Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 4
28. Căn bản tu hành của Phật tử

Hôm nay, tôi sẽ nói về căn bản tu hành của người Phật tử, để quý vị biết cách tu đúng với lời Phật dạy. Chúng ta đã là đệ tử Phật thì phải đi đúng chánh pháp, làm sao trên đường tu mỗi ngày mỗi tiến. Nếu xưng là Phật tử mà không biết tu thế nào, lại có những tư cách, thái độ không đúng đạo lý, đó là trái với sở nguyện ban đầu. 

Đời Đường ở Trung Quốc có thiền sư Đạo Lâm rất quyết tâm tu hành. Để đạt được kết quả như sở nguyện, ngài ngồi thiền trên cháng ba của một cội đại thụ. Đương thời người ta không biết tên ngài, nên gọi là thiền sư Ô Sào (Điểu Khòa). Ô là quạ, sào là ổ, tức thiền sư ngồi tu trên ổ quạ. Do quyết tâm tu nên chẳng bao lâu ngài ngộ đạo. Từ đó, tiếng lành vang khắp. 

Khi ấy, Bạch Cư Dị là đại văn hào nổi tiếng, rất mến mộ đạo Phật. Nghe danh ngài, ông tìm tới thưa hỏi: 

- Bạch Hòa thượng, cúi xin Ngài nói pháp cương yếu để con theo đó tu tập. 

Ngài liền đọc bài kệ: 

Chư ác mạc tác, 

Chúng thiện phụng hành. 

Tự tịnh kỳ ý, 

Thị chư Phật giáo. 

Dịch: 

Chớ làm các điều ác, 

Vâng làm các điều lành. 

Giữ tâm ý trong sạch, 

Đây lời chư Phật dạy. 

Bạch Cư Dị nghe xong, cười: 

- Bạch Hòa thượng, bài kệ này con nít 8 tuổi cũng thuộc, Ngài dạy con làm gì?

Thiền sư nói: 

- Phải! Bài kệ này con nít 8 tuổi cũng thuộc, nhưng ông già 80 làm chưa xong. 

Bài kệ này thường được in trong lá phái quy y của Phật tử, đủ biết nó quan trọng thế nào, vì đã toát yếu được giáo lý căn bản của đạo Phật. 

Chư ác mạc tác là không làm các điều ác. Muốn không phạm điều ác, tất cả Phật tử khi bước chân vào đạo đều phải giữ giới. Hàng cư sĩ tại gia giữ năm giới: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu mạnh và hút á phiện, xì ke ma túy. Không phạm năm điều ấy thì dừng được tội ác. Ngược lại, giết người hay trộm cắp đều phải tù tội; tà dâm làm gia đình đau khổ, dối trá bị xã hội ruồng bỏ; uống rượu mạnh và hút á phiện, xì ke ma túy sẽ làm mờ tối trí tuệ. Giữ năm giới là chặn đứng không cho tạo điều ác, chỉ làm việc thiện lành. Cho nên năm giới là hàng rào ngăn chặn, không cho chúng ta rơi xuống hố sâu tội lỗi. 

Quý Phật tử thường răn dạy con cái không uống rượu, không cờ bạc, không chơi với bạn xấu, không hút á phiện, xì ke ma túy. Vì lòng thương, muốn bảo vệ con được an toàn, tốt đẹp trong hiện tại và mai sau nên răn cấm như vậy. Lời dạy đó mới nghe qua dường như khắt khe, khó khăn; nhưng nếu con biết nghe lời cha mẹ và vâng giữ thì cuộc đời sẽ tốt đẹp.

Cũng vậy, đức Phật vì thương tất cả chúng sanh, muốn bảo vệ nhân phẩm tốt đẹp của con người, giúp họ bớt khổ thêm vui, trở thành người tốt trong gia đình, xã hội nên mới răn cấm như thế. Nếu Phật tử giữ tròn năm giới, chẳng những đủ nhân phẩm làm người, mà đến khi nhắm mắt được trở lại làm người tốt hơn. Đó là đi theo con đường Nhân thừa Phật giáo, là bước đầu tu Phật. Bước đầu tu được thì bước thứ hai, thứ ba mới tiến lên. 

Trong xóm làng, người nào cũng giữ tròn năm giới thì xóm làng bình yên, tối ngủ không cần đóng cửa, không có ăn trộm, cũng chẳng ai nghi ngờ ai. Đức Phật dạy cụ thể giúp chúng ta sống một cuộc đời bình an với tất cả mọi người chung quanh. Biết tu theo đạo Phật thì chẳng những tiến bộ trong đời này, mà đời sau cũng tốt đẹp.

Phật tử biết tu là dẹp bớt lòng tham. Nếu quý vị làm việc gì cũng thành công thì có chịu dừng lại không? Không. Cứ làm hoài tới chừng lăn đùng chết mà không hay. Lòng người ví như cái túi không đáy, bỏ vào bao nhiêu cũng không đầy. Lòng tham thúc giục đẩy chúng ta làm tất cả việc dù tốt hay xấu. Làm mãi không dừng nên quên nghĩ tới việc tu hành, tới những điều lương thiện, chỉ cốt làm sao cho đầy túi mà thôi. Chừng xoay đầu ngó lại tuổi già chồng chất, chẳng giữ được gì ngoài nghiệp lực đã gây tạo. 

Trong kinh Di Giáo, đức Phật dạy người có lòng tham không cùng tận thì dù được ở cõi trời cũng không vừa ý, người ít tham dù nằm trên bãi cỏ cũng ngủ an lành. Lòng tham không đáy, được cái này lại muốn cái khác, lên cõi trời lại muốn lên cao hơn nữa. Nếu bớt tham sẽ biết tới đâu là vừa với khả năng của mình, dừng lại để có thời giờ tu hành bòn chút phước đức. Đó là người biết tu. Nuôi dưỡng lòng tham thì hết tu, càng được nhiều chừng nào càng khó tu chừng ấy. Chư Phật đã dạy người tham nhiều giống như người khát uống nước muối, càng uống càng khát mà thôi. 

Nhiều Phật tử thường mơ ước được sanh về cõi trời cho sung sướng. Nhưng Phật đã dạy người tu không nguyện sanh lên cõi trời, bởi vì ở trần gian có vui có khổ, nếu thành công đôi ba lần thì cũng thất bại một lần. Khi vui, chúng ta quên tu, nhưng gặp cảnh khổ liền thức tỉnh tu hành. Ở cõi trời toàn là cảnh vui chỉ lo thụ hưởng, không nhớ tu. 

Người thừa tiền của cũng ăn mặc chừng ấy, chứ không thể ăn gấp hai, ba lần người khác. Chúng ta biết chừng mực và giới hạn thì có thời giờ tu. Ngược lại sống sung sướng, mọi sự đều như ý, rất khó tu. Phật nói tuổi thọ ở cõi trời dài bằng trăm ngàn lần ở thế gian. Song, bấy nhiêu thời gian ấy chỉ là thụ hưởng, hết phước rồi cũng chết trở lại những cõi thấp hơn. 

Trong xã hội những người giàu nay tiệc này mai tiệc kia liên miên, không có thời giờ rảnh. Người nghèo thì suốt ngày lo no lo đói cũng khó tu. Những người trung bình lại dễ tu hơn. Cho nên khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hay sung sướng như cõi trời đều không tu được. Ở thế gian có vui có khổ mới dễ thức tỉnh tu hành. Chúng ta muốn tu thì phải ngay thế gian này mà tu, đừng mong lên cõi trời hoặc đừng tạo ác phải rơi xuống địa ngục, chẳng những không tu được mà thọ khổ cùng cực.

Thế thì người tu Phật làm mười điều lành có từ chối lên cõi trời được không? Người tu Thập thiện đủ phước sanh về cõi trời, nhưng chúng ta phải nuôi bản nguyện đời sau được trở lại làm người tiếp tục tu. Đến chừng nhắm mắt, chư thiên xuống rước cũng từ chối, vì chỉ có trần thế này mới đủ duyên để ta thức tỉnh tu hành. Đó là ý nghĩa tu trong đạo Phật. 

Lòng tham đã khôn cùng thì sự nóng giận càng khó dẹp hơn. Vậy nóng giận từ đâu mà có? Một là do tham không được nên sân, hai là do chấp ngã mà sân. Thí dụ cha mẹ bàn việc với con cái, sắp đặt con phải làm thế này thế kia, nhưng con không nghe lời mà làm theo cách khác, thì dù con nói đúng cha mẹ cũng giận. Tại sao giận? Giận vì ta là cha mẹ, phận làm con lại dám cãi. Đó là do chấp ngã mà nổi giận.

Quý Phật tử phải cố gắng tu, bớt tham, bớt nóng giận. Tôi dùng chữ “bớt”, chứ không nói hết. Hết tham, hết sân là thánh rồi. Làm sao để bớt sân? Trong nhà Phật dạy, muốn giảm bớt nóng giận thì phải tập tu đức nhẫn nhục. Nhẫn nhục thế nào? Trong kinh Phật nói: “Nhẫn nhục độ sân nhuế”. Khi gặp việc trái ý, quý Phật tử liền nói: “Nhịn là khôn, nói là dại”. Đọc câu thần chú đó một hồi sẽ không nói, nếu không nói thì không thành tội. Nhưng nhẫn như vậy chưa triệt để, khi khác nhớ lại liền giận tiếp. Thế thì làm sao bứng được gốc nóng giận đó? Phật dạy quán từ bi. Trước là nhẫn nhục để ngăn chặn cơn thịnh nộ, qua cơn thịnh nộ rồi phải quán từ bi. 

Quán từ bi thế nào? Người nói những chuyện không đúng lẽ thật làm mất danh dự của mình, không giận sao được! Thấy mặt là không muốn ngó rồi, làm sao thương? Cho nên, chúng ta phải hiểu những người nói bậy thì không hiền lành, không sáng suốt. Thế mà chúng ta cãi lại, sân giận với họ tức là mình cũng không sáng suốt. Biết người ta quấy, vô lý thì bỏ qua vì họ mê. Chúng ta đã tỉnh, thấy được lẽ thật thì phải khởi lòng thương kẻ mê. 

Bớt nóng giận thì cuộc sống sẽ tốt đẹp biết bao. Sở dĩ thiên hạ cự cãi, gia đình vợ chồng con cái không bằng lòng, làm phiền lụy nhau cũng vì nóng giận. Người này nói người kia cãi, một hồi đi tới đâu? Không ai biết trước được. Sân giận đưa người ta đến những tai họa không lường. Niệm khởi ban đầu rất nhỏ, nhưng hậu quả khó ngừa đoán nổi. Nhà Phật thường nói: “Một đốm lửa sân thiêu hết cả rừng công đức”. Chỉ cần quăng một tàn thuốc vào đám lá khô thì cháy hết cả rừng. Sân thiêu huỷ tất cả công đức tu hành, nên người biết tu phải tập quán nhẫn nhục và từ bi để giảm sân giận. 

Thứ ba là si mê. Si mê có nhiều tầng bậc. Bậc thấp nhất là điều thiện không biết, điều ác không hay, điều phước không rành, điều tội không rõ, điều tà điều chánh cũng không phân biệt được. Tóm lại, si mê là không phân biệt rành rõ thế nào là thiện thế nào là ác, thế nào là tội, thế nào là phước, thế nào là tà, thế nào là chánh.

Quý Phật tử có giản trạch được tà và chánh không? Thí dụ một người chuẩn bị đi xa, đến trước bàn Phật, thắp hương nguyện Phật gia hộ cho con đi đường bình an, đó là điều tốt. Nhưng nếu trên đường đi có ai nói trái ý làm mình nổi nóng, cự lại với họ thì bình an không? Chúng ta đã sáng suốt nguyện Phật gia hộ cho bình an thì chính mình phải biết tu sửa, giảm bớt nóng giận mới bình an. Nếu chỉ trông cậy vào Phật mà bản thân không chịu bỏ thói xấu dở thì không thể bình an. Đó là người chưa hiểu đạo chân chánh.

Chúng ta tin Phật là tin những lời Phật dạy đúng lẽ thật, áp dụng tu sẽ bớt khổ được vui. Chứ không phải tin Phật ban cho cái này cái kia. Phật tử cứ cầu xin Phật chuyện này chuyện nọ là mê tín. Tại sao? Quý vị đến chùa xin Phật, khi về nhà được như ý thì nói Phật linh thiêng, lỡ mai kia xin Phật không được, liền nói Phật hết linh.

Phật đã từng dạy: Ta không có quyền ban phước giáng họa cho ai. Ngài chỉ dạy chúng ta tu để chừa bỏ những điều xấu dở, làm điều tốt đẹp. Phước hay tội, lành hay dữ gốc đều ở mình tạo ra. Gây nhân lành sẽ hưởng quả lành, tạo nhân ác thì nhận quả ác, không có chuyện ban phước giáng họa, mà chính mình phải tự tu, tự sửa. Người biết tu sửa là chánh tín.

Trong những lời Phật dạy, chúng ta còn phải chọn lọc, nghĩ suy, nhận định đúng lẽ thật. Huống nữa là những điều không phải Phật dạy mà vẫn cứ tin. Thí dụ mỗi khi cất nhà, Phật tử thường đi coi ngày, nhưng ngày giờ trong lịch đâu phải chân lý. Nếu là chân lý thì người nào cất nhà gặp ngày tốt cũng phát tài, nhưng thực tế có kẻ giàu, có người nghèo. Thế mà Phật tử không dám cất nhà, phải đợi coi ngày tốt mới dám cất, cũng vì chưa tin chắc lẽ thật. 

Nhiều vị không biết đầu đuôi gốc ngọn thế nào, tưởng rằng việc coi ngày giờ là của đạo Phật. Kỳ thực không phải vậy. Việc coi ngày giờ là trong sách Nho, hồi xưa mấy ông đồ coi ngày giờ để định vợ gả chồng, cúng sao cúng hạn. Sau này, chẳng còn lại mấy ông đồ biết chữ Hán, người ta vô chùa nhờ mấy thầy coi lịch giùm, rồi cúng kính. Việc đó không phải của đạo Phật, mà chúng ta đem vào đạo Phật.

Một điều vô lý nữa là cúng sao cúng hạn. Phật tử cúng sao mà không biết ông sao nào, ở đâu? Đầu năm cúng sao hạn để cầu mong trọn năm bình an mà không nghĩ điều đó có phải lẽ thật hay không. Nếu cúng sao cúng hạn khỏi tai ách thì chắc mấy chú trộm cướp cúng liên miên, để khi trộm cướp khỏi gặp tai nạn, nhưng họ vẫn gặp tai nạn đó thôi. Phải hiểu điều tốt không phải do cúng sao hạn mà được, chính do ta tu tạo phước lành mới được. Người tu Phật phải có trí tuệ, quý trọng chân lý, bỏ đi những điều vô nghĩa.

Muốn bớt si mê, phải bỏ những điều tà. Những điều tà không có gì đảm bảo mà chúng ta cứ theo đuổi. Theo đuổi hoài sẽ trở thành thói quen. Chẳng lẽ suốt đời mình chịu si mê sao? Phải gan dạ, buông bỏ điều không đúng lẽ thật mới là người trí. Tu dẹp si mê để tiến lần lên trí tuệ, chứ không phủ tu để nuôi dưỡng si mê. Nhiều Phật tử không can đảm, nuôi dưỡng si mê hoài. Trong kinh Di Giáo Phật cấm không được xem bói, không được đoán kiết hung... Bây giờ Phật tử cứ tin cứ làm, nghĩa là không nhận lời dạy của Phật. Là Phật tử mà không nghe theo lời Phật dạy thì có lỗi không? Biết là lỗi phải can đảm bỏ đi, không dám bỏ thì rất yếu đuối. Si mê bậc hạ mà quý Phật tử còn chưa chừa được, huống nữa là si mê bậc trung, bậc thượng. 

Người tu không làm ác tức là chặn đứng ba cửa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tối thiểu cũng được trở lại làm người. Nguyện làm người để tu, đời đời sanh ra gặp Phật pháp, tu cho tới ngày thành Phật mới thôi. Nếu muốn hưởng phước cõi trời thì sẽ được sanh lên cõi trời. Đó là chặng thứ nhất. 

Chặng thứ hai là chúng thiện phụng hành, tức làm các điều lành. Quý Phật tử đã làm được bao nhiêu điều lành? Những điều lành nhỏ thì khả dĩ, chứ chưa làm nổi những điều lành lớn. Cho nên, thiền sư Ô Sào nói bài kệ này con nít 8 tuổi cũng thuộc, nhưng ông già 80 làm chưa xong. Làm lành là làm mọi việc lợi ích cho chúng sanh trong khả năng của mình, chứ không phải ai nói gì cũng làm. 

Quý Phật tử thường cho rằng bố thí, cúng dường là làm lành, nhưng thực tế không phải chỉ bấy nhiêu đó. Nếu gặp người đau khổ vì nghèo khó, bệnh hoạn, chúng ta có thể khuyên giải, giúp đỡ họ, đó là điều lành. Làm điều lành tức là thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành. Người giàu bỏ tiền của để làm lành, mình nghèo không có tiền của thì bỏ công. Biết làm lành rồi thì trường hợp nào chúng ta cũng có thể thực hiện được. 

Thứ ba là tự tịnh kỳ ý, nghĩa là giữ tâm ý thanh tịnh. Bởi tâm ý lăng xăng lộn xộn, nghĩ cái này cái kia suốt ngày, nên gom lại bằng một câu niệm Phật. Niệm Phật để không nghĩ bậy, tâm ý trong sạch. Đó là một pháp tu. Hoặc như ngồi thiền đếm hơi thở. Hít vô cùng, thở ra sạch đếm một; hít vô cùng, thở ra sạch đếm hai. Vì nhớ hơi thở ra vô nên không nghĩ bậy, tâm dần dần thanh tịnh. Người tu tiến hơn thì buông bỏ dần tất cả những nghĩ suy, tính toán để tâm ý thanh tịnh. 

Người tu niệm Phật nhất tâm bất loạn từ một ngày đến bảy ngày, khi lâm chung được Phật đón về cõi Cực Lạc. Nhất tâm là chỉ còn một tâm. Khi nhất tâm bất loạn thì không còn niệm nào khác. Tâm hết dơ bẩn, không còn ngầu đục thì được sanh về cõi tịnh. Tâm dơ bẩn quá, Phật nào đến rước? Nhiều người niệm Phật để về Cực Lạc, mà niệm một chuỗi nghĩ lăng xăng đến năm, mười lần thì không thể được. Đó là tu Tịnh độ.

Tu thiền, chúng ta ngồi thiền để bao nhiêu nghĩ suy đều lặng xuống, buông bỏ hết. Tuy nhiên không phải buông một lần liền sạch mà buông từ từ, giảm cho tới khi tất cả vọng tưởng lặng hết thì tâm an định. Quý Phật tử thử đặt câu hỏi: Khi nghĩ một vấn đề thì ai đang nghĩ? Khi giận thì ai giận? Tôi nghĩ. Tôi giận. Vậy cái nào là tôi thật? Đây là vấn đề rất tế nhị, phải suy gẫm cho kỹ. Từ khi cha mẹ sanh ra cho tới ngày nhắm mắt, tôi là một hay nhiều? Thế mà tôi nghĩ, tôi giận, tôi thương, tôi ghét... cái nào cũng giành về mình hết, thì cái nào thật? 

Vậy mới thấy chúng ta lầm lẫn quá đáng, cứ ngỡ cái buồn thương giận ghét, nghĩ suy là tâm mình. Nhưng đó chỉ là cái bóng không thật, dấy lên rồi mất. Như Phật tử đang giận một người, bất thần người thân từ xa về liền tay bắt mặt mừng. Lúc đó còn giận không? Không. Rõ ràng chúng ta bám vào những thứ không thật mà cho là thật, thành ra lẩn quẩn cả ngày.

Có khi nào quý vị không nghĩ gì trong năm phút không? Rất khó. Nghĩ hết vấn đề này tới vấn đề kia. Phật tử thấy một người vừa đi vừa lẩm nhẩm trong miệng, vậy họ có điên không? Nói lẩm nhẩm một mình là điên chứ gì! Chúng ta không nói ra ngoài, mà nói trong suy nghĩ, như vậy cũng điên rồi. Cho nên Phật nói chúng sanh điên đảo là vậy. Tới giờ ngủ không chịu ngủ, cứ nghĩ chuyện này chuyện kia bâng quơ, rõ ràng để vọng tưởng làm chủ mình. 

Ngài Triệu Châu đến tham vấn thiền sư Nam Tuyền, gặp lúc Nam Tuyền nằm nghỉ, nhưng ngài Nam Tuyền vẫn hỏi: 

- Vừa rời chỗ nào? 

Triệu Châu thưa: 

- Vừa rời Đoan Tượng.

- Thấy Đoan Tượng chăng? 

- Chẳng thấy Đoan Tượng, chỉ thấy Như Lai nằm.

- Ngươi là Sa-di có chủ hay không chủ? 

- Sa-di có chủ. 

- Chủ ở chỗ nào? 

- Giữa mùa đông rất lạnh, ngưỡng mong tôn thể Hòa thượng được muôn phước. 

Nam Tuyền khen ngợi liền nhận vào chúng. 

Lại một hôm, ngài Triệu Châu đến hỏi thiền sư Nam Tuyền: 

- Bạch Hòa thượng, thế nào là đạo?

Ngài Nam Tuyền đáp: 

- Tâm bình thường là đạo. 

Người học đạo cầu giác ngộ, chỉ cần giữ tâm bình thường. Nếu để tâm sanh diệt dấy khởi liên miên là bất thường. Như người lấy nước đổ vào khạp, qua một thời gian cặn bã lắng xuống thì nước trong hiện ra. Khi nước đục chúng ta nhìn vào không thấy gì, nước trong thì thấy cảnh, thấy người rõ ràng. Cũng vậy, những nghĩ suy lăng xăng là vẩn đục cặn bã, nó lặng xuống thì tâm bình thường trong trẻo hiện ra. 

Tóm lại, trên con đường Phật đạo người tu phải đi từng bước, bước đầu giữ giới, bước thứ hai làm điều lành, bước thứ ba giữ tâm ý thanh tịnh. Trong đó, bước thứ ba là then chốt của sự tu. Quý vị phải cố gắng, người tu theo pháp môn Tịnh độ, chuyên nhất để niệm Phật nhất tâm. Người tu thiền phải giữ tâm thanh tịnh để được định. Đức Phật thiền định dưới cội bồ-đề 49 ngày đêm, lóng sạch hết phiền não, thành tựu trí tuệ sáng suốt. Bây giờ, chúng ta dừng lại những tâm lăng xăng, phiền não thì trí tuệ hiển bày. Phật ngay tâm mình, chứ không phải trên rừng trên núi. Khéo lóng lặng là tâm Phật, ngầu đục là tâm chúng sanh. Tâm bình thường là đạo, đạo là chân lý của người tu. 

Mong quý Phật tử nhớ, áp dụng những lời tôi nhắc nhở, để tu hành tinh tấn.

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 4
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
Danh sách chương: