Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 4
11. Thiền tự Bồ Đề (Hoa Kỳ)

Ý nghĩa thiền tự Bồ Đề

Năm 2002

Nhân ngày Khánh thành thiền tự Bồ Đề và an vị tượng Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni, Phật tử Tuệ Chấn cùng các Phật tử tại đây tha thiết cúng dường thiền tự Bồ Đề này cho chúng tôi, để chư Tăng trong các thiền viện về truyền bá Phật pháp. Với tâm chân thành đó, tôi hứa nhận thiền tự này. Sau đây, tôi có ít lời giải thích ý nghĩa tên thiền tự Bồ Đề. 

Tại sao tôi gọi chỗ này là thiền tự, trong khi ở Việt Nam các chỗ tu thiền cho Tăng Ni tu tập, tôi đều gọi là thiền viện? Như thiền viện Chơn Không, thiền viện Thường Chiếu, thiền viện Trúc Lâm, thiền viện Viên Chiếu, thiền viện Linh Chiếu, thiền viện Huệ Chiếu, thiền viện Phổ Chiếu v.v... Bởi vì chư Tăng Ni tu ở mỗi nơi có từ 5O người trở lên, với số người tu đông đảo như vậy nên gọi là thiền viện. Ở đây chỉ có vài thầy, nếu gọi là thiền viện thì chưa đủ tầm, nên tôi chuyển lại thành thiền tự, tức chùa tu thiền. 

Như vậy, thiền tự là chỉ cho nơi ở tu của một số ít Tăng Ni tu thiền, có các Phật tử lui tới tập tu thiền dưới sự hướng dẫn của Tăng Ni. Ngoài ra còn có những vị quyết tâm tu thiền, cất cái thất ở một mình chuyên tu thì gọi là thiền thất. Tóm lại, tu một mình gọi là thiền thất, tu năm ba huynh đệ thì gọi là thiền tự, đông đảo hơn thì gọi là thiền viện. 

Bồ-đề là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là giác ngộ. Ngày xưa đức Phật ngồi dưới cội tất-bát-la tu hành được giác ngộ, nên cây tất-bát-la được đổi tên thành cây bồ-đề. Tôi nghĩ, Phật tử hợp tác với chư Tăng chọn nơi đây để dựng lập ngôi thiền tự tu hành, tự mình được giác ngộ và dìu dắt chỉ dẫn cho Phật tử cùng giác ngộ, nên tôi chọn chữ Bồ-đề đặt tên cho ngôi thiền tự này. 

Danh từ Phật hay Bồ-đề thường được dùng từ tiếng Phạn mà không dịch nghĩa, bởi vì sự giác ngộ của đức Phật là sự giác ngộ triệt để, thấu suốt cả nhân loại và thế gian chứ không phải chỉ thấy cạn cợt như một số người thường. Trên ý nghĩa đó, người học Phật phải là người giác ngộ triệt để, chứ thông thể giác ngộ chút chút được. Các vị tôn túc sợ người sau dịch kinh hiểu lầm ý nghĩa hai chữ giác ngộ, nên để nguyên âm Bồ-đề cho chúng ta suy gẫm thấu hiểu tới nơi tới chốn. 

Đức Phật giác ngộ là giác ngộ cái gì? Đó là vấn đề lâu nay người tu Phật luôn ngộ nhận. Tu Phật phải giác ngộ, nếu không giác ngộ thì chưa phải Phật. Ở đây tôi sẽ nói giác ngộ từ cạn tới sâu. 

Giác ngộ thứ nhất là hiểu lý nhân quả nghiệp báo. Lâu nay người đời cứ làm điều này, điều nọ hoặc lành, hoặc dữ... mà không nghĩ ngày mai kết quả ra sao. Khi nóng giận họ làm những việc dữ, khi cảnh thuận lợi thì làm việc lành, mà không biết đến kết quả. Ngày nay chúng ta học Phật biết rõ nhân đã tạo thì quả phải lãnh, nhân quả không sai chạy bao giờ. Bởi thấu hiểu lý nhân quả nên khi làm việc gì, nói việc gì đều cẩn thận, dè dặt. Làm việc lành, nói lời lành, ý nghĩ lành, không để tất cả niệm xấu xa chen vào thân, miệng, ý. Đó là tạo nhân lành sẽ được hưởng quả lành. Những người không biết cứ tha hồ nói, làm, nghĩ trái với đức hạnh, trái với lợi ích chúng sanh, đó là tạo nhân dữ. Nhân dữ thì nhất định phải gánh quả dữ. 

Giác ngộ thứ hai là thấu triệt lý nhân duyên. Phật nói tất cả các pháp do nhân duyên sanh, không có tự tánh, tức là không có thật thể. Duyên hợp thì có, duyên tan thì mất. Vì duyên sanh nên tất cả các pháp không thật. Pháp không thật mà chúng ta ngỡ thật, đó là mê. Vì vậy Phật tử phải giác ngộ tất cả pháp duyên sanh đều không có tự thể, đủ duyên thì còn, thiếu duyên thì mất, sanh diệt không bền. Thế nên trong kinh thường nhắc, các pháp duyên hợp giả có. Đã là duyên hợp nên có đó phải là giả có. Nhìn từ con người cho đến muôn vật đều đúng như vậy, đó là giác. Thấy mình thật, người thật, sự vật bên ngoài thật, đó là mê.

Trên đường tu thấy đúng lẽ thật, đó là chúng ta đang đi trên con đường giác ngộ, nếu thấy sai lẽ thật là đi trên đường mê. Tại thiền viện, trong mỗi thời khóa đều đọc Bát Nhã Tâm Kinh, để nhắc chúng ta nhớ dùng trí tuệ soi thấy tất cả sự vật đúng như thật, đó là giác. Mở đầu bài Bát Nhã nói: “Bồ-tát Quán Tự Tại soi thấy năm uẩn đều không, liền qua tất cả khổ ách”. Thấy năm uẩn không thật, tức là thấy thân và tâm này đều không thật thì qua hết khổ nạn. Người nào thấy đúng như vậy, trên đường tu không còn gì vướng bận, lúc ngồi thiền tâm sẽ an ổn. Nếu tâm còn vướng bận hơn thua, phải quấy thì ngồi thiền bao nhiêu thứ lăng xăng trói buộc mình, mất hết sự yên tĩnh. 

Người tu thiền trước phải vận dụng trí Bát-nhã chiếu soi các uẩn đều không thật, đó là bước đầu để chúng ta tiến tới giác ngộ. Có giác mới là con Phật, vì đức Phật là bậc giác ngộ viên mãn. Có giác ngộ tới cứu giúp chúng sanh, nên Phật dạy tự giác rồi giác tha. Nghĩa là chúng ta có giác ngộ thì mới dạy người giác ngộ được, mình mê làm sao dạy người giác ngộ. Như vậy tự giác rồi mới đem cái thấy biết giác đó nhắc nhở, chỉ dạy cho hàng Phật tử, có thế mới đúng nghĩa tự giác giác tha đầy đủ. Từ tự giác giác tha đó chúng ta bước sang tự độ độ tha. Bản thân có giác mới qua hết phiền não, sau đó dạy người giác ngộ qua hết phiền não. Đó là tự độ mình qua được phiền não, sau mới dạy người độ họ qua hết phiền não, cho nên gọi là độ tha. 

Ngày nay chúng ta cứ nghĩ mình tu, nếu ai muốn đi tu theo mình thì mình độ người đó đi tu, mà không biết độ cái gì. Độ không phải là cạo đầu, mặc áo nhuộm. Xuất gia chỉ là hình thức trợ duyên cho người phát tâm tu thôi, còn nói độ là phải giác, giác rồi mới hết phiền não. Chừng nào mình qua khỏi sông mê thì chừng đó mới độ người khác qua sông mê được. Đó là tinh thần tự giác giác tha, tự độ độ tha. Thiếu hai phần này thì sự tu của chúng ta trở thành vô nghĩa. 

Là người xuất gia mà mải mê lo chuyện thế tục không chịu tự giác giác tha, không chịu tự độ độ tha thì uổng đi một đời tu. Tăng Ni và Phật tử nên nhớ, chúng ta tu là vì cầu giác ngộ giải thoát sanh tử và cứu độ những người khác cũng được giác ngộ giải thoát sanh tử như mình. Tu mà không có tự giác, tự độ thì chỉ là chuyện nói suông. Như vậy làm sao giác ai, độ ai? 

Trọng trách của Tăng Ni không phải nhỏ, làm sao bản thân mình giác ngộ giải thoát sanh tử mới có thể cứu độ chúng sanh. Nếu tự mình không giác ngộ, không giải thoát mà nói độ chúng sanh thì chỉ là nói cho vui miệng thôi. Tệ nhất là những người chưa giác thật mà khoe mình giác, tội này đọa địa ngục. Tại sao? Trong luật Phật dạy rõ, ai đại vọng ngữ chưa chứng mà nói chứng, chưa ngộ mà nói ngộ để gạt gẫm người, kẻ đó sẽ đọa vào địa ngục.

Vì vậy người tu cần phải cẩn thận từ lời nói, điều gì trái đạo lý thì không nói, lời nào đề cao bản ngã cũng không nói. Sống khiêm cung từ tốn đối với tất cả mọi người, đó là tư cách của người tu chân chánh. Có một nói mười, nói quá những gì mình thấy, mình hiểu, đó là lừa gạt thiên hạ chứ không phải người tu. Chúng ta mang một trọng trách lớn như vậy, mà không lo chuyện giác cứ lo những chuyện thế tục, không khéo sẽ rủ nhau đi trong trầm luân sanh tử, chịu nhiều khổ đau, không thể nào giải thoát được. 

Tôi mượn ý nghĩa thiền tự Bồ Đề để đánh thức quý vị nhớ tu. Nói tới đi chùa là nói tới giác ngộ, không phải nói tới chuyện hơn thua phải quấy, thị phi. Ai đem hơn thua phải quấy đến chùa là không biết đi chùa, mà là đi trong bể khổ. Chúng ta vì quý trọng chánh pháp nên mới đến với đạo cầu được giác ngộ, giác ngộ rồi mới tu tập qua khỏi trầm luân sanh tử. Con đường của chúng ta đi là con đường phi thường, thế gian không thể biết không thể hiếu. Do đó tất cả Tăng Ni và Phật tử khi bước chân vào đạo, phải đi từng bước đúng trên đường giác ngộ. Những gì sai thì tránh liền, đừng để mang danh Phật tử mà làm những chuyện tà giáo ngoại đạo uổng đi một đời. Việc tu hành muốn thành tựu đến nơi đến chốn, đừng bao giờ xem thường, đừng bao giờ quên lãng, chúng ta nhất quyết tu cho tới giác ngộ mới thôi. Đó là điều thiết yếu. 

Chúng ta sống trong mê lầm, giành giật, tranh đua nhau những thứ tạm bợ, do đó nên khổ. Nếu biết năm uẩn đều không thật thì hết khổ, nên Phật bảo qua hết mọi khổ ách. Khổ và hết khổ là từ mê với giác mà ra. Cái không thật mà tưởng thật là mê, cái không thật biết không thật là giác. Biết rõ như vậy rồi khổ nào cũng qua được hết, ngược lại không thật mà tưởng là thật thì khổ dồn dập tới. Giả sử ai chửi, mình nghĩ thân không thật thì chửi thật sao! Nghĩ thế tự nhiên mình cười, còn gì là khổ. Cho nên đau khổ không phải ở đâu đem đến, chỉ tại mê mà mình khổ. Bây giờ hết mê thì ngay đó khổ liền qua dễ như trở bàn tay. 

Phật dạy một đàng, chúng ta làm một nẻo hoặc không chịu tu theo lời Phật dạy, rồi kêu Phật cứu, làm sao Phật cứu được. Mỗi khi tụng kinh, chúng ta nghe lời Phật dạy thấm dần, thấm rồi ứng dụng, đó là tu. Đừng tưởng tụng được nhiều bộ kinh là tu, tụng kinh mà không hiểu, không ứng dụng lời Phật dạy là không tu chút nào hết. Nhiều người tụng bộ này qua bộ kia, cho rằng mình tu nhiều, nhưng ai nói trái ý liền la rầy. Như vậy không biết tụng kinh để làm gì? Phật có dạy tụng kinh để nóng giận đâu, mà tụng kinh ra ai động tới la um sùm. Rốt cuộc càng tu càng dễ sân hận, càng làm khổ mình khổ người. Đó không phải là người thật tu.

Tu phải thật tu, quyết tâm tu, càng tu tâm càng nhẹ nhàng thanh tịnh, càng tu càng tỉnh táo sáng suốt, không bị danh lợi phù phiếm thế gian quyến rũ. Đó mới thật là người tu. Tu là cứu mình cứu người. Nếu không thật tu chỉ gây phiền lụy cho mình và người thôi. Đó là chủ đích tôi đặt tên thiền tự Bồ Đề. Khi tới cửa thiền tự Bồ Đề, Phật tử luôn nhớ mình đang tập giác ngộ, bước vô chùa tụng Bát-nhã là đang giác, ra ngoài cũng giác. Không nên vô chùa dụm năm, dụm bảy nói chuyện phải quấy của thế gian rồi phiền não, không có lợi ích gì hết. Học đạo giác ngộ, tu theo đạo giác ngộ là mục tiêu của người xuất gia cũng như tại gia. Đây là điều tất cả phải ghi nhớ và thực hành cho được viên mãn. 

Thiền tự Bồ Đề trực thuộc thiền viện Đại Đăng, tôi cử người qua đây chịu trách nhiệm và trợ lực cho Tuệ Chấn. Vì thiền viện này là một cơ sở trực thuộc Đại Đăng, nên chư Tăng phải chung lo góp sức với nhau. Trụ trì, Phó Trụ trì Đại Đăng thỉnh thoảng thay phiên qua đây giảng dạy cho Phật tử. Tôi tuổi đã già không làm Phật sự được nhiều nữa, tôi chỉ có 

trách nhiệm nhận còn duy trì, gìn giữ và phát huy là trách nhiệm chung của tất cả quý vị. Mong tất cả quý vị cố gắng thực hiện cho được tốt đẹp.

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 4
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
Danh sách chương: