gian ngắn ngủi, có rồi mất. Khoa học ngày nay tiến bộ nhờ có cái biết sanh diệt này. Nhưng sự tiến bộ đó chưa phải là cuối cùng, qua thời gian khác nó lại tiến lên nữa, cứ như vậy mà tiến lên hoài. Trong khi cái biết chân thật miên viễn, muôn đời không mất. Khi chúng ta tu ngộ đạo rồi thì không có gì làm mình lui sụt hay thay đổi. Được vậy thì tự tại, thênh thang trên con đường giải thoát. Đó là điều hết sức cao quý. Phật đã chỉ cho chúng ta biết cái nào thật, cái nào giả. Cái giả thì không theo, cái thật thì sống trở về với nó. Thế nên mới thấy đạo Phật rất khoa học, rất chân thật gần gũi, chứ không phải huyền bí như người đời thường nghĩ. Chúng tôi thấy rất thương những Phật tử, đến chùa thắp hương lễ Phật chỉ để cầu xin. Quý vị tu Phật mà không biết quay lại nhận của báu nhà mình, cứ xin Phật ban cho con cái này cái kia. Điều đó không đúng với tinh thần của đạo Phật. Ngài dạy tu để giác ngộ nhưng chúng ta không chịu tu, cứ xin hoài. Nếu may mắn trúng ý thì nói Phật linh rồi rủ nhau xin nữa. Ngược lại không như ý thì nói Phật không thương. Hiểu đạo lý như thế thì rất nông cạn. Muốn tu đúng với tinh thần của đạo Phật chúng ta phải học hiểu cho thật kỹ. Ngồi yên nhìn lại thấy rõ những suy nghĩ trong tâm, không chạy theo nó mới không có những hành động sai lầm. Vì vậy, trong thời khóa tu tập tại các thiền viện, tôi yêu cầu Tăng Ni phải ngồi thiền. Chỉ ngồi yên nhìn lại mới có thể thấy được. Tuy nhiên, ngồi thiền vọng tưởng vẫn khởi lên liên miên, hết nghĩ cái này tới nghĩ cái khác, nên chúng ta phải tập từ từ. Đang ngồi thiền mà nhớ hôm qua nói chuyện với ai thì liền buông, buông dần dần như vậy đến khi nào ngồi mà không khởi lên niệm gì hết tâm mới yên. Tâm yên thì trí sáng. Định sanh tuệ là như vậy. Trí sáng không phải ở đâu đem lại, mà là từ sự yên lắng, cái chân thật tự động hiển bày. Có Phật tử phê bình Tăng Ni ở thiền viện lười tụng kinh, cứ ngồi làm thinh hoài, không lợi ích cho ai hết. Nghĩ như vậy là chưa đúng. Quý Phật tử phải biết, ngồi thiền chính là cơ hội tốt nhất để chúng ta nhận ra những cái hư dối không theo, nhận lại cái chân thật sẵn có nơi mình. Đó cũng là lý do mà tôi quý kính, tôn trọng chư Tổ. Sơ Tổ của chúng ta đang làm vua mà bỏ ngai vàng lên núi tu khổ hạnh. Bởi ngài biết rõ địa vị, danh vọng thế gian chỉ là tạm thời. Thân không thật thì địa vị cũng đâu có thật. Ngài đi tu để tìm ra cái thật của chính mình. Khi tìm được rồi, ngài chỉ dạy lại cho mọi người. Ở Ấn Độ có ông hoàng đi tu thì ở Việt Nam có ông vua đi tu. Thái tử tu thành Phật, vua đi tu cũng thành Phật, được gọi là Phật hoàng. Con đường chư Phật, chư Tổ đã đi là con đường thắng tắt, gần gũi nhất. Chúng ta là con cháu nối nghiệp các ngài phải nỗ lực tu hành. Thân này tan hoại rồi, về sau mang thân khác biết còn nhớ hay không. Nên khi đang được thân này phải cố gắng tu, đừng xao lãng. Đây là một việc rất dễ mà cũng rất khó làm. Đối với việc tu tập và ngộ đạo, không chỉ riêng người xuất gia mà cư sĩ cũng có thể làm được. Như gia đình Bàng Uẩn ở Trung Hoa. Ông có hai người con, một trai một gái, cùng tu với nhau. Lúc gần tịch, ông báo tin thì hai người con cũng tịch theo, hết sức tự tại. Ở Việt Nam chúng ta, Tuệ Trung thượng sĩ cũng là cư sĩ tu hành ngộ đạo. Ngài sống tại gia, có nhiều thê thiếp, nhưng biết tu rồi thì vẫn ra đi tự tại. Trước khi ra đi, ngài báo cho mọi người biết: Hết duyên ta đi. Người nhà khóc lóc, ngài nói. Ta đi có nơi về có chốn, khóc làm gì? Như vậy ai cũng có Phật tánh, ai cũng có quyền tu. Tuy nhiên, người đủ duyên ở chùa thì tu nhẹ nhàng, người chưa đủ duyên ở chùa thì tu nhọc nhằn hơn một chút, không ai vô phần. Nói thế để tất cả chúng ta có lòng tin vững mạnh nơi mình. Tin mình chứ không phải tin cái gì khác. Chúng ta có tánh Phật thì phải cố gắng sống trở về với nó. Đó là tu theo Thiền tông, là con đường thắng tắt. Ngay nơi đời này chúng ta sống trở lại được thì thành Phật, chứ không phải trải qua bao nhiêu số kiếp. Lối tu của Thiền tông là đi thẳng vào nội tâm, nhận ra ông Phật của chính mình. Tiến thẳng vào đó thì xong việc. Đây là điều mà đức Phật ngày xưa đã chứng ngộ. Trong kinh nói phải tu qua ba a-tăng-kỳ kiếp mới thành Phật, là dạy chúng sanh tu theo thứ lớp. Con đường chúng ta đang đi tuy thắng tắt nhưng không phải chuyện mơ hồ. Chúng ta có cái thật, biết trở về cái thật của mình thì đâu có mơ hồ. Chỉ khi nào không nhận ra, không biết rõ mới mơ hồ. Người nhận ra biết rõ thì không còn nghi ngờ nữa. Cho nên, con đường này là con đường quan trọng bậc nhất của người xuất gia và tại gia. Chúng ta biết tu mới thấy được giá trị siêu việt của nó. Đây là con đường chư Tổ Việt Nam đã đi, chúng ta là những người nối gót theo sau, kế thừa đường lối của các ngài, ứng dụng tu tập và chỉ dạy cho người sau tu hành. Hôm nay, nhân ngày giỗ Tổ, tôi nhắc lại cho Tăng Ni nhớ việc mình phải làm, con đường mình đang đi. Quý vị không thể không biết mình đang làm gì và tu theo ai rồi nghi ngờ không tiến, uổng phí cả một đời. Mong Tăng Ni, Phật tử ghi nhận và cố gắng thực hiện cho được đường lối Phật tổ đã chỉ dạy thật tốt, thật xứng đáng. Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 4
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
|
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
2. Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (Chùa Lân)
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
21. Đạo Phật là đạo của tất cả mọi người (Chùa Phật Quang - Bến Tre)
27. Đạo Phật vì con người, xoáy sâu vào con người (Đạo tràng Trúc Lâm Tuệ Phát)
37. Tại sao Phật tử phải tụng kinh, niệm Phật, trì chú và tọa thiền...