Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 4
24. Hai chữ Huyền Không (Thiền tự Huyền Không - Huế)

Khi đặt chân đến đây, tôi thấy tấm biển trước cổng chùa để Huyền Không Thiền Tự. Nghiệm thấy hai chữ Huyền Không, có ý nghĩa tương quan trong sự tu tập của chúng ta, nên bất thần tôi nảy ra ý tưởng muốn nói về hai chữ Huyền Không. 

Hòa thượng Mãn Giác lúc còn trẻ rất thích làm thơ, trong những tác phẩm của ngài có quyển để bút hiệu Huyền Không. Ngày nay các vị Tăng trong nước và hải ngoại hướng về quê hương xứ sở, nên dùng chữ Huyền Không đặt tên chùa, nhằm nhắc nhở Phật tử Việt Nam nhớ về cội nguồn tổ tông, là điều rất đáng quý. 

Về lịch sử, Huyền Không là tên động. Trên dãy núi Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng, có ngọn núi Tam Thai và ngôi chùa Tam Thai, phía sau chùa là động Huyền Không. Đáng lưu ý ở đây là ý nghĩa của động và hang. Trong núi chỗ rỗng nhỏ gọi là hang, chỗ rỗng to gọi là động. Nếu đứng bên ngoài cất tiếng gọi lớn thì trong động vang lại âm thanh y hệt tiếng đó. Tiếng hay thì vang ra hay, tiếng dở thì vang ra dở. Âm thanh dội lại đúng y như tiếng mình đã phát ra. Đây là điểm rất đặc biệt. 

Nói về ý nghĩa trong sự tu. Huyền là nhiệm màu, không là rỗng trống. Huyền Không là động trống rất nhiệm mầu. Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông, sau khi ngộ đạo lập ra hệ phái Trúc Lâm Yên Tử. Các tác phẩm văn học ngài để lại, có bài Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca rất nổi tiếng. Trong đó, ngài có nói về ý nghĩa tiếng vang trong động trống, nhằm nhắc người tu nghe âm thanh không nên vướng mắc vào đó. 

Động trống ví như lỗ tai của chúng ta, nhiệm mầu là không vướng kẹt gì hết. Lẽ thật ngay trước mắt chúng ta, không cần tìm kiếm đâu xa. Biết ứng dụng đúng pháp thì đường tu dễ thành công, ngược lại dù tu mấy mươi năm cũng chẳng được lợi ích gì. Đối với tiếng khen, tiếng chê, tiếng hay, tiếng dở... nghe biết tất cả tường tận, tiếng để y nơi tiếng, không khởi niệm vui buồn, lấy bỏ. Đó là ý nghĩa Huyền Không. 

Nghiệm kỹ lại chúng ta thấy rõ ràng, tất cả lời nói qua rồi mất, không còn hoài. Giả như có còn, cũng chỉ là trong tâm niệm của mình thôi. Nhưng có người nghe xong liền ghim sâu trong tâm thức, nên mới nhớ hoài nhớ mãi thành cả ngày buồn vui đau khổ. Sở dĩ chúng ta bị dính kẹt vì tâm phân biệt quá nhạy bén, lời khen tiếng chê... nhớ cả năm chưa quên. Bởi ghi sâu những điều bất như ý, khiến phải khổ triền miên. Thấy mặt người mình thích thì vui, gặp kẻ không thích liền khó chịu. Thế nên, người tu Phật phải khéo đừng để vướng mắc. 

Phật là bậc giác ngộ, đối với khen chê Ngài coi như trò chơi. Ngược lại, hạng phàm phu chúng ta thì bị khen chê làm khổ não. Muốn hết khổ thì phải xem tiếng khen, lời chê như gió thổi ngoài tai, qua rồi mất, đừng ghi lại trong tâm thức. 

Người khôn ngoan biết tu, không bị dư luận làm điên đảo. Đối trước những lời thách đố, khen chê… đều quán như tiếng vang trong hang động, khéo buông xả, thản nhiên tự tại. Chúng ta sống giữa chốn đông người, kẻ ý này người ý kia là chuyện bình thường. Theo bàn luận lời qua tiếng lại, không thể tránh khỏi vui buồn. Nếu chúng ta cố chấp vào đó thì sự tu hành bị vướng kẹt không tiến.

Chữ “không” còn có ý nghĩa thâm sâu trong hệ kinh Bát Nhã. Câu đầu bài Bát Nhã Tâm Kinh, nguyên văn chữ Hán là: “Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách”. Chiếu là soi, kiến là thấy. Chiếu kiến là soi thấy một cách rõ ràng tường tận. Nghĩa là, khi Bồ-tát Quán Tự Tại thực hành sâu trí tuệ Bát-nhã, ngài xem thấy năm uẩn đều không liên quan hết tất cả khổ nạn. Chủ đích của hệ Bát Nhã nằm gọn trong câu kinh này.

Trong năm uẩn, sắc uẩn thuộc về vật chất, bốn uẩn kia thuộc về tinh thần. Soi thấy năm uẩn đều không, tức là soi thấy thể xác và tinh thần đều không thật. Do thấy thân không thật nên khi gặp thiệt thòi hoặc bị người lấn hiếp, liền biết đó chỉ là trò chơi nên không bị khổ não. Từ văn tự chuyển qua quán chiếu, từ quán chiếu chuyển qua thật tướng, đây là chỗ cứu cánh Niết-bàn. Hành trì Bát-nhã phải đủ cả ba chặng, nếu dừng ngang một chặng nào đó sẽ không bao giờ tới được đích. Người tu Phật phải học hiểu cho tường tận chứ không nên học suông. 

Hằng ngày chúng ta tụng đọc không biết bao nhiêu biến Bát-nhã mà vô minh vẫn y nguyên không hết. Lỗi này không phải do kinh vô hiệu, mà tại chúng ta không đi tận cùng con đường Phật dạy. Hiểu rồi mới thấy giá trị cao siêu của đạo Phật. Lời Phật dạy là chân lý chắc thật, chúng ta phát tâm tu thì phải tu cho đến nơi đến chốn, đừng chỉ đọc suông. Tu không thấy an lạc là lỗi tại mình không biết ứng dụng lời Phật dạy. Cho nên muốn đạt kết quả trên đường tu thì phải nhận và sống được với trí tuệ Bát-nhã. 

Trong kinh Phật nói “sắc tức là không, không tức là sắc”, chữ không ở đây có nghĩa là không tự tánh, chứ không phải không ngơ, không có gì hết. Các pháp trên thế gian duyên hợp tạm có, không thật nên không có cái gì cố định. Bình hoa không có sẵn, phải được kết hợp từ bình, hoa và công sức người cắm. Dùng trí tuệ Bát-nhã phân tích tường tận biết nó do duyên hợp giả tạm nay còn mai mất, dần dần trở thành không. Đây là ý nghĩa “sắc tức thị không”.

Trước khi có bình hoa là không, đủ duyên có bình, hoa và người cắm tạo thành bình hoa, đây là ý nghĩa “không tức thị sắc”. Bản chất của sắc là không, do duyên hợp giả có. Vì duyên hợp giả có nên duyên tan thành không. Sắc tức không, không tức sắc, nói lên tính chất duyên hợp không thật của các pháp. Con người cũng vậy, do tứ đại duyên hợp tạo thành, nếu cho sắc thân này là thật rồi nắm giữ chấp trước, tới chừng hư hoại sẽ hoảng hốt sợ sệt đủ thứ. Người thấy đúng trí tuệ Bát-nhã sẽ không lần nhận điều này. 

Trên lý thuyết ai chẳng biết mình không thật nhưng khi động tới lại thấy thật, đó là nguyên nhân phát sinh mê lầm. Một khi lầm bản ngã sẽ lầm luôn tất cả những thứ xung quanh. Cái giả ngỡ thật, bám chặt vào nó chấp thủ và đau khổ. Chừng nào thấu suốt được lý sắc không, mới an ổn tự tại khi thân biến hoại. Chúng ta từng chứng kiến cái chết của ông bà cha mẹ, thấy rõ bản chất thật của thân rồi thì khi tới lượt mình sửa soạn ra đi cũng không có gì lo sợ. Tỉnh táo, sáng suốt lựa đường đi rất tốt, đừng lo lắng khóc lóc để nghiệp dẫn đường này, đường kia không hay. 

Tu là thấu suốt lẽ thật, sống với trí tuệ Bát-nhã để làm chủ được mình, khi nhắm mắt biết chọn lối đi sáng suốt, đừng mờ mịt đi vào ba đường xấu. Sắc và không không tách rời nhau, có hợp ắt có tan, có sanh ắt có tử. Chết là con đường phải đến, không ai thoát khỏi. Cho nên bây giờ phải chuẩn bị đầy đủ tư lương, để mai kia an ổn đối diện với tử thần. Người biết tu là thấy xa hiểu rõ con đường phía trước mình sẽ đi đâu, một lòng hướng về sự tu tập, đừng mải mê tranh danh đoạt lợi, hưởng thụ ngũ dục. 

Ngũ thừa Phật giáo là giáo lý căn bản, thiết yếu của người tu theo đạo Phật gồm: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ-tát thừa hay Phật thừa. Thừa là cỗ xe chuyên chở chúng sanh đi đến quả vị, tùy theo mức độ tu tập. Đức Phật đã chỉ bày rõ ràng, tường tận và cụ thể những phương pháp tu tập, đưa đến các quả vị tu chứng tương ứng. Tùy căn cơ và sức hành trì của mỗi chúng sanh, mà ứng hiện các cảnh giới khác nhau. 

Phật tử thọ Tam quy trì Ngũ giới đầy đủ, sau khi mạng chung nhất định được trở lại làm người tốt. Ngũ giới là năm điều ngăn cấm: không sát sanh được tuổi thọ dài lâu; không trộm cướp thì của cải, tài sản nhiều; không tà dâm nên thân tướng đẹp đẽ, trang nghiêm; không nói dối thì đời sau nói năng lưu loát, ai cũng tin quý; không uống rượu mạnh, không uống say, không hút á phiện, xì ke ma túy, được đời sau thông minh sáng suốt. Giữ tròn năm giới cấm xứng đáng làm người tốt ở hiện tại và tương lai. Lúc sắp lâm chung tự tin mỉm cười vì biết rõ con đường phía trước sáng sủa an lành.

Người tu Thập thiện trọn vẹn, nhất định được sanh về cõi trời Dục giới, đi trong sự sáng suốt không mập mờ hoảng hốt. Người thật tu phải nắm vững đường lối, tự hiểu thấu rồi thực hành đúng đắn. Ngày nay sống an vui, ngày mai nhắm mắt càng an vui hơn. Xe cũ hư đổi xe mới tốt, có gì đâu mà buồn. Đó là ý nghĩa thiết thực của sự tu. Khéo ứng dụng làm sao đời này và đời sau đều đi trên con đường sáng sủa, cao quý chứ đừng để tuột xuống. 

Phật đã vạch sẵn phương hướng, ai muốn đi đường nào cũng được. Ngài không bắt buộc chúng ta phải hành một pháp nào cố định, tùy khả năng và căn cơ mỗi người mà tự chọn pháp thích hợp để hành trì, miễn sao ứng dụng đúng và đi cho tới nơi tới chốn thì đều được kết quả theo sở nguyện. 

Đâu ai có thể bảo đảm mình sống tới lúc nào, đừng quan niệm bây giờ còn trẻ lo làm ăn, để dành tới già mới tu. Biết đâu chưa sống tới già, nửa chừng chết mất rồi! Vì vậy ở độ tuổi nào chúng ta cũng phải cố gắng tu để chuẩn bị hành trang cho mình trên con đường phía trước. Ngay trong lúc trẻ khỏe còn tỉnh táo sáng suốt, càng nỗ lực tu càng tốt. Khi già yếu lụm cụm quên đầu quên đuôi, tu không tới đâu hết. 

Trong kinh thường nói “tánh không của các pháp”, chữ tánh chỉ cho cái sẵn có. Phật là bậc giác ngộ. Ngài thấy đúng sự thật về muôn pháp ở thế gian này là tánh không. Như bình hoa này vốn là không, do duyên hợp thành bình hoa, dần dần hoa héo tàn lại trở về không. Tất cả sự vật thành hình từ cái không, nên nói các pháp duyên hợp. Do duyên hợp không thật có, chỉ tạm một thời gian rồi bại hoại trở về không. Đó là ý nghĩa “sắc tức thị không, không tức thị sắc”. 

Trong Luận Trung Quán, Bồ-tát Long Thọ nói:

Nhân duyên sở sanh pháp, 

Ngã thuyết tức thị không, 

Diệc danh vi giả danh, 

Diệc danh trung đạo nghĩa. 

Các pháp do nhân duyên sanh, từ không mà duyên hợp thành có, nên Phật nói tức là không. Lý Trung đạo không chấp hai bên hoặc thật có hoặc thật không. Do không hiểu lý Trung đạo nên chúng ta luôn sống theo nghĩa cực đoan hoặc không hoặc có, dẫn đến bất đồng quan điểm với nhau. Từ đó sanh ra cãi vã, phải quấy, hơn thua, tranh đấu, giành giật nhau đưa đến đau khổ. 

Để giải thích lý Trung đạo một cách dễ hiểu, tôi dùng nắm tay để tạm thí dụ. Như tay tôi đang đưa lên đây, nếu tôi co năm ngón lại thì gọi là nắm tay, buông năm ngón ra thì không có nắm tay. Vậy nắm tay có thật không? Trước khi co năm ngón không có nắm tay, buông ra cũng không có nắm tay. Thế là biết nắm tay chỉ là giả danh, không thật có. Các pháp cũng vậy, duyên hợp giả có, duyên tan thành không. Hiểu được lý Trung đạo là thấy lẽ thật, tức hằng sống với trí tuệ Bát-nhã.

Thân chúng ta do duyên hợp từ cha mẹ và thần thức, tạm gọi là thân. Nó vốn không thật nên đẹp xấu, khen chê cũng không thật. Dùng trí tuệ Bát-nhã thấy rõ bản chất của thân tâm năm uẩn là không thì sự tu mới nhẹ nhàng. Chư Phật và Bồ-tát sống đúng với lẽ thật gọi là giác ngộ, còn chúng ta tuy biết lẽ thật nhưng vẫn sống theo tưởng tượng hư dối nên mê lầm ngày càng tăng trưởng. 

Trong kinh dùng thí dụ bóng mặt trăng rằm in dưới hồ nước để liên hệ đến nghĩa sắc không. Bóng trăng sáng hiện trên mặt nước, không thật có cũng không thật không. Giống như thân này do duyên hợp, không thật có cũng không thật không. Lý Bát-nhã dạy một cách thấu triệt về lẽ thật của con người. Không nên bám vào những thứ hư ảo, mà phải biết sống trở về với cái chân thật của chính mình. Nếu chỉ đọc văn tự Bát-nhã suông mà không chịu chiếu kiến thì biết chừng nào qua hết khổ ách. 

Thiền sư Minh Chánh ở Việt Nam, nói: 

Công danh cái thế màn sương sớm, 

Phú quý kinh nhân giấc mộng dài. 

Chẳng hiểu bản lai vô nhất vật, 

Công phu uổng phí một đời ai. 

Dưới cái nhìn của thiền sư Minh Chánh, công danh sự nghiệp dù tột đỉnh tới đâu cũng chỉ là màn sương sớm, có rồi mất không còn hoài. Đến như tài sản của cải, dù cho giàu sang không ai bì nổi, cũng chẳng khác gì giấc mộng đêm qua. Cái được của thế gian như công danh, phú quý... rốt cuộc tiêu tan tợ sương mai mộng ảo, vì tất cả đều không thật. Sống để hưởng thụ nhiều lắm cũng vài chục năm, chứ thông thể sống mãi. Vì vậy, nếu tu mà không nhận được bản lai vô nhất vật thì uổng phí cả một đời. 

Bản lai vô nhất vật dịch là xưa nay không một vật. Câu này có liên hệ tới hai chữ Huyền Không. "Không” ấy rất nhiệm mầu. Không tất cả phiền não và niệm sanh tử thì được diệu dụng vô cùng, tức chân không diệu hữu. Cho nên, khi đức Phật đạt đến chỗ “không” chân thật đó, Ngài chứng Tam minh, Lục thông, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng… Hiểu chỗ này rồi, trên đường tu chúng ta mới không bị lầm lẫn. 

Tóm lại, hai chữ Huyền Không có ba ý nghĩa quan trọng: 

Thứ nhất, Huyền Không dụ như tiếng vang trong hang trống, nghe mà không dính không chấp. 

Thứ hai, chữ “không” trong Huyền Không nói về tánh không, duyên hợp giả có của tất cả các pháp trên thế gian. Trước không sau cũng không, gọi là các pháp tánh không. 

Thứ ba, chữ “không” chân thật trong ý nghĩa xưa nay không một vật, nó sẵn có nơi mỗi chúng ta, nhận và sống được là ngộ đạo, hết mê lầm. 

Hôm nay tôi chỉ nói về hai chữ Huyền Không, cũng là giải thích về tên gọi ngôi thiền tự này. Trọng tâm của người xuất gia cầu giải thoát là cốt tìm cho ra và sống được với cái thật của chính mình, đó là chỗ tột cùng chúng ta phải đi tới. Mong quý vị hiểu và ghi nhớ ý nghĩa Huyền Không, khéo ứng dụng vào sự tu hành của mình, luôn luôn thức tỉnh và ngày càng tiến bộ, chóng đạt đến giác ngộ giải thoát.

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 4
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
Danh sách chương: