|
Tông Môn Cảnh Huấn 4
9. Thiền viện Đại Đăng (Hoa Kỳ)
Hòa thượng dạy nhân lễ khánh thành Tại sao tôi chủ trương lập Hội Thiền học Việt Nam? Tại sao tôi lại đặt tên thiền viện Đại Đăng? Trước nhất, chúng tôi rất tán thán công đức của Ban Sáng lập. Khi quý vị xin phép thành lập thiền viện Đại Đăng, tôi bảo chỉ còn thời gian 20 tháng nữa thôi là tôi nghỉ không làm việc. Nếu quý vị thực hiện sớm, trước thời hạn ấy thì tôi qua làm lễ Khánh thành, nếu sau thì tôi rút lui. Do đó, những Phật tử có trách nhiệm đứng ra vận động và các vị nghe lời vận động thì hưởng ứng tất tích cực, nên chỉ 11 tháng thiền viện Đại Đăng ra đời. Đây là điều quá sức tưởng tượng của tôi. Từ con số không, không có đồng xu, không chút cơ sở, cũng không có hội hè gì hết, mà bỗng dưng trong mấy tháng lại lập được thiền viện. Đủ thấy quý vị lãnh trách nhiệm rất tận tụy, nhiệt tình. Chẳng những tận tụy, nhiệt tình góp công, lo lắng kêu gọi mà còn góp của cho có số tiền căn bản, để sau này các huynh đệ hưởng ứng giúp vào mới được như thế này. Thường chúng ta xây dựng một công tác lớn, hay làm Phật sự xây cất chùa hoặc thiền viện. Những người có công tạo dựng sáng lập, khi sáng lập rồi giao lại, điều đó là ít có. Nhưng ở đây với tinh thần Phật tử không vì danh, không vì lợi mà chỉ vì đạo, đứng ra vận động tạo thành. Khi thành lập tạm ổn thì quý vị xin rút lui, nhường lại cho chư Tăng lãnh đạo chịu trách nhiệm, do những lý do sau: 1. Quý vị không muốn để danh lợi ràng buộc. 2. Là muốn cho các Phật tử tin tưởng rằng việc làm này vì đạo, vì thầy chứ không phải vì mình. Làm rồi thì giao. Từ đây về sau, thiền viện Đại Đăng là của chư Tăng. Tất cả Phật tử gần xa đến đây là đến vì chư Tăng, chứ không phải qua hội hè gì hết. Để thấy rằng việc làm này đã đem hết công sức tạo lập cơ sở chung cho Thiền học Việt Nam. Như vậy Phật sự này đã thành tựu. Tuy nhiên Phật sự này mới thành tựu bước thứ nhất, còn bước thứ hai là sau một hai năm, chư Tăng nhận trách nhiệm rồi phải trả hết nợ. Trả xong nợ, đó là bước thứ hai. Bước thứ ba, là sau khi trả xong nợ rồi, chư Tăng có thể chuẩn bị xây cất một Thiền đường ở trên phần đất cao, để có chỗ rộng rãi cho Phật tử tụ hội về tọa thiền, tụng kinh hay tu tập. Phật tử đã làm xong bước thứ nhất. Bước thứ hai dành cho Trụ trì, Phó Trụ trì phải không? Bước thứ hai, nếu Trụ trì có để trả nợ thì chắc cũng trong túi Phật tử, chứ không phải túi Trụ trì, đó là lẽ thật. Vì vậy tôi muốn nói cho toàn thể quý vị hiểu rằng chặng thứ hai này là chặng có trách nhiệm chung. Vì chặng đầu không ai biết, chỉ có ít Phật tử trực tiếp với tôi, được tôi chỉ thị rồi quý vị làm. Khi làm chỉ có năm ba người biết, còn bao nhiêu người thì chỉ hưởng ứng. Tới chặng thứ hai này thì toàn thể Phật tử đều biết, biết rất rõ, nên từ đây quý vị hưởng ứng chung lo, cho quý thầy được an ổn tu. Phần này là toàn thể chứ không phải một nhóm như trước nữa. Bước thứ hai này, theo tôi biết lẽ ra phải trả nợ đến 15 năm, nhưng bây giờ Phật tử đông đảo, số nợ cũng không nhiều lắm, đợi đến 15 năm thì tội nghiệp Trụ trì, ngồi mang nợ hoài. Vì vậy tôi đề nghị quý vị cố gắng trả nợ chỉ trong vòng 3 năm. Ba năm trả hết nợ rồi, nếu còn khỏe thì tôi sẽ qua làm chứng cho quý vị, khuyến khích quý vị nỗ lực chuẩn bị bước thứ hai. Tôi chỉ là người hun đúc cho quý vị phát tâm hướng dẫn một lối đi mà lâu nay chúng ta mong muốn nhưng chưa làm được. Cơ hội này rất tốt, rất hy hữu. Tôi nghĩ làm việc lớn, một cá nhân không thể làm nổi mà phải đông người. Toàn thể Phật tử mỗi người một phần cùng chung lo, thì việc lớn nào cũng có thể làm được. Như ở Trúc Lâm Đà Lạt, khi khởi sự xin được đất, bắt đầu xây dựng trong túi tôi không có tiền, mà cơ sở ở đó phải khá lắm mới làm nổi. Khi khởi công tôi nói mình làm với mục đích lo cho Tăng Ni có nơi tu hành, nhanh hay chậm là quyền của Phật tử. Phật tử muốn nhanh thì tôi làm nhanh, muốn chậm thì tôi thủng thẳng làm, chứ tôi không có khả năng để quyết định nhanh hay chậm được. Tôi dự trù trước là làm Chánh điện, đến Nhà khách, Tham vấn đường, Lầu chuông. Ba bốn công trình nếu làm giỏi lắm cũng phải một năm mới xong. Năm thứ hai tôi sẽ xây dựng nội viện Tăng, năm thứ ba xây nội viện Ni. Khi khởi công, người hứa cho cái này, người hứa cúng cái nọ. Tô thấy nhiều quá nên ba chỗ đồng loạt làm một lượt, không ngờ chỉ 10 tháng là đâu vào đấy, thảy đều hoàn tất. Tôi khánh thành. Như vậy tinh thần Phật tử rất mạnh, tôi nghĩ có một phần mà Phật tử giúp đến mười phần. Do đó tôi tin ở Đại Đăng này, dự định ba năm mới xong bước thứ hai, nhưng không biết chừng rồi, để tôi được mời qua nữa. Đó là điều mà tôi trông đợi ở quý vị tại đây. Tôi là người sợ nợ số một mà bây giờ phải lãnh nợ. Tuy lãnh nợ nhưng không phải tôi trả, mà ai trả? Tất cả quý vị chung trả, mà đại diện là Ban Trụ trì ở đây. Tôi đã nói rõ ý nghĩa tinh thần của Ban Sáng lập thiền viện, và nói rõ trách nhiệm của tất cả Phật tử ngày mai cùng chung lo đóng góp cho ngôi thiền viện này. Đến phần thứ hai, tại sao tôi để tên hội này là Hội Thiền học Việt Nam, thiền viện để tên Đại Đăng. Tôi sẽ giải thích cho quý vị hiểu rõ thâm ý của tôi. Tôi là một Tăng sĩ Việt Nam đã phát nguyện tu thiền từ năm 1964 đến nay. Vì là người Việt Nam, nên tôi chỉ muốn tu thiền theo đường hướng của chư Tổ Việt Nam. Sau đó hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử tu theo đường lối của Thiền học Việt Nam. Tổ tiên đã xây dựng nền Thiền học Việt Nam là người Việt Nam, vì vậy tôi đặt tên cho hội là Hội Thiền học Việt Nam. Thiền học Việt Nam là môn chuyên ròng học thiền, theo hướng Thiền học Việt Nam, chứ không mắc kẹt ở Giáo hội này hay Giáo hội khác. Nó chỉ là một bộ môn riêng trong việc tu thôi. Như vậy nói đến Thiền học Việt Nam là nói đến sự chuyên tu, không nói theo danh nghĩa nào. Tất cả quý vị biết rõ chúng ta đang tu, lấy sự tu của thiền Phật giáo từ đời Lý qua nhà Trần làm nền tảng. Con đường tu của chúng ta là con đường thiền. Tại sao chúng tôi lại khuyến khích tu thiền? Ở xứ sở mình và hiện giờ các chùa Việt Nam của mình tại đây đều tu Tịnh độ. Khi nghiên cứu giáo điển và ứng dụng tu hành, tôi thấy rõ hai pháp tu Thiền, Tịnh tùy thời. Tổ tiên chúng ta tu thiền từ thế kỷ thứ 6, nếu nói trước là thế kỷ thứ 2. Nên Thiền tông đã có mặt trên đất nước Việt Nam từ thế kỷ thứ 6 mãi đến thế kỷ thứ 19. Sau đó chư Tổ chuyển qua tu Tịnh độ, cho đến giờ thì không biết thiền là gì nữa. Tại sao tổ tiên mình lại chuyển nhanh như vậy. Bởi vì phương pháp tu thiền đòi hỏi phải dùng trí tuệ nhiều. Có trí tuệ quán chiếu, nhận định chín chắn giúp chúng ta ứng dụng tu có hiệu quả. Còn phương pháp niệm Phật chỉ dạy chúng ta đủ lòng tin, tin đức Phật A Di Đà, tin cõi Cực Lạc là thật. Người tu niệm Phật, sau khi chết Phật sẽ đón về Cực Lạc. Người chậm lụt đến mấy niệm Lục Tự Di Đà thì ai cũng niệm được. Nên niệm Phật là phương pháp rất phổ thông, già tu cũng được, trẻ tu cũng được, thông minh tu cũng được, quê mùa tu cũng được, không có gì trở ngại. Nước mình lúc đó người dân đa số ít học, có thể nói quê mùa gần 80%, như vậy dạy tu thiền làm sao tu? Cho nên các Tổ chuyển dạy tu Tịnh độ. Ngày nay khác xa, dân Việt Nam không đọc được, không viết được chỉ chừng 1%, còn 99% đọc và viết được, khoảng 50% có thể học tới Trung học. Đây là thời dân trí cao, cũng là thời khoa học. Điều gì nói phải có chứng cứ cụ thể người ta mới tin. Nói mà không có bằng chứng thì họ không tin, thời này cần phải thực tế. Làm việc gì đều phải có ích lợi chứ không thể làm suông, nói suông được. Muốn cho giới trí thức trong Phật giáo có một hướng đi lâu dài thì phải làm thế nào? Tôi đã từng chứng kiến vào những năm 1990, một số vị trí thức Việt Nam thích tu thiền, nhưng vào chùa hỏi thầy này thầy nọ về tu thiền, đều được trả lời: “Coi chừng tu thiền điên”. Như vậy sao đây? Thế là họ chạy qua những pháp thiền ngoại đạo. Lỗi đó tại đâu? Tại trong giới Phật giáo không thấy được lẽ thiết yếu của thời đại, rồi xao lãng đi. Người trí thức không thể chấp nhận niệm Phật để chờ về Cực Lạc, họ muốn biết cái hay cái quý trong hiện tại này, thì phải làm sao? Cho nên tôi nghĩ mình phải khơi dậy nguồn thiền đã có từ tổ tiên chúng ta, cho mọi người thấy rằng tổ tiên mình tu thiền đã từng chứng đắc, từng sanh tử tự tại. Phật tử thấy việc tu có hiệu nghiệm ngay trong cuộc sống này, chứ không phải đợi chết mới về Cực Lạc. Do đó tôi khởi đầu tìm kiếm thực hành tu thiện cho tới ngày nay, lòng tin đã đủ và tôi tin chắc chắn không nghi lầm nữa. Tin được rồi tôi nói cho Tăng Ni Phật tử nghe, đa số cũng tin và muốn thực hành như vậy. Vì lý do này nên các thiền viện ở Việt Nam ra đời, và được mở rộng lần lần đến ngày nay. Sự tiến triển đó không phải ý tôi muốn mà được, chẳng qua nó hợp với tâm tư nguyện vọng của người tu thời nay. Cho nên tôi đề ra quý vị hưởng ứng liền, nhờ vậy mà việc hướng dẫn của tôi được dễ dàng. Đến như hiện nay tại xứ Mỹ này, tôi là người dốt không biết tiếng ngoại quốc, cũng chẳng bao giờ dám nghĩ mình sẽ qua đây nói đạo. Nhưng vì gần đây người Việt Nam sang Mỹ đông quá, nên Phật tử mời tôi qua đây hướng dẫn quý vị tu. Do vậy mà tôi có chỗ đứng ở xứ người. Thật ra tôi làm các Phật sự ở đây không phải vì danh vì lợi, mà vì thương Phật tử xa nhà, mong muốn tu thiền nhưng không biết phải tu thế nào. Mình có một cơ sở tu thiền Ở Mỹ, là nơi Phật tử Việt Nam tương đối đông đảo, có thể nương theo tu hành, thật quý biết bao. Các vị sáng lập viên ở đây có con mắt nhìn cũng hơi mỹ thuật. Trên núi phong cảnh đẹp, mát mẻ, lập một cơ sở tu thiền thì ai đến đây cũng có cảm tình, vui thích. Bước thứ hai, thiền viện này của chư Tăng, nên tôi chọn chư Tăng qua đây. Ở thiền viện chúng tôi chư Tăng đông lắm, trên Trúc Lâm bảy tám chục vị, dưới Thường Chiếu cả trăm vị. Người nào đáng tin tưởng tôi cho đi xa, người nào ít tin tưởng cho đi gần. Mình chọn được rồi, còn phải qua phỏng vấn nữa. Quyền của mình có một phần, quyền của mấy ông phỏng vấn đến mười phần. Nào ngờ phúc duyên tốt, mọi việc đều trôi chảy. Yên phần bên kia, qua đến bên đây tôi cũng ngại nữa. Nếu qua đây chỉ cho ở ba tháng rồi về, chắc thầy trò phải ôm gối lui. Nhưng mà khi được ký cho ở ba năm, tôi rất yên lòng. Thế nên, công tác ở tại thiền viện Đại Dăng từ trước đến giờ mọi việc đều tốt đẹp. Những gì chúng ta muốn đều thực hiện được. Do đó, tôi tin từ đây về sau, ngày càng tốt hơn, ngày càng thành công hơn. Đó là cái nhìn và sự tin tưởng của tôi. Tại sao tôi để tên Đại Đăng? Chữ Đại Đăng là tên lịch sử chứ không phải tôi tự đặt ra. Trong hệ thống thiền Trúc Lâm Yên Tử, vị thiền sư đầu tiên ở trên núi Trúc Lâm Yên Tử là ngài Hiện Quang. Thiền sư Hiện Quang sống vào đời Lý, sau thiền sư Thường Chiếu. Vì thấy ở gần thành thị nhiều chướng duyên khó tu, nên ngài đi thẳng lên núi Yên Tử, ở một mình trong rừng vắng chuyên tu. Ngài tu ngộ đạo, nên đã có đường hướng rõ ràng. Sau ngài có quốc sư Phù Vân, tức là ngài Đạo Viên. Ngài Đạo Viên kế thừa ngài Hiện Quang. Dưới ngài Hiện Quang có thiền sư Đại Đăng. Ngài Đạo Viên là quốc sư của vua Trần Thái Tông. Ngài Đại Đăng là quốc sư của vua Trần Thánh Tông. Như vậy Đại Đăng là tên vị quốc sư đời Trần, tu thiền trên núi Yên Tử. Ngài dạy vua, được vua tin tưởng kính nể tôn làm thầy, thì không thể tài hèn đức mọn được. Chúng ta lấy tên đó đặt cho thiền viện cũng đẹp cho quê hương xứ sở mình, phải không? Vì vậy, tôi đặt tên thiền viện là Đại Đăng. Trước đây có mấy vị lập am thất, nhất là ở nhóm của cô Huệ Thường, xin cất một thiền thất để tu, xin tên mà đòi phải cho có chữ Chiếu, buộc lòng tôi đặt tên là Ngọc Chiếu. Rồi bên Texas cất thiền viện cũng đòi có chữ Chiếu, nên tôi đặt là Quang Chiếu. Quang Chiếu, Ngọc Chiếu cái gì cũng chiếu hết. Cái gì chiếu? Đèn sáng mới chiếu. Cho nên Đại Đăng này là chỗ tựa của hai Chiếu kia. Bởi vậy Đại Đăng có một trách nhiệm rất to lớn, chứ không phải thường. Phật là bậc giác ngộ, mà giác ngộ là tối hay sáng, nhất định là sáng. Giác ngộ là trí tuệ, là sáng suốt. Bởi vậy nên nói tới đạo Phật là nói tới sự sáng suốt, sáng suốt thì phá được u tối, mê lầm. Chỗ nào tối tăm đem ngọn đèn tới liền sáng. Như vậy chúng ta tu nên sáng hay tối? Nếu tối thì rất cần ngọn đèn để được sáng. Tôi nghĩ làm sao soi sáng cho mọi người bớt tối tăm. Chữ tối tăm, từ chuyên môn của nhà Phật gọi là si mê hay vô minh. Vô minh là không sáng, muốn trừ cái không sáng thì phải thắp đèn. Ngọn đèn sáng này không thể bị vải hay giấy che, mà phải để sáng ra cho mọi người cùng thấy, cùng sáng, không thể chỉ sáng trong phạm vi riêng của mình. Tôi thích chữ Chiếu là vậy. Chiếu là soi sáng, sáng khắp, sáng cùng hết. Ở Việt Nam soi cũng đỡ đỡ rồi, bên đây quý Phật tử người Việt Nam chắc cũng cần thắp sáng, phải không? Vì vậy ngọn Đại Đăng sang đây đủ soi sáng cho các Phật tử nào còn tối, vị nào sáng rồi thì khỏi. Đó là ý nghĩa chân thật mà tôi đặt tên cho thiền viện này. Hôm nay ngày lễ Khánh thành thiền viện Đại Đăng, bước đầu rất tốt đẹp. Tôi nghĩ bước thứ hai, thứ ba chắc càng đẹp hơn. Mong tất cả quý vị có mặt ở đây, một là nhớ công ơn của những người sáng lập, đã hy sinh vì đạo pháp và không kẹt danh lợi; hai là có trách nhiệm đóng góp vào bước thứ hai để cho Đại Đăng được ngày càng phát triển tốt đẹp, vững chắc. Bước thứ ba thì còn xa, chúng ta lo hai bước đầu trước. Mong các Phật tử hưởng ứng và thực hành được những gì tôi mong mỏi. Tánh không duyên khởi, chân không diệu hữu Năm 2002 Hôm nay tôi nói về Tánh không duyên khởi, chân không diệu hữu. Đề tài này rất khó hiểu, quý vị phải chú ý mới có thể tiếp nhận được. Trong kinh Phật nói sắc tức không, không tức sắc. Câu này lâu nay nhiều người thắc mắc, nhất là giới học giả, vì nghe khó hiểu quá. Xưa nay chúng ta luôn sống theo mê lầm, nên những gì mình nói, làm hay suy nghĩ đều theo hướng mê lầm. Do đó khi được chỉ thẳng lẽ thật, chúng ta khó nhận ra. Đức Phật là bậc giác ngộ, Ngài thấy và nói trái hẳn với cái nhìn mê lầm của chúng sanh, vì vậy chân lý Phật dạy rất khó nhận. Tại sao gọi tánh không duyên khởi? Phật nói tất cả pháp tánh không, do duyên hợp thành các pháp. Chữ tánh là chỉ cho cái có sẵn, từ cái đã có sẵn đó theo duyên hợp mà thành. Ví dụ ngôi nhà trước khi chúng ta xây cất nó không có, từ chỗ trống không do duyên hợp đủ các vật liệu, kết hợp với thợ thầy và nhiều phương tiện mới xây dựng thành cái nhà. Từ chỗ trống không do duyên hợp thành nên nói ngôi nhà tánh không. Từ cái nhà chúng ta quy ra muôn pháp đều như thế. Sự vật, con người v.v... có mặt trong một thời gian ngắn, tạm bợ thì không thể nói nó thật được. Nói tánh không duyên khởi thì biết các pháp đều hư dối, không thật. Đi thẳng vào con người, cũng từ không duyên hợp thành có. Ai cũng bằng lòng như thế, nhưng bây giờ nói mình là giả thì không chịu. Bởi vì thấy mình thật nên muốn ăn ngon, mặc đẹp, thụ hưởng tất cả những gì thế gian có. Một khi muốn thụ hưởng mà bị ngăn trở thì không vui, nổi nóng lên liền. Phật gọi đó là si mê. Từ si mê sanh ra tham lam, từ tham lam sanh ra nóng giận. Người học Phật phải có trí tuệ, phải giác ngộ mới thấy đúng như thật. Khi biết thân mình là giả, duyên hợp hư dối thì chúng ta sẽ có cái nhìn khác về cuộc đời. Nghe khen đẹp cũng cười, nghe chê xấu hoặc bị khinh miệt cũng cười. Vì biết nó là đồ giả, có gì quan trọng đâu để mà vui hay buồn. Do đó nghe khen không mừng, chê không giận. Rõ ràng tu giỏi là từ trí tuệ thấy đúng như thật mà ra. Không si nên không tham, không tham nên không sân. Các vị Bồ-tát thấy rõ thân giả nên dám hy sinh thân mạng để cứu muôn loài, còn chúng ta thấy thân mình quan trọng nên nghe nói hy sinh thân mình liền hoảng sợ thì làm sao dám hy sinh! Ai hy sinh cho mình thì được, còn mình hy sinh cho người khác thì không được. Bệnh chấp ngã là lý do khiến chúng ta bị ích kỷ, tham lam. Người tu Phật phải có trí tuệ Bát-nhã, nhìn thấu suốt được lẽ thật từ con người cho tới muôn vật. Thấy đúng như thật rồi thì việc tu hành rất thuận tiện, dễ dàng. Nếu thấy theo mê tình thì sự tu hành rất trở ngại. Tôi hỏi một trăm Phật tử: Quý vị tu khó không; một trăm người đều nói khó. Tại sao khó? Vì tu là làm những điều trái ngược với thói quen của mình, thói quen hay buồn, hay giận, hay thương, hay ghét. Vì vậy luôn luôn thấy sự tu khó khăn. Nghiền ngẫm sâu hơn chúng ta thấy rõ thân này từ không, do duyên cha mẹ tụ lại nên có thân. Từ đó nhờ nuôi dưỡng mà thân lần lần lớn khôn, rồi trưởng thành. Như vậy, gốc ban đầu để thành người nguyên từ tánh không, duyên hợp mà có. Bởi duyên hợp nên đủ duyên nó còn, thiếu duyên nó mất. Thân ta do đất nước gió lửa tụ lại, thiếu một trong bốn thứ ấy thì thân không còn tồn tại. Các pháp cho đến con người và muôn loài có hợp ắt có tan, chỉ là tan sớm hay tan muộn mà thôi. Duyên hợp xấu thì thân rã sớm, tốt thì rã chậm, nhưng sớm chầy gì cũng phải rã, phải tan. Ở thế gian luôn luôn hỏi, cái này là thật hay giả. Nếu cái nào không đúng tiêu chuẩn thế gian thì gọi là giả, còn đúng tiêu chuẩn gọi là thật. Phân biệt giả thật theo thế gian là không đúng chân lý. Bởi không có gì do duyên hợp mà thật cả. Hiểu được lý Bát-nhã, chúng ta tu hết sức gần với Phật. Trong kinh Kim Cang, Phật nói: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai”. Các pháp có tướng đều hư giả, nếu thấy các tướng biết nó hư giả, đó là thấy Phật. Thấy Phật là thấy tánh giác của mình luôn hiện hữu, nhưng phải giác mới nhận ra được, còn mê thì thông nhận được. Phật là giác, nếu thấy các pháp hư giả không thật, đó là chúng ta có trí tuệ giác ngộ. Khi thấy tất cả sự vật và thân mình đều là hư giả thì tâm chúng ta không còn tham sân si, mà không tham sân si tức là thành thánh rồi. Nên nói, thánh với phàm cách nhau chỉ một cái nhìn. Thấy thân này thật, chấp đuổi theo nên có tham sân si. Thấy thân này giả thì hết si, hết tham, hết sân. Ai cũng sợ tham, sân, si mà cứ nuôi dưỡng si mê hoài thì làm sao hết tham, hết sân được. Đức Phật nhắm thẳng cái gốc chỉ cho chúng ta tu, người thấy đúng lẽ thật sẽ thấy Phật. Phật ở hết sức gần chúng ta vậy mà bao nhiêu năm chúng ta đi tìm kiếm, không ngờ Phật ở bên cạnh mình mà lại bỏ quên. Ngày nay chúng ta học Phật, học giáo lý chân thật thì phải soi thấy năm uẩn đều không. Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc tức thân tứ đại, thọ là cảm giác, tưởng là suy tưởng, hành là niệm tương tục, thức là tâm phân biệt. Những thứ đó sanh diệt, không thật mà chúng ta ngỡ nó là thật. Chấp thân thật nên giành nhau vật chất, chấp tâm suy nghĩ của mình là thật nên chống đối, giành phần đúng về mình, do đó mà thế gian đau khổ tràn trề. Bây giờ biết thân không thật, tâm suy nghĩ cũng không thật thì qua hết khổ nạn. Lời Phật đâu phải là lời nói suông, nhưng vì chúng ta không thực hành tới nơi nên vẫn còn khổ hoài. Tụng Bát-nhã thuộc lòng, nhưng ý nghĩa trong kinh thì không biết. Cứ nghĩ, tụng nhiều biến sẽ có phước. Tu như thế không được lợi ích gì cả. Tu là cốt làm sao thấy được lẽ thật của Phật dạy, chứ không phải đọc tụng tinh ngoài môi. Kinh Bát Nhã có chia ra ba phần: văn tự Bát-nhã, quán chiếu Bát-nhã, thật tướng Bát-nhã. Văn tự Bát-nhã là chữ nghĩa văn kinh, chiếu kiến Bát-nhã là y lời Phật dạy, dùng trí tuệ soi xét thân năm uẩn không thật. Từ chiếu kiến Bát-nhã mới đi đến thật tướng Bát-nhã. Cho nên soi thấy năm uẩn đều không thì qua hết khổ nạn. Kinh Kim Cang nói, thấy tất cả pháp không thật là thấy được Phật, tức lên đến bờ giác. Chỉ một bài kinh ngắn, nếu chúng ta sống đúng, tu đúng thì đã giác ngộ rồi. Ngày nay người tu học kinh thật nhiều, hết bộ này đến bộ khác, mỗi đêm tụng một hai phẩm, liên miên như vậy mà khổ vẫn cứ khổ hoài. Vì chúng ta tu bằng văn tự chớ không tu bằng trí tuệ soi xét. Đó là chỗ sai lầm. Tôi thường ví dụ, như người qua biển lỡ chìm thuyền, bấy giờ gặp khúc gỗ mục, người ấy ôm khúc gỗ mục tạm sống chờ cầu cứu hoặc bơi vô bờ, đó là người khôn. Nếu nghĩ nhờ ôm khúc gỗ mục nên thông chết đuối rồi ráng đeo cứng nó không chịu bơi, không chịu kêu cứu thì người đó khôn không? Chúng ta kiểm lại xem mình thuộc loại nào? Thân này như khúc gỗ mục vậy, nó rã lúc nào ông biết mà cứ bám vào nó luôn. Không lo bơi vô bờ, không lo cầu cứu, cứ ghì nó mãi, chờ ngày nó rã. Đó là việc làm thật không sáng suốt chút nào hết. Chúng ta có đang hài lòng với khúc gỗ mục này không? Người tu phải biết dựa vào thân để tu nhưng cũng biết rõ bản chất nó là tạm bợ hư dối. Chỉ nương nó để tìm một lối hướng thượng, vượt thoát chết chìm trong biển sanh tử thôi. Sớm cầu thoát khỏi sanh tử là người khôn ngoan. Chúng ta đã hiểu đạo rồi, khi thấy người khác khổ mình không thể ngồi yên nhìn, phải khuyên giải cho họ biết để đừng lầm nữa. Chúng ta là người dẫn đường, phải nhận ra cái cao thượng, quý báu hơn, để dẫn dắt kẻ mê ra khỏi sai lạc. Tĩnh thần của Bồ-tát đạo là biết giả nhưng vẫn thương và hết lòng cứu độ chúng sanh, nên chư Bồ-tát cứ lăn xả vào đời cứu độ chúng sanh. Phật dạy: “Khổ bị thiêu đốt trong địa ngục chưa phải là khổ, khổ làm ngạ quỷ đói khát chưa phải là khổ, khổ làm súc sanh mang ách kéo cày, kéo xe chưa phải là khổ, chỉ si mê không biết lối đi mới là khổ”. Như vậy Phật cho nỗi khổ lớn nhất là si mê. Bởi vì tạo tội đọa địa ngục, khi hết tội được trở lên làm người, lại do si mê mà tiếp tục tạo tội bị đọa vào địa ngục. Ngạ quỷ, súc sanh cũng thế. Chỉ có si mê, cứ lao mình đi sâu trong mê lầm không biết chừng nào ra được, đời này kiếp nọ liên miên không dừng, đây mới là đáng sợ nhất. Chúng sanh hiện giờ sợ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh mà không sợ si mê. Trong khi chính si mê là nguồn gốc đưa mình vào sanh tử liên miên không dừng. Phật dạy tất cả các pháp do nhân duyên sanh, đã do nhân duyên sanh thì phải thấy nó huyễn hóa, không thật. Chúng ta có bệnh chấp thật. Cái đó thật hay không? Trả lời thật hoặc không thì thiên hạ chịu, chứ nói giả họ không chịu. Nhưng cuộc sống này không thật hẳn, cũng không phải không ngơ. Hiện tại chúng ta đang có mà chỉ có tạm thôi. Trong kinh thường dùng thí dụ, như đêm rằm trăng sáng, một người đứng cạnh hồ nước trong, thấy dưới hồ có trăng. Nếu hỏi mặt trăng có thật không thì trả lời sao cho đúng chân lý? Nếu nói không thì rõ ràng mắt có thấy, nếu nói có sao đưa tay vớt không được. Cách trả lời đúng nhất là mặt trăng dưới hồ không thật, cũng không phải là không có, mà chỉ là hình bóng tạm bợ hư dối. Đủ duyên, trên có mặt trăng dưới có hồ nước trong, nên tạm có bóng mặt trăng. Bóng đó giả có, không phải thật có cũng không phải không có. Thân chúng ta cũng vậy, bây giờ đâu thể nói thông ngơ được. Có ăn, có mặc, có nói năng... đủ thứ, không phải không nhưng đừng ngỡ thật có. Không biết nó giả ngỡ là thật có thì thấy sai lẽ thật, thấy sai lẽ thật là si mê. Chúng ta học Phật là học trí tuệ, trí tuệ không cho phép chúng ta thấy sai lầm. Kinh Kim Cang, Phật nói kệ: Nhất thiết hữu vi pháp, Như mộng, huyễn, bào, ảnh, Như lộ diệc như điện, Ưng tác như thị quán. Các pháp sanh diệt trên thế gian này chỉ như giấc mộng, như vật huyễn hóa, như bọt nước, như làn chớp v.v... nó không có thật. Chúng ta luôn luôn thấy đúng như vậy là thấy đúng chân lý, thấy ngược lại là không đúng lẽ thật. Cũng trong kinh Kim Cang, Phật nói giả sử có người đem bảy báu nhiều bằng núi Tu-di để bố thí, phước không bằng người tụng bốn câu kệ. Tại sao? Vì của báu bố thí đó đối với thế gian rất nhiều, nhưng Phật thấy nó chỉ là tạm bợ, có rồi mất. Còn bốn câu kệ trong kinh Kim Cang là trí tuệ thấy đúng như thật, đây mới là phước lâu dài, đúng với ý nghĩa thoát khỏi mê lầm. Học kinh, hiểu kinh phải thấy đúng lẽ thật như vậy. Nhiều Phật tử tụng kinh Kim Cang nghi ngờ, bố thí thân này nhiều như số cát sông Hằng, sao không bằng người trì tụng kinh Kim Cang, vô lý quá? Chúng ta bỏ bao nhiêu thân mạng này mà vẫn ở trong mê thì biết vẫn còn phải bỏ không biết bao nhiêu lần nữa. Nếu hiểu thấu được bốn câu kinh Kim Cang, biết rõ các pháp hư dối, thân này tạm bợ, đó là trí tuệ ra khỏi sanh tử, cứu mình muôn đời. Chúng ta thấy việc hết sức khó làm là bố thí thân, đã thế Phật còn báo vô số lần bố thí thân như vậy, không bằng trì bốn câu kinh Kim Cang. Mới nghe ai cũng hoảng hốt, kinh gì mà giá trị lắm vậy? Thật ra đó là trí tuệ chân thật. Bốn câu kinh Kim Cang thâm nhập được là chúng ta có trí tuệ, hết mê lầm, hết sanh tử, không giá trị sao được. Còn bố thí, cúng dường bao nhiêu đi nữa đều là sanh diệt, tạm được rồi mất, không phải chân lý cứu cánh. Chúng ta tu phải thâm nhập được lẽ thật của Phật dạy là trí tuệ Bát-nhã. Hiểu thế rồi cuộc đời tu hành của mình nhẹ nhàng, thảnh thơi mà kết quả rất tốt. Ngược lại không hiểu như vậy, chúng ta tốn không biết bao nhiêu công phu mà kết quả chẳng có bao nhiêu. Phải thấy được gốc của mê lầm để chuyển thành giác ngộ. Phật giác ngộ nên Ngài nói đúng lẽ thật. Song lẽ thật ấy khác với phàm tình, nên ai cũng cho rằng lời Phật khó hiểu quá. Vì sao khó? Vì ngược với cái nhìn của thế gian. Biết các pháp tánh không duyên khởi chúng ta bớt được tham sân si. Bớt tham sân si mới tiến tới giải thoát. Nếu không biết như vậy, dù dụng công phu bao nhiêu cũng không thể nào giải thoát nổi. Nói tánh không là nói cái không sẵn có từ trước, từ không do duyên hợp giả có. Các pháp do duyên hợp giả có đều không thật, khi tan hoại cũng sẽ trở về tánh không ban đầu. Đó là nói về tánh không duyên khởi. Khi hiểu được các pháp tánh không do duyên khởi mà có, chúng ta thấy nó như mộng, huyễn, bọt, bóng. Cuộc sống năm, bảy mươi năm như giấc mộng, có gì đâu. Khi đang nằm mộng, chúng ta cứ ngỡ mộng là thật trăm phần trăm, nhưng vừa tỉnh lại liền biết mộng là giả. Cũng vậy, khi đang say với cuộc sống mê lầm này, chúng ta thấy nó thật trăm phần trăm, nhưng thức tỉnh được rồi liền biết nó giả. Một khi biết nó giả thì mọi đam mê, mọi giành giật đều tan hết. Biết các pháp duyên hợp hư giả chúng ta hết si, hết si thì hết tham, hết tham thì hết sân. Tham sân si hết là thánh rồi. Người bị nói nặng liền nổi giận là tại sao? Tại cho mình thật, lời nói thật nên bị xúc phạm danh dự thì nổi nóng. Bây giờ biết mình không thật, lời nói không thật, có gì xúc phạm, danh dự chỗ nào? Trên đầu hay lỗ tai? Thật ra con người tự tưởng tượng đặt ra, rồi tranh hơn tranh thua, giận hờn thù oán đủ thứ hết. Đó là nguyên nhân của đau khổ. Bây giờ biết rõ tất cả đều không thật thì chấm dứt các thứ hơn thua thù oán. Như vậy dễ tu không? Rất dễ, chỉ một mấu chốt ấy thôi. Bát-nhã không phải nói tánh không, tướng không để chúng ta biết suông, mà nói để nhận rõ thân này giả, cảnh đời giả. Thấy giả rồi thì tiêu hết tham sân si. Đó là bước nhảy vọt của người tu. Ngược lại, nếu ôm nó cho là thật thì dù trì tụng Bát-nhã mấy chục năm, mấy trăm năm rồi cũng đi mất. Cái thật của mình sẵn đó mà không chịu thấy, không chịu biết mới là thiệt thòi lớn lao. Sang phần thứ hai, nói về chân không diệu hữu. Chân không là gì? Tôi dẫn bài kệ Lục tổ Huệ Năng trình với Ngũ Tổ, đối chiếu với bài kệ của ngài Thần Tú: Bồ-đề bổn vô thọ, Minh cảnh diệc phi đài, Bản lai vô nhất vật, Hà xứ nhạ trần ai. Dịch: Bồ-đề vốn không cây, Gương sáng cũng chẳng đài, Xưa nay không một vật, Chỗ nào dính bụi nhơ. Ngũ Tổ chịu câu bản lai vô nhất vật. Bản là xưa, lại là nay, “bản lai vô nhất vật” là xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi bặm mà lau chùi? Câu này có giá trị như thế nào? Chúng ta tu niệm Phật hoặc tọa thiền, đòi hỏi phải nhất tâm bất loạn. Nhất tâm bất loạn là chỉ còn một tâm, không Còn nghĩ tưởng lăng xăng nữa. Lâu nay chúng ta cho nghĩ tưởng lăng xăng là tâm mình, tôi nghĩ thế này, tôi tưởng thế kia tôi phân biệt thế nọ v.v... cho nghĩ suy, phân biệt thương ghét v.v... là tâm mình. Như vậy từ khi cha mẹ sanh ra cho tới ngày nhắm mắt mình là một hay nhiều? Nếu là một tại sao thương cũng mình ghét cũng mình, giận cũng mình, oán thù cũng mình v.v... có bao nhiêu thứ mình? Chẳng lẽ mình là một lố tạp nhạp? Cho nên nói những nghĩ suy buồn thương, giận ghét là mình thì thật sai lầm. Những suy nghĩ đó là tướng sanh diệt, nó sanh diệt còn mau hơn sự sanh diệt của thân nữa, làm sao thật được! Bây giờ muốn hết chấp phải biết những thứ ấy hư dối, vọng tưởng bỏ đi, chừng nào không còn một niệm mới được. Không còn suy nghĩ, lúc đó hết mình hay còn mình? Khi không còn niệm nghĩ suy thì hết vọng tưởng chứ không phải hết mình. Quý vị thử nghiệm chừng một hai phút ngồi chơi, không một niệm nào trong đầu hết, lúc đó gió thổi nghe mát không, chim kêu nghe tiếng không, người đi ngang thấy không? Thấy là biết, nghe là biết thì mình hiện tiền, đâu phải có nghĩ mới có mình. Vậy mà lâu nay chúng ta lầm mê, cho suy nghĩ là mình rồi bỏ quên cái biết hiện tiền luôn luôn ở bên mình. Niệm suy nghĩ là tướng sanh diệt liên miên tạm bợ mà cho nó là mình, còn cái không suy nghĩ luôn biết hiện tiền từ khi có thân này cho đến ngày nhắm mắt lại không nhận ra. Thế nên, Phật dạy chúng ta tu để dừng những suy nghĩ sanh diệt, đừng nhận nó là mình nữa. Ngồi thiền với mục đích định các loạn tưởng, định được rồi trí tuệ chân thật mới hiện ra. Nếu chưa định thì trí tuệ không thể hiện được, vì các loạn tưởng phủ che hết. Nghĩ suy là vọng tưởng hư dối không thật, đừng chạy theo nó. Quở rầy riết nó lặng, lặng đến bao giờ không còn một niệm nào hết gọi là định. Định rồi thì tâm thể chân thật hiện tròn đủ. Chỗ này Lục Tổ nói xưa nay không một vật. Tại sao? Vì nó nguyên vẹn, không một niệm, không một suy nghĩ nào hết. Một niệm, một nghĩ là một vết nhơ. Cho nên ngài Thần Tú bảo, phải chùi tấm gương tâm cho những niệm nhơ ấy hết. Lục Tổ nói tấm gương đó vốn trong suốt, còn những thứ phủ che thì không thật. Nếu biết thể trong suốt không có gì che phủ được thì rõ bản lai vô nhất vật, tức xưa nay không một vật, không cần phải lau chùi. Ngài Thần Tú nói lau gương thì gương mới sáng. Vì thấy mặt gương bị dơ nên nói gương dơ, phải lau cho nó sáng. Lục Tổ thì không như thế. Nói lau gương mà không ngờ là lau bụi, bởi gương vốn đã sáng do bụi phủ nên tối, bây giờ muốn sáng thì phải lau bụi. Bụi phủ mấy lớp cũng được, chỉ cần lau sạch bụi thì tự nhiên gương sáng. Cái sáng ấy có từ thuở nào, chính khi bụi phủ nó cũng sáng, nhưng do bụi che nên ta không thấy sáng. Nói gương tối phải lau mới sáng thì không được nên Ngũ Tổ không chịu. Lục Tổ thấy được bản chất của gương là sáng, nên khi ngài trình kệ Ngũ Tổ nhận liền. Tâm thể chúng ta vốn trong sáng, do những nghĩ suy lăng xăng buồn vui, giận ghét che phủ nên mờ tối. Vì thế tu là dừng nghĩ suy, bằng cách nhìn lại thấy nó giả thì không theo. Tâm lăng xăng làm khổ chúng ta biết bao nhiêu đời rồi, nó tạo nghiệp dẫn đi trong luân hồi sanh tử. Bây giờ muốn dứt luân hồi sanh tử thì phải dừng nó lại. Không còn một mảy may lăng xăng nào chen lẫn thì bản lai vô nhất vật hiện ra, đó mới là cái thật mình. Gốc của sự tu là chỗ đó. Chúng ta tu là trở về cái thật muôn đời của chính mình, chứ không phải ở đâu mang lại. Vì vậy Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tức tánh Phật sẵn có nơi tất cả mọi người. Ngài là Phật đã thành, còn chúng ta là Phật sẽ thành. Nếu chúng ta biết dừng lặng hết những lăng xăng, thì trí tuệ chân thật hiện ra, đó chính là ông Phật sẵn nơi mình. Chúng ta theo đuổi cái bóng mà bỏ quên cái thật. Theo đuổi mãi, càng ngày càng nhiều hơn, đến một ngày tràn ngập, muốn ngủ ngủ cũng không được, nó cứ tràn ra hoài. Những cái bóng ấy sẽ dẫn mình đi tạo nghiệp. Thương thì tạo nghiệp ái, ghét thì tạo nghiệp sân. Cứ như vậy, thương ghét buồn giận cột trói nhau dẫn đi sanh nơi này, nơi kia trong lục đạo không ngừng. Chừng nào dừng hết những niệm buồn thương, giận ghét, chỉ còn một thể trong lặng sáng suốt, chừng đó mới giải thoát sanh tử. Giác ngộ thấy được thân tâm là hư dối, không bị lừa gạt nữa dần dần chúng ta sẽ bỏ được nó. Bỏ đến bao giờ đi đứng nằm ngồi không còn một niệm thì được nhất tâm hay được định. Như vậy, thiền định hay nhất tâm của niệm Phật không khác. Đó là lý đạo chúng ta phải hiểu thấu. Phật Di Đà là Vô lượng thọ, Vô lượng quang, tức ánh sáng vô lượng và tuổi thọ vô lượng. Tánh giác của chúng ta không sanh không diệt, sáng suốt vô lượng, nên không khác với Phật Di Đà. Hiểu như vậy, tu pháp môn nào cũng đưa đến giác ngộ giải thoát. Chúng ta tu buông hết vọng tưởng, lúc đó có tu không? Các thiền sư thường hay dùng câu “như ngây như ngu”. Như ngu chứ không phải ngu. Đừng nghe nói như ngây như ngu, rồi cho rằng ngu thật. Khi không có niệm phân biệt hơn thua, nghe ai nói phải quấy tâm không dính mắc, nên gương mặt có vẻ ngây ngô vì không quan tâm gì cả. Thật sự lúc đó rất tỉnh sáng, nhưng người không hiểu cho là ngu. Nhất là khi mọi người xúm lại bàn tán phải quấy, mình cứ lặng yên không có ý kiến gì hết, đối với thế gian tưởng như ngu, nhưng thật là không ngu. Những kẻ đeo đuổi vọng tưởng thấy như khôn nhưng thật ra lại không khôn. Khôn để tạo nghiệp sanh tử, ngu để giải thoát sanh tử, như vậy nên khôn hay nên ngu? Quý vị nhận biết thật rõ điều này, để trên đường tu không bị lầm. Nói đến đạo Phật là nói đến giác ngộ, giải thoát. Nếu muốn giác ngộ giải thoát thì phải thấy đúng như thật, dừng hết niệm sanh diệt. Còn niệm sanh diệt tức còn tạo nghiệp, mà còn tạo nghiệp thì còn luân hồi. Cho nên nói tới tu Phật, chúng ta cần phải biết rõ lối dạy nào đúng chánh pháp, lối dạy nào không đúng chánh pháp. Nếu nghe ai nói cái gì linh thiêng, mầu nhiệm... mình ham quá chạy theo là hỏng đi nhiều đời. Phật tử nên nhớ không có thần thánh nào thay mình được. Bỏ vọng tưởng là mình bỏ chứ không ai bỏ thế mình cả. Tu là gạn bỏ từ từ những sai lầm, khi sai lầm hết thì cái chân thật hiện ra, không do ai đem đến cho mình. Chúng ta đang có tánh giác hiện tiền mà bỏ quên, có của báu mà không giữ, để cho bọn lăng xăng lộn xộn vô làm khuất mất đi. Thật đáng thương. Trong kinh Viên Giác, ngài Văn Thù hỏi Phật thế nào là vô minh? Phật trả lời: Nếu đối thân tứ đại cho là thật, tâm đối đãi lăng xăng cho là thật, đó là vô minh. Trong mười hai nhân duyên, vô mình đi đầu. Manh mối của sanh tử là vô minh. Thân giả dối mà tưởng là thật, tâm lăng xăng sanh diệt mà tưởng là tâm thật, hai cái đó là vô minh. Ngược lại, thấy thân giả dối không thật, tâm lăng xăng sanh diệt bỏ đi thì hết vô minh, hết vô minh thì hết sanh tử, được giải thoát. Như vậy giải thoát thuộc quyền của ai? Quyền của chúng ta. Vậy mà cứ cầu thần thánh hoài, làm sao hết khổ, hết nghiệp được. Lục tổ Huệ Năng nói bản lai vô nhất vật được Ngũ Tổ thừa nhận cho vô thất. Đến khi nghe kinh Kim Cang, tới câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, ngài liền đại ngộ. Đi đứng nằm ngồi không dính mắc với sáu trần, đó là trụ tâm Bồ-đề, trụ tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chúng ta tu hàng phục tâm bằng cách không chấp ngã, ở ngoài đối với sáu trần không vướng mắc. Lúc đó còn cái gì che đậy tâm của mình không? Hoàn toàn trong sạch. Nghe đến đây Lục Tổ giác ngộ, liền thốt lên rằng: “Đâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh, đâu ngờ tánh mình vốn không sanh diệt, đâu ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ, đâu ngờ tánh mình vốn không dao động, đâu ngờ tánh mình hay sanh muôn pháp”. Cái chân thật ấy không sanh không diệt, lại hay sanh muôn pháp. Đó là để chỉ cho chân không mà diệu hữu. Chân không là không tất cả niệm che đậy, hay sanh muôn pháp là diệu hữu. Diệu hữu là khi đạt được thể chân không rồi, từ đó phát sinh ra rất nhiều diệu dụng, làm lợi ích vô lượng chúng sanh, Lục Tổ gọi là “hay sanh muôn pháp”. Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân, Hóa thân hay Ứng thân. Người tu thể nhập được Pháp thân liền đủ ba thân, có những thần thông diệu dụng Tam minh, Lục thông, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng v.v... nhiều vô số. Như vậy vào được thể chân không sẽ có diệu hữu, chứ không phải tới đó hết trơn. Đừng lo buông hết rồi mình ngu ngu khờ khờ không biết gì cả, tới đó có đủ ba thân, trí tuệ và diệu dụng vượt cả thế gian. Trong mười mục chăn trâu, mục thứ tám là trâu và chăn đều mất. Thằng chăn là trí tuệ thấy các pháp hư giả. Con trâu là niệm hơn thua, phải quấy tốt xấu. Những niệm đó chạy cuồng loạn giống như trâu điên, nên phải tìm đủ cách cột nó, điều phục được rồi từ từ nó thuần, đến lúc thảnh thơi cũng chưa xong. Khi trâu mất hẳn tức niệm không còn nữa, thì thằng chăn cũng không còn. Vì thằng chăn là để giữ trâu, trâu hết thằng chăn cũng phải hết. Trí tuệ Bát-nhã dùng để ruồng phá các mê lầm, mê lầm hết thì trí tuệ cũng buông luôn. Lúc đó mới thể nhập Pháp thân gọi là chim bay về tổ, lá rụng về cội. Thể nhập Pháp thân rồi liền có Ứng thân để độ chúng sanh. Đó là hình ảnh ông già bụng bự cầm cá chép, xách bầu rượu vô xóm. Như vậy chúng ta mới biết cái cao siêu của đạo Phật. Khi tu hành thuần thục, đến chỗ dứt hết nhân ngã mới có thể tự tại, liền biết không còn nghi ngờ nữa, đó là diệu hữu. Từ chân không đi đến diệu hữu, nếu chưa nhập được thể chân không thì thần thông chỉ là trò đùa, không bao giờ có. Như vậy muốn được diệu hữu trước phải có chân không. Đó là tôi tạm nói về tánh không duyên khởi và chân không diệu hữu. Mong tất cả nắm vững và ứng dụng tu cho đúng, để đến được chỗ giải thoát an vui, lợi mình lợi người viên mãn. Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 4
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
|
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
9. Thiền viện Đại Đăng (Hoa Kỳ)
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
21. Đạo Phật là đạo của tất cả mọi người (Chùa Phật Quang - Bến Tre)
27. Đạo Phật vì con người, xoáy sâu vào con người (Đạo tràng Trúc Lâm Tuệ Phát)
37. Tại sao Phật tử phải tụng kinh, niệm Phật, trì chú và tọa thiền...