Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 4
7. Thiền viện Hương Hải

Hoa hay là rác

Một buổi sáng nọ, tôi đi dạo qua nội viện Ni ở Trúc Lâm, thấy mấy cây hoa trà my nở rộ thật đẹp. Vài hôm sau, tôi cũng đi qua chỗ đó nhưng hoa đã rụng. Thấy hoa rụng xuống đầy đất mà không ai chịu quét, nên Quản chúng rầy: “Rác rến đầy hết mà sao không chịu quét”. Nhân đó mà tôi có đề tài Hoa hay là rác nói chuyện với Tăng Ni và Phật tử ngày hôm nay.

Hôm qua hoa còn ở trên cành ai cũng trầm trồ khen đẹp, nhưng vài hôm sau héo rụng xuống đất thì không ai gọi là hoa đẹp nữa, mà nói là rác rưởi. Vì là rác nên không chịu dẹp sạch thì bị rầy. Như vậy, hoa là hoa mãi hay chỉ ít hôm rồi thành rác. Chỉ việc này, nếu chúng ta nghiệm kỹ sẽ thấy đạo lý rất thâm sâu. 

Lúc còn ở Chơn Không, nhân thấy con chó chết, tôi có làm hai câu kệ: 

Còn động còn ấm còn ta, 

Động dừng ấm dứt thì ma ra đồng

Thân chúng ta cũng vậy, khi còn hơi ấm, còn thở ra vào thì còn là người thân yêu của mình; nhưng phút trút hơi thở cuối cùng, hơi ấm tan dần, lúc đó gọi là người thân yêu hay là thây ma? Cũng như từ một đóa hoa tươi tốt, chúng ta khen quý, ít hôm sau thành rác rưởi bị chê bỏ, không quét không được. Từ một người thân đang được quý mến mà trút hơi thở cuối cùng, tất cả hơi ấm trong người tan hết liền trở thành một thây ma. Dù thân quyến thương mến mấy, cũng không ai dám để thây ma đó trong nhà quá năm bảy hôm. 

Người quý mến của mình hôm trước, bữa nay có khác với đóa hoa không? Đóa hoa còn tươi trên cành được quý, ai hái mình la rầy. Mấy hôm sau nó rụng xuống đất khô héo, ai không quét mình quở. Thân chúng ta khi khỏe mạnh vui tươi ai cũng quý mến, nhưng mai kia tắt thở không còn hơi ấm nữa, chừng năm mười tiếng đồng hồ người ta bắt đầu sợ từ từ rồi. Nếu để năm ba hôm không đậy, chắc chắn không ai dám nhìn, thế thì có thua gì xác hoa rụng đâu. 

Chẳng những thân phận con người, mà tất cả sự vật trên thế gian này đều như thế. Chúng chỉ có giá trị khi còn tốt, còn lợi ích; đến lúc sức tàn lực kiệt, sắc màu phai nhạt thì tất cả đều không ra gì. Vậy mà khi sống còn nói năng đi lại, chúng ta có chịu nhịn, chịu thua ai không? Ít nhiều gì cũng ráng cãi cho thắng người, dù cuối cùng mình chỉ là một thây thối. 

Thiền sư Mãn Giác có làm bài kệ: 

Xuân khứ bách hoa lạc, 

Xuân đáo bách hoa khai, 

Sự trục nhãn tiền quá, 

Lão tùng đầu thượng lai. 

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, 

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai. 

Dịch: 

Xuân đi trăm hoa rụng, 

Xuân đến trăm hoa cười, 

Sự việc trôi qua mãi, 

Trên đầu già đến rồi. 

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết, 

Đêm qua sân trước một cành mai. 

Chỉ bốn câu trên, đủ tả sự đổi thay không bao giờ dừng lại của cả thế gian. Mùa xuân đến hoa nở, mùa xuân đi hoa tàn. Hoa nở rồi tàn, người sanh rồi tử, cũng giống như nhau. Từ các sự vật bên ngoài cho đến bản thân con người đều chịu chung một quy luật, nở rồi tàn, sanh rồi tử, không ai thoát được hết.

Chúng ta hiện sống trên quả địa cầu đang quay vùn vụt, nếu nó ngừng quay thì mọi vật sẽ nổ tung. Con người cũng vậy, sống trong cái động thì tự nhiên chúng ta phải chịu chung một quy luật vô thường. Luật vô thường này không chừa một ai, thế mà mình lại không nhớ. Làm được việc này, việc nọ rồi cứ thế hăng hái xông pha hoài, không nhớ ngày mai mình ra sao!

Thiền sư Mãn Giác nói sự trục nhãn tiền quá, tức là trước mắt luật vô thường giống như dòng nước cuốn trôi hết. Tất cả sự vật trên thế gian đều bị dòng nước vô thường cuốn đi, không dừng ở một chỗ, nhìn lại mình thì đầu đã bạc trắng lúc nào không hay. Đó là luật vô thường cuốn trôi. 

Nhưng trong vô thường đó, thiền sư còn có hai câu thơ sau: 

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, 

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai. 

Tôi dịch là chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết, đêm qua trước sân còn cành mai. Tất cả hoa đều bị thời gian xuân, hạ, thu, đông làm tàn phai, rơi rụng; nhưng có một loài hoa vẫn nở rực vào tiết mùa đông. 

Hai câu thơ chót thật là thấm thía. Trong cảnh đời vô thường, muôn vật cho đến con người, không ai thoát khỏi sự sanh diệt, thế mà vẫn còn có một cái không bị luật vô thường chi phối, vẫn đứng vững giữa dòng chảy vô thường. Đó là cành mai. Như vậy cành mai nói lên ý nghĩa gì? Đạo Phật nhìn đúng chân lý của muôn sự muôn vật, thấy rõ luật vô thường nhưng trong vô thường ấy lại ngầm có chân thường bất sanh bất diệt. Song con người không biết, không nhận ra, nên chỉ thấy luật vô thường chi phối. Chúng ta là hàng xuất gia có nên chấp nhận dòng cuốn ấy, hay giống như hoa mai vẫn nở rực giữa mùa đông lạnh giá? Nếu vượt ra luật vô thường thì gọi là giải thoát sanh tử, còn đi theo luật vô thường là trôi lăn trong sanh tử. Đó là vấn đề hết sức thiết yếu. 

Người xuất gia là người chấp nhận trôi lăn trong luân hồi sanh tử, hay giải thoát luân hồi sanh tử? Đó là câu hỏi mà tất cả Tăng Ni, Phật tử phải hiểu, phải thấm. Chúng ta chịu đưa tay đầu hàng con quỷ vô thường, mặc tình cho nó dẫn đi đâu thì đi. Hay ngược lại, phải thoát ra vòng tay của nó? Nếu quy thuận đầu hàng thì tu làm gì! Ở ngoài thế gian hưởng thụ ăn ngon, mặc đẹp cho sướng. Đi tu chay lạt, khổ sở làm chi rồi cũng bị quỷ vô thường dẫn đi, có hơn ai đâu! Vấn đề này cần phải thâm hiểu cho thấu đáo mới thấy giá trị của người tu là cao siêu. Nếu ta thả trôi, ai sao mình vậy thì người tu không kém gì kẻ thế tục.

Vậy muốn đối đầu với vô thường chúng ta phải làm sao? Hoa mai nở vào mùa đông là hình ảnh thoát ra ngoài định luật vô thường, chúng ta tìm ở đâu ra cái thoát khỏi vô thường đó? Đây là điều then chốt người tu cần phải thấu triệt. Tôi chủ trương mỗi đêm Tăng Ni phải tụng kinh Bát Nhã, xả thiền cũng tụng Bát Nhã, là để làm gì? Nhắc lại một đoạn trong kinh Bát Nhã: “Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”. Nghĩa là: Bồ-tát Quán Tự Tại khi hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền vượt qua tất cả khổ ách. Một câu này thôi, đức Phật đã chỉ cho chúng ta lối thoát ra khỏi vô thường rồi. 

Từ lâu chúng ta sống trong vô minh tăm tối nên chấp thân tứ đại là thân mình thật, tâm sanh diệt nghĩ suy phân biệt là tâm mình thật. Vì chấp thân thật nên quý thân, cũng quý luôn những gì thân ưa thích. Như vậy, từ chấp thân thật mà chúng ta chạy theo sự đòi hỏi của thân, gom góp tất cả vật chất nó thích về mình. Do cho cái hay suy nghĩ, phân biệt, cảm xúc là tâm mình, nên chấp tôi nghĩ thế này, tôi nghĩ thế nọ, tôi buồn, tôi thương, tôi giận, tôi ghét v.v... tất cả đều là “tôi” hết. Thấy thân tâm là thật, Phật gọi đó là vô minh. 

Cuộc sống con người quan trọng ở hai mặt: Vật chất và tinh thần; hay nói cách khác là thân và tâm. Thân thì chấp tứ đại thật, tâm thì chấp phân biệt hơn thua, phải quấy, tốt xấu... là tâm mình thật, rồi tự mãn với bao nhiêu đó. Không biết thân này tạm bợ, đủ duyên thì còn, thiếu duyên thì mất. Trăm người, vạn người, cho đến ức triệu người, không ai thoát khỏi già chết. Cái không thể giữ, không thể còn mãi mà chúng ta cố giữ, như vậy có đúng không? 

Nếu thân này thật thì cha ông chúng ta phải còn. Hỏi ra tất cả đều mất hết, mình cũng sắp mất nữa, vậy thật ở chỗ nào? Thân không thật mà tưởng là thật, đó là mù tối, không nhận chân được lẽ thật. Những suy nghĩ, tưởng tượng, được mất, hơn thua, phải quấy... cho đó là tâm mình. Nhưng nhìn kỹ xem, những thứ đó ở đâu? Tìm lại không thấy, nó biến dạng, biến hình mất tiêu. Nếu thật thì phải có chỗ trú ẩn, nếu không có thì rõ ràng là không thật. Chẳng qua chúng chỉ là bóng dáng tiền trần do mình tưởng tượng ra, rồi theo đó tạo nghiệp chịu luân hồi sanh tử. 

Chấp thân thật, tâm thật là gốc của luân hồi sanh tử, nên đức Phật dạy Bồ-tát Quán Tự Tại quán sắc, thọ, tưởng, hành, thức là không. Sắc tứ là thân tứ đại, duyên hợp tạm có không thật. Thọ tức là cảm giác của mình, mắt thấy sắc liền phân biệt đẹp xấu, đẹp thì thích, xấu không thích, đó là cảm thọ của mắt. Tai nghe tiếng khen chê liền vui buồn, đó là cảm thọ của tai. Cho tới lưỡi, thân cũng vậy, những cảm giác mình ưa thích hoặc không ưa thích v.v... đều thuộc về thọ uẩn. Chúng không tự có, đợi cảnh duyên tiếp xúc với các căn mới có. Như vậy thọ cũng không thật, là tánh không. 

Tưởng tức những tưởng nhớ về quá khứ hay vị lai v.v.. chúng cũng là bóng dáng không thật. Quá khứ đã qua, vị lai chưa đến, hiện tại là một dòng sanh diệt, thế thì tưởng cái gì? Cho nên biết, tưởng chỉ là ảo tưởng thôi, không thật. 

Hành là suy tư, niệm này sanh niệm kia diệt. Thí dụ chúng ta đi chợ, định mua món thứ nhất là rau cải, món thứ hai là nước tương, thứ ba là gì gì đó. Nghĩ cái này tiếp cái kia, nghĩ luôn luôn không dừng, nên gọi là hành. Nghĩa là từng bước từng bước tiếp nối, chứ không dừng ở một chỗ. Nên nói, hành cũng không thật. 

Thức phân biệt đẹp xấu, hơn thua, phải quấy... là y cứ trên căn và cảnh mà có sự phân biệt. Nếu căn cảnh đã không thật thì thức cũng không thật. 

Tóm lại thọ, tưởng, hành, thức, bốn thứ này thuộc tâm; sắc thuộc về thân. Bản tánh của thân tâm là không, duyên hợp tạm có, hư ảo không thật. Do chúng ta thấy nó thật nên mới sanh ra luân hồi, khổ đau muôn kiếp. Chỉ cần soi thấu sắc uẩn là thân duyên hợp hư dối; thọ, tưởng, hành, thức |à bóng dáng duyên theo sáu trần không thật. Hai thứ đó đều không thật, tánh nó là không, theo duyên tạm hiện. Thấu đáo điều đó rồi, chắc chắn chúng ta vượt qua hết tất cả khổ ách. 

Chúng ta tu là thâm nhập lời Phật dạy, hiểu cho thấu đáo để ứng dụng tu, chứ không phải tụng kinh cho Phật nghe. Phật thuộc rồi mới dạy mình, vậy mà đêm nào ta cũng tụng cho Phật nghe. Bắt Phật nghe hoài, hết bài kinh này đến bài kinh nọ, vậy thì tội nghiệp Phật quá, nghe riết cũng mệt mỏi chứ! Tụng kinh là nhắc lại lời Phật dạy, nhớ hiểu để ứng dụng tu cho đúng. Không phải đánh mõ cho nhanh, tụng cho lẹ để làm xong bổn phận, rồi giải y ra thấy cái gì cũng thật, chứng nào vẫn tật nấy. Tụng kinh như thế, chẳng khác nào chê bai đùa giỡn với Phật. 

Phật nói pháp Tứ đế, Mười hai nhân duyên, hàng Nhị thừa chấp cho đó là chân lý, nên Phật bảo pháp ấy cũng không thật. Vì sao? Vì pháp là để trị bệnh chúng sanh, chúng sanh có bệnh gì Phật nói pháp đó để trị. Bệnh lành rồi thì thuốc cũng phải bỏ, bởi thuốc và bệnh đều không thật. Nếu bệnh thật thì không lành, đã lành thì không thật, bệnh không thật thì thuốc cũng không thật. Cho nên pháp Tứ đế, Mười hai nhân duyên... đều không thật, tất cả pháp đối đãi đều không thật. Vì vậy Phật nói “không vô minh, không vô minh diệt”. Phá được mê lầm về thân, về tâm thì chúng ta hết khổ.

Như vậy, làm sao tìm ra cái thật? “Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố vô hữu khủng bố viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết-bàn”. 

Dĩ vô sở đắc cố, nghĩa là vì không có sở đắc, nên Bồ-tát diệt hết những buồn phiền, đau khổ để đi tới Niết-bàn vô sanh. Như vậy cái gì biết tất cả pháp không thật? Đó là Bát-nhã. Bát-nhã là trí tuệ chân thật của chính mình, soi thấy được lẽ thật nên tiêu diệt hết những nghĩ tưởng điên đảo, cứu cánh đạt đến Niết-bàn. 

Trong thân hư ảo tâm giả dối vẫn còn có cái biết chân thật. Cái biết đó, chính là trí tuệ Bát-nhã. Chúng ta sống được với trí tuệ này, tức là tới chỗ vô sanh. Chẳng riêng Bồ-tát thấy như vậy, mà cả ba đời chư Phật cũng đều thấy như vậy. Đọc kinh Bát Nhã, chúng ta có cảm tưởng dường như có sự mâu thuẫn. Trước thì nói không có gì thật, không có gì được, cuối cùng lại nói được. Được cái chúng ta đã từng có mà quên, nên nói được nhưng thật không được gì cả. 

Nơi mình có sẵn trí tuệ Bát-nhã mà không biết sử dụng, cũng như người chiến sĩ có sẵn cây kiếm bén nhưng giặc tới thì đưa tay chịu trói, chứ không sử dụng kiếm của mình được. Chúng ta cũng vậy, có trí tuệ Bát-nhã bén nhạy, rất siêu thoát, nhưng vì không sử dụng được nên quỷ vô thường tới liền đưa tay đầu hàng, không chống cự, mặc tình nó dẫn đi trong lục đạo luân hồi. 

Trí tuệ Bát-nhã không dính, không kẹt với tất cả các pháp hư ảo, nên thoát ly được sanh tử. Mọi vật trên thế gian đều bị vô thường chi phối, đều bị biến động, còn trí tuệ Bát-nhã không bị vô thường chi phối, không bị biến động, nên không có lực nào làm tổn hại nó được. Tu như vậy mới xứng đáng một đời tu, cầu đạo giác ngộ giải thoát. Nếu chỉ tu hình tướng, ngày này qua ngày nọ, tụng kinh cho Phật nghe thì không biết kiếp nào mới thoát khỏi luân hồi sanh tử. Hiểu tường tận thế rồi, trên đường tu chúng ta mới khỏi lầm lẫn. 

Tôi thấy có người tu còn quý thân như vàng ngọc, rất quan trọng lời khen tiếng chê, cho nên phiền não dẫy đầy. Đó là vì không thấu triệt được lý đạo. Cứ ngỡ mình tụng kinh, gõ mõ thế là tu tốt rồi. Nên biết, đâu phải ăn chay hay tụng kinh nhiều là giải thoát, mà phải thấu đáo được lời Phật dạy và sống đúng như vậy thì mới giải thoát sanh tử. 

Hôm nay nhân ngày lễ Khánh thành thiền viện Hương Hải, tôi nói cho Tăng Ni hiểu rõ. Chúng ta là hàng xuất gia thì phải tu sao cho xứng đáng, không hổ thẹn vì đã đầu hàng quy luật vô thường. Nhất quyết giải thoát khỏi vô thường, đó là điều ghị tâm khắc cốt của những người con Phật. Mong tất cả Tăng Ni nghe hiểu và ứng dụng đúng những gì Phật dạy. Được vậy, lo gì không ngửi được mùi hương của hoa mai giữa mùa đông lạnh giá.

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 4
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
Danh sách chương: