Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 4
5. Thiền viện Sơn Thắng

Nhắc lại nhân duyên xưa

Từ trước tới giờ, đối với Phật giáo tỉnh Vĩnh Long, tôi luôn cảm thấy rất thân thiết và gần gũi. Bởi vì ngày xưa Sư cụ Pháp Hải trụ trì tại chùa Sơn Thắng, cùng Sư cụ Huệ Quang và Sư ông tôi là Sư cụ Khánh Anh, chung lo làm Phật sự. Quý ngài lấy chùa Lưỡng Xuyên làm cơ sở cho Hội Phật học Lưỡng Xuyên, nhiệt tình gầy dựng nền tảng Phật giáo miền Nam được bền vững. Kế tiếp đến Thầy tôi là hòa thượng Thiện Hoa, cùng quý hòa thượng đương thời tiếp tục gánh vác sự nghiệp giáo dục và hoằng pháp. Sau này huynh đệ chúng tôi được quý ngài giao phó trọng trách này.

Những năm còn học ở Ấn Quang, tôi đã xuống Vĩnh Long giảng dạy cho Phật tử, đồng thời qua Trà Vinh dạy cho chư Tăng. Trong số chư Tăng ở đây có những học trò là môn đồ của tôi, đang trực tiếp chịu trách nhiệm lãnh đạo tại thiền viện này. Cứ thế mà người đi trước có bổn phận dìu dắt người đi sau, làm cho ngọn đèn chánh pháp luôn luôn được tiếp nối không ngưng trệ, không tắt mất. Từ năm 1955, khi khởi sự đi giảng mãi đến bây giờ, tôi miệt mài lo gầy dựng thế hệ trẻ, làm sao cho họ hiểu thấu đạo lý và ứng dụng tu hành có kết quả. Như thế mới duy trì mạng mạch Phật pháp, xây dựng nền tảng Phật giáo nước nhà ngày càng kiên cố và tốt đẹp hơn. Việc hoằng hóa của tôi trong suốt thời gian qua có thể nói là khá dài, sức khỏe cũng đến lúc sắp cạn kiệt nên tôi quyết định nghỉ. Chuyến đi Vĩnh Long này cốt để thăm lại chùa Tổ và quê hương của mình, đồng thời thăm tất cả Tăng Ni và Phật tử, thay cho lời từ giã. 

Với tuổi tôi hiện giờ xứng đáng được quyền nghỉ, để lo việc tu chưa tròn của mình. Tôi nói vậy chắc quý vị nghi ngờ, tại sao tu mấy mươi năm mà việc tu chưa tròn? Thực tình càng đi sâu trong đạo, càng nghiền ngẫm kỹ sự tu hành thì tôi lại thấy buồn. Bởi vì đa số chúng ta nói phát tâm tu mà tu không đến nơi đến chốn. Nhiều khi mình chỉ tu trên hình thức, còn tâm ý thì chưa thực sự giải thoát, còn nhiều trói buộc phiền não khiến tâm bất an. Thế nên đối với tôi, điều quý báu tột cùng là giác ngộ giải thoát sanh tử, có thế mới tròn bản nguyện của người xuất gia. 

Chúng ta tu, ai cũng nguyện giải thoát sanh tử, muốn vậy thì trước tiên phải giác ngộ, vì có giác ngộ mới giải thoát sanh tử được. Giác ngộ viên mãn hay chưa viên mãn là tùy theo công hạnh và khả năng của mỗi người, nhưng nhất định phải giác ngộ. Ngày nay chúng ta tu lờ mờ quá, trên đường tu hành không biết mình đã giác ngộ được cái gì, giác ngộ bao nhiêu. Vì chưa thắp sáng ngọn đèn trí tuệ nên đường đi nước bước chưa sáng sủa rõ ràng. 

Đức Phật là bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, còn gọi là bậc tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn. Bồ-tát là phần giác, tức giác ngộ từng phần. Các ngài đem sự giác ngộ của mình giác ngộ cho người khác, công hạnh đó tròn đủ thì gọi là Phật. Chúng ta ngày nay được gọi là hàng Thích tử, nghĩa là con cháu dòng họ Thích, dòng họ của bậc giác ngộ. Nếu mình chưa được phần giác như Bồ-tát thì ít ra cũng được chút nào đó. Đây là điều mà chúng ta phải chiêm nghiệm lại. 

Nhiều Phật tử nói mình là “tín đồ đạo Phật”, nói như vậy e chưa đúng. Bởi vì đạo Phật không đặt lòng tin lên trên mà đặt sự giác ngộ làm mục đích tối hậu, cho nên dùng danh từ Phật tử tức con bậc giác ngộ là đúng nhất. Người xuất gia là dòng giống giác ngộ, hàng Phật tử cũng là con cháu dòng giống ấy. Cho nên tất cả chúng ta phải nhớ, nếu mình không giác ngộ được trăm phần trăm thì cũng giác ngộ chừng bốn năm chục phần, tối thiểu cũng phải mươi phần mới được. 

Hồi chúng tôi còn là Tăng sinh của Phật học đường, những năm đầu được học kinh Bát Đại Nhân Giác, tức tám điều giác ngộ của bậc đại nhân. Điều thứ nhất Phật dạy: 

Đệ nhất giác ngộ

Thế gian vô thường 

Quốc độ nguy thúy 

Tứ đại khổ không 

Ngũ ấm vô ngã.

Hiểu rõ thế gian này vốn vô thường là giác ngộ được một phần nhỏ. Quốc độ nguy thúy tức là cõi nước giòn bở; ít hôm vài tháng nghe động đất chỗ này chỗ kia, đổ nhà đổ cửa, chết chóc liên miên. Tóm lại, thế gian là một dòng chuyển biến liên tục không dừng theo thời gian, không bảo đảm vững chắc như chúng ta tưởng. 

Thân này do bốn thứ đất nước gió lửa hợp thành. Chất cứng là đất, chất ướt là nước, động là gió và ấm là lửa. Trong con người nếu thiếu một chất là bại hoại ngay, nên nói tứ đại này là khổ, không. Ngày xưa thái tử Tất-đạt-đa dạo chơi ngoài bốn cửa thành, Ngài thấy cảnh già bệnh chết mà chấn động phát tâm xuất gia. Ngài không cam chịu cái khổ đó, còn chúng ta mải mê say sưa với ngũ dục thế gian, quên đi thân vô thường bại hoại này. Ngày nay vui cười, ngày mai ngã bệnh rên rỉ, hạnh phúc ở chỗ nào? Còn khỏe mạnh tới lui làm công kia việc nọ, tới chừng già yếu đi đứng lụm cụm, hoặc khi sắp tắt thở thân thể vật vã đau đớn vô cùng. Những điều này không ai tránh khỏi, vậy mà nói cuộc đời vui sao được. 

Chúng ta đang sống đây nhưng già bệnh chết luôn chực sẵn bên mình. Người mê không nhớ sự vô thường của thân, cứ ngỡ cuộc đời là vui nên muốn thụ hưởng cái này cái nọ, giành giật lẫn nhau, hơn thua đủ thứ. Nếu biết rõ ngày mai mình sẽ già bệnh chết, con đường đó nhất định phải đi qua thì lúc còn khỏe mạnh ráng cố gắng làm những việc có ý nghĩa, lợi đạo tốt đời. Chúng ta cố gắng lúc nào cũng tỉnh, nghe ai nói nặng vài câu, chỉ cần nhớ ngày mai già chết tới rồi hơn thua làm gì, lo làm điều cao thượng quý báu sẽ tốt hơn, như vậy mới không phiền não. Đó là người khéo tu. 

Phật dạy thân này do tứ đại hợp thành, có hợp ắt có tan. Vô thường đến không thể nói trước được, tan hợp tùy duyên. Đừng tưởng ai ai cũng đi đúng theo quy trình sanh già bệnh chết, có nhiều người còn trẻ mà lăn ra chết cái đùng. Trước mắt chúng ta rất nhiều cảnh tượng chết bất đắc kỳ tử, vậy mà con người lại lo tính toán chuyện trăm năm, không nghĩ tới cái chết chực chờ bên mình. Người biết tu làm sao một ngày qua là một ngày khỏe mạnh, làm điều ích lợi cho chúng sanh, đừng chần chờ thả trôi. Đó là ý nghĩa chân chánh của người cầu đạo giác ngộ. 

Người tu không nên chỉ hiểu lý thuyết suông mà phải thực hành. Nghe nói lời Phật là lời vàng, rồi cứ vậy mà đọc hoài thì chẳng được kết quả gì. Tu hành là phải ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống. Người học đạo trước tiên cần hiểu và hành trì Tam tuệ học, tức là văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ. Trước phải học tập, kế là suy ngẫm, cuối cùng mới ứng dụng. Ứng dụng là tu, tức là trí tuệ. Thấy rõ những mê lầm về thân tâm lăng xăng sanh diệt của mình vốn không thật, là giác. Cái giác đó gọi là trí tuệ chứ không phải trí thức, đây là điều Phật tử cần phải hiểu rõ. 

Tôi nhớ năm ra Bắc, Viện Hán - Nôm mời tôi nói chuyện với các vị giáo sư và học viên tại đó. Trước khi giảng, ông Giám đốc Viện đứng lên giới thiệu: “Đây là thầy Thanh Từ, một học giả trí thức học rộng nghiên cứu kỹ, quý vị ráng lắng nghe để lãnh thọ những điều hay Thầy trình bày”. Tôi liền đứng lên thưa: “Xin lỗi quý vị, cho tôi được cải chánh. Tôi không phải học giả, mà chỉ là hành giả”. Tất cả mọi người trong hội trường ai nấy đều rất ngạc nhiên, bởi vì tôi từ chối cái danh dự nhất lúc bấy giờ. Họ nghe hai chữ “hành giả” nhưng không hiểu nghĩa ra sao, thành thử tôi phải giải thích cho họ hiểu. 

Học là hiếu học, ham học; giả là người. Học nhiều và rộng gọi là bác học, học giả hoặc trí thức. Đối với thế gian được làm học giả là rất vinh dự nhưng với người xuất gia điều đó không quan trọng. Chúng ta tu cốt phải thực hành những lời Phật dạy để khai mở trí tuệ của mình, chứ không phải làm giàu trí thức bên ngoài. Vì vậy trước tiên cần học hiểu và hành trì ba môn học căn bản là văn tuệ tư tuệ và tu tuệ. Kế là học và tu theo ba môn giải thoát giới - định - tuệ. Có định thì tuệ mới sanh chứ không phải học mà được tuệ. Cho nên người xuất gia học để buông bỏ, không nên say sưa mải miết tích lũy kiến thức để thành nhà bác học. 

Trong điều giác ngộ thứ nhất của kinh Bát Đại Nhân Giác, Phật dạy bỏ cái chấp thật về thế gian. Dù to như quả địa cầu hay nhỏ như hạt bụi, tất cả đều hư dối tạm bợ không thật. Chúng ta học buông bỏ chứ không học thu vào. Người thế gian phân tích chia chẻ, sau đó ghi chép thành bộ môn, sổ sách dạy lại cho thế hệ sau. Người tu học buông bỏ chừng nào thân không vướng mắc và đuổi theo sáu trần, tâm buông nghĩ suy hơn thua phải quấy, lắng lặng sáng suốt là định. Từ định mà trí tuệ phát sinh. 

Ngày xưa khi đức Thế Tôn mới tìm đạo cũng học đủ thứ. Ban đầu Ngài theo học với các vị tiên; dù đã thông hết sở học và sở chứng của thầy, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nguyện vọng của mình. Ngài chuyển qua tu khổ hạnh, lại càng không đạt kết quả như ý. Cuối cùng đức Phật đến dưới cội bồ-đề, tu thiền định theo pháp Trung đạo. Lúc tâm an định trọn vẹn, Ngài chứng Tam minh, Lục thông, Tứ vô sở úy... 

Trong đêm thứ 49, từ canh một tới canh hai, Ngài chứng Túc mạng minh, nhớ tường tận vô số kiếp về trước như chuyện mới xảy ra ngày hôm qua. Từ canh hai tới canh ba, Ngài chứng Thiên nhãn minh, thấy tột cùng tường tận vô số vi trùng nhỏ bé, cho đến vô số thế giới rộng lớn ở các phương xa. Phật nói thân tứ đại này là một ổ vi trùng, trong một bát nước có vô số vi trùng sinh sống. Phật còn thấy trong không gian có vô số thế giới nhiều như cát sông Hằng. Điều Phật thấy cách đây hơn 2.500 năm, cho tới bây giờ khoa học mới chứng minh được, chứng tỏ trí tuệ của Phật không hề lạc hậu. Ngày xưa nghe những điều này không ai tin nổi, nhưng ngày nay với sự tiến bộ của khoa học thì những điều đức Phật nói đang dần sáng tỏ. 

Như vậy, trí tuệ do tâm an định phát sinh sáng suốt không cùng tận. Do trí ấy mà thấy tột cùng được lẽ thật của các pháp không nghi ngờ, cho nên đức Phật nhìn thấy chúng sanh lưu chuyển trong luân hồi sanh tử một cách tường tận, như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường thấy người qua kẻ lại rõ ràng. Nếu học hiểu bằng tâm phân biệt sanh diệt thì trí đó có giới hạn. Cho nên tất cả lời Phật dạy là chân lý, bằng vào sự thấy biết rõ ràng chứ không phải do suy lý mà được. 

Trí tuệ chân thật có được là do tâm an định, vì vậy dù tu theo pháp môn Tịnh độ hay Thiền tông thì chỗ cứu cánh vẫn là nhất tâm. Khi tâm an nhiên không nghĩ gì hết thì không tạo nghiệp, còn suy nghĩ vọng tưởng là còn tạo nghiệp. Nghĩ tốt thì thân làm tốt, miệng nói tốt, tạo thành nghiệp lành. Nghĩ xấu thì thân làm xấu, miệng nói xấu, tạo thành nghiệp dữ. Như chúng ta ngồi chơi, thảnh thơi, không nghĩ gì hết, lúc ấy mình vẫn hiện hữu chứ không phải không có. Gió thổi nghe mát, chim kêu nghe tiếng, người đi qua mắt liền thấy... Cái biết thấy, biết nghe đó luôn hiện tiền, không vắng thiếu. Biết mà không suy nghĩ tạo nghiệp tức là giải thoát sanh tử, còn tâm nghĩ suy hơn thua là nhân dẫn đi trong luân hồi lục đạo. 

Đức Phật phương tiện dạy đủ mọi phương pháp để chúng sanh dừng tâm tạo nghiệp. Dù tụng chú, niệm Phật hoặc tọa thiền... đều phải dừng vọng tưởng tạp nhạp để tâm an định. Có vậy mới tới chỗ tột cùng. Khi ngồi thiền không một niệm khởi, mình vẫn biết. Niệm dấy lên biết có niệm, niệm lặng xuống biết không niệm. Cái biết chân thật đó luôn hiện tiền, thế nhưng lâu nay chúng ta bỏ quên, rồi lầm nhận niệm lăng xăng sanh diệt làm mình. Chẳng khác nào sẵn có viên ngọc quý mà không biết đem ra dùng, cứ chạy lên non lên núi tìm khắp chỗ này chỗ kia. Nhà thiền nói, như người cưỡi trâu tìm trâu là ý này vậy. 

Phật dạy, phải buông hết tâm lăng xăng thì cái chân thật mới hiện ra, đó chính là tuệ giác chân thật. Sự học hiểu bên ngoài dù khôn ngoan mấy, cũng chỉ là vô thường biến động. Sở học mỗi thời mỗi khác, cái hay lúc trước qua đến thời sau trở thành lạc hậu, chỉ có tuệ giác phát sinh từ tâm chân thật mới là cứu cánh. Vì vậy con đường tu hành là con đường siêu thoát phi thường chứ không phải tầm thường.

Nhiều người không nắm vững chỗ này, rồi tự trách sao mình tu trầy trật hoài. Thế là tìm kiếm môn này, môn nọ học cho vui. Học coi tay, coi tướng... riết thành thầy bói, thầy bùa chứ không phải thầy tu. Do không hiểu cái gốc cao siêu của sự tu, nên tu không đến nơi đến chốn, rơi vào tà kiến. Sự tu thiết yếu ở chỗ phải thấy đúng như thật về các pháp, tức là giác. Có giác ngộ mới buông sạch mọi vướng mắc của thế gian. Chừng nào trí tuệ siêu thoát hiện ra, chừng đó mới an vui giải thoát. 

Mong Tăng Ni và Phật tử khéo ứng dụng tu mới có thể tiến gần tới con đường giác ngộ giải thoát. Nếu không tu thì dù cho có học hiểu mấy đi nữa, cũng vẫn đứng ở một chỗ. Để phiền não phủ vây thì không cách nào vượt qua được rào chắn của nghiệp, tức là không thể nào giác ngộ. Đó là điều thiết yếu. Mong tất cả luôn luôn cố gắng, tinh tấn trên con đường Phật đạo.

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 4
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
Danh sách chương: