Thiền Tông Việt Nam
Tông Môn Cảnh Huấn 4
21. Đạo Phật là đạo của tất cả mọi người (Chùa Phật Quang - Bến Tre)

Hôm nay nhân ngày lễ chung thất của hòa thượng Thiện Tín, Trụ trì chùa Phật Quang - Bến Tre, chúng tôi về đây dự lễ và có một thời pháp với đề tài Đạo Phật là đạo của tất cả mọi người. Trước khi giảng, tôi xin nhắc lại những kỉ niệm với Hòa thượng, trong đạo tình cũng như trong công tác Phật sự tại Bến Tre. 

Chúng tôi quen gọi hòa thượng Thiện Tín là thầy Phật Quang. Thầy lớn tuổi hơn tôi, nhưng đã nhiều năm cùng nhau chung lo các Phật sự. Khoảng năm 1957 - 1958, tôi và thầy Huyền Vi là một trong số các thành viên của Ban Hoằng pháp Giáo hội Tăng-già Nam Việt. Tổ chức này hoạt động trên cả ba miền đất nước: Giáo hội Tăng-già Nam Việt tại miền Nam, Giáo hội Tăng-già Trung Việt tại miền Trung và Giáo hội Tăng-già Bắc Việt tại miền Bắc. Trụ sở của Giáo hội Tăng-già Nam Việt ở chùa Ấn Quang, là trường tôi học ngày xưa. 

Trước khi tốt nghiệp khóa học, hòa thượng Viện trưởng đặc trách cho chúng tôi nhiệm vụ hoằng pháp. Cho nên sau khi ra trường chúng tôi được bổ nhiệm vào Ban Hoằng pháp của Giáo hội Tăng-già Nam Việt. Vì thế mỗi năm tối thiểu ba tuần lễ, chúng tôi phải thay nhau đi đến các tỉnh như Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh, Bến Tre, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Hà Tiên... giảng dạy Phật pháp cho Phật tử. Đó là một nhân duyên tốt, để thầy Phật Quang phát triển Phật giáo tại Bến Tre. Thầy đã đứng ra vận động Phật tử gửi thư mời Ban Hoằng pháp tới giảng, trong đó có tôi và thầy Huyền Vi. 

Tình huynh đệ chúng tôi đối với thầy rất thâm sâu. Nhất là cử chỉ, hành động và đạo đức của thầy khiến tôi vô cùng kính mến. Nhiều lần liên tục tôi được mời về Bến Tre giảng dạy, từ đó Phật tử thương quý và phát tâm tu hành nhiều hơn. Tại tỉnh này có hai ngôi chùa lớn, là Viên Minh và Phật Quang. Chùa Phật Quang do gia đình ông Mười Tín lập nên, trước đã mời thầy đảm nhiệm chức vụ trụ trì nhưng chưa làm giấy cúng. Nhân thấy Phật tử về nghe giảng, ngày càng đông đảo và có lợi ích nên đến năm 1961, gia đình ông phát tâm cúng dường chùa Phật Quang cho thầy Thiện Tín, thầy Huyền Vi và tôi. 

Cũng trong năm ấy, các vị lãnh đạo chính quyền, phát tâm cúng dường chùa Viên Minh cho chúng tôi. Đây là cơ duyên tốt để mở rộng việc hoằng pháp tại thị xã Bến Tre. Từ đó chúng tôi vận động Phật tử góp công góp của, xây cất thêm Tăng xá phía sau. Đồng thời mở trường Bồ-đề cho con em Phật tử có cơ hội học văn hóa cũng như giáo lý đạo Phật. Tuy nhiên thầy Phật Quang là người chịu trách nhiệm chính vì tôi và thầy Huyền Vi phải đi nơi này nơi kia lo Phật sự. 

Đến năm 1962, thầy Huyền Vi đi Ấn Độ học, tôi bị đau phổi nằm bệnh viện, sau đó nhập thất tu để trị bệnh. Cho nên mọi việc ở đây thầy Phật Quang phải sắp đặt, điều hành một mình. Năm 1964, sau khi hết bệnh, tôi lãnh trách nhiệm giảng dạy chính tại Phật học viện Huệ Nghiêm, khóa Trung đẳng chuyên khoa trong ba năm cho chư Tăng tại Huệ Nghiêm và chư Ni tại chùa Dược Sư, đồng thời dạy thêm ở Vạn Hạnh. 

Tôi còn nhớ lần đi giảng tại Rạch Giá, sau khi giảng xong Phật Học Phổ Thông khóa hai, một Phật tử thật thà hỏi: “Thưa hai Thầy! Trong bài giảng, hai Thầy kể rõ quả vị tu chứng của hàng Thanh văn là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán. Trong khi tu thiền chứng từ Sơ thiền Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền cho tới Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Chúng con nghe và hiểu rõ lắm, nhưng hai Thầy đã chứng quả nào rồi?”. 

Câu hỏi là một đòn đau điếng đối với tôi. Tôi sửng sốt không trả lời được, thầy Huyền Vi ngồi bên cạnh nhanh trí đáp: “Quả vị tu chứng của mỗi người, như uống nước nóng lạnh tự biết, không thể nói cho người khác biết được”. Phật tử nghe xong im lặng không nói gì, nhưng tôi thấy trong lòng không yên. Tôi nghĩ dù mình học bao nhiêu, giảng pháp rất nhiều người được lợi ích, mà sự tu của bản thân chưa ra gì thì thật xấu hổ. Cho nên sau khi mãn khóa lớp Trung đẳng, tôi quyết định xin nghỉ, rồi ra núi Lớn Vũng Tàu cất thất chuyên tu. 

Sở dĩ tôi kể như vậy là để thấy công của thầy Phật Quang rất lớn, đã thay thế chúng tôi lo lắng, đảm đang, trực tiếp gánh vác Phật sự tại chùa Phật Quang và Viên Minh. Thầy chính là cây thạch trụ duy trì Phật pháp tại thị xã Bến Tre, chúng tôi chỉ trợ lực. Những năm đó thầy khỏe mạnh nên chúng tôi cũng yên lòng. 

Tuy có bổn phận trách nhiệm chung lo, nhưng mỗi người làm mỗi việc. Sau này thầy Huyền Vi trở về nước, có tới lui phụ chút ít. Riêng phần tôi, sau khi ra thất lại thành lập thiền viện Chơn Không, chuyên dạy tu thiền cho Tăng Ni và Phật tử. Từ đó đến nay, tôi không còn đi giảng nhiều như hồi xưa, cũng ít về Bến Tre chung lo Phật sự với thầy Phật Quang.

Sau năm 1975, thầy Huyền Vi định cư tại Pháp còn tôi phụ trách chăm lo dạy dỗ Tăng Ni trong các thiền viện nên càng ít về đây. Tuy nhiên, khi có việc cần như sắp đặt người kế vị trụ trì chùa Viên Minh hay Phật Quang, thầy lại dạy đệ tử ra thiền viện xin ý kiến của tôi. Mỗi lần như vậy, tôi đều hoan hỷ vì thấy thầy đã hết lòng lo cho đạo, không hề có tâm riêng tư ích kỷ. Tôi rất yên lòng vì thầy đã sắp đặt đâu vào đó. 

Hòa thượng Thiện Tín đã sống và hành đạo tại chùa Phật Quang trên nửa đời, bây giờ xây tháp thầy tại đây nên chùa chính thức trở thành Tổ đình của hàng môn hạ đệ tử hòa thượng Thiện Tín. Mong rằng các vị có trách nhiệm cố gắng làm tròn bổn phận, duy trì và phát triển Tổ đình ngày càng tốt đẹp hơn, xứng đáng với lòng tin cậy và mong mỏi của thầy. Đó là những kỷ niệm của chúng tôi với thầy Phật Quang, hôm nay tôi hồi tưởng lại, để ghi nhớ và trân quý đạo tình Linh Sơn một thuở của anh em chúng tôi. 

Đạo Phật là đạo của tất cả mọi người, trong kinh Phật từng nói giáo lý của Ngài là những phương thuốc trị lành tâm bệnh chúng sanh, ai cũng có quyền dùng. Cũng như vị lương y bào chế thuốc trị liệu cho bệnh nhân, bệnh nào sẽ được cấp đúng thuốc bệnh đó. Không phân biệt thân sơ, màu da, chủng tộc, giàu nghèo; khi cần uống vào đều lành bệnh. Cho nên thuốc trị bệnh không dành riêng cho một nhóm nào, mà chung cho tất cả mọi người. Pháp của Phật cũng vậy, dùng để trị tâm bệnh cho hết thảy chúng sanh. 

Trong kinh thường nói Phật có tám muôn bốn ngàn pháp môn, tùy căn cơ chúng sanh mà phương tiện chỉ bày, dẫn dắt ra khỏi khổ đau luân hồi. Bệnh của chúng sanh rất nhiều nhưng ở đây tôi chỉ nói vài thứ trầm trọng, để quý vị thấy và chiêm nghiệm về sự tu cho được kết quả tốt. 

Tất cả chúng ta ai cũng có bệnh tham lam, nóng giận và si mê, đó là gốc của đau khổ. Đức Phật từng dạy: Cái khổ bị thiêu đốt trong địa ngục chưa phải là khổ; cái khổ làm trâu bò mang cày kéo xe bị đánh đập; hoặc làm ngạ quỷ đói khát lang thang cũng chưa phải là khổ; chỉ có si mê không biết lối đi mới thật là khổ. Bởi vì chịu khổ trong địa ngục có thể một hai kiếp thoát khỏi, làm trâu bò chừng vài chục năm, làm ngạ quỷ cũng mấy ngàn năm, chỉ có si mê là cái khổ hơn hết vì nó khiến chúng sanh chịu luân hồi muôn đời, muôn kiếp không bao giờ ra khỏi. 

Căn bệnh trầm trọng thứ nhất là tham, lòng tham khiến chúng sanh chịu đủ thứ cay đắng. Mỗi lần ngồi trên xe từ Đà Lạt về Thường Chiếu, tôi thấy mấy con chó chạy ra đường thật nguy hiểm. Chỉ cần gặp một ít thức ăn người ta đánh rớt là nó vui mừng đứng liếm hoài, xe chạy ngang bóp kèn cũng không thèm tránh. Tham ăn còn quên cái chết, huống nữa tham đủ thứ thì khổ tới cỡ nào. Lần khác tôi thấy hai con chó đang cự lộn nhau trên đường, xe chạy bóp kèn inh ỏi mà chúng cũng không tránh, chỉ lo cắn nhau, khi nổi sân tính mạng cũng quên luôn. 

Khổ đau là do tham lam, sân hận, si mê mà ra. Dứt được mấy bệnh này thì khổ đau sẽ hết, đó là một lẽ thật. Ba căn bệnh trầm trọng ấy cần có thuốc của Phật để trị, đừng nghĩ rằng vô chùa lạy Phật cầu xin là hết khổ, mà phải ứng dụng những lời Phật dạy để tu sửa mới đạt lợi ích thiết thực. Phật nói tham có năm thứ: tham tài, tham sắc, tham danh, tham thực và tham thùy. 

Với người tham tài, tức tham tiền thì Phật dạy uống thuốc bố thí. Gặp người nghèo thiếu, bệnh hoạn, chúng ta có điều kiện nên giúp đỡ đừng tiếc. Bởi vì tiền của thuộc về năm nhà: lửa cháy, nước trôi, trộm cướp, con bất hiếu phá hoại gia sản, vua chúa tịch biên. Như vậy, không có gì bảo đảm chúng ta có thể giữ gìn suốt đời. Nếu quý Phật tử biết làm phước, giúp đỡ mọi người lúc thiếu thốn, đói khổ thì họ sẽ mang ơn và quý trọng quý vị. Đó là quả phước. Càng giúp được nhiều người phước càng lớn. Làm việc tốt lành, bố thí thấy như thiệt thòi mà rốt cuộc giữ được phước báu, là thứ không có thể phá hoại hay lấy mất được.

Với người tham sắc thì Phật dạy tu quán bất tịnh. Thấy rõ hình sắc đẹp đẽ bên ngoài của con người chỉ là giả tạm, bên trong chứa đầy đồ nhơ nhớp bất tịnh. Bản thân mình và mọi người xung quanh đều giống nhau. Luôn luôn quán xét kỹ như vậy thì không còn tham sắc nữa. 

Với người tham danh, Phật dạy quán vô thường. Nếu ai tham danh vị, chức tước nhất định sẽ chịu nhiều khổ sở. Bởi vì lúc nào cũng phải dồn hết tâm lực chạy vạy vun bồi, mong mỏi cho được như nguyện. Khi được rồi lại lo lắng bất an vì sợ mất, cho nên Phật dạy người nào tham danh phải quán vô thường, thấy mọi thứ trên thế gian này được đó rồi mất đó, không có gì bền lâu chắc thật. 

Với người tham ăn, Phật dạy phải quán thức ăn chỉ là tạm bợ, nuốt qua khỏi cổ sẽ hết giá trị. Bởi vì muốn ăn những món hợp khẩu vị, nên cái lưỡi đòi hỏi đủ thứ. Được như ý hay không được như ý đều khổ. Thức ăn còn nhai trong miệng thấm vào lưỡi nghe ngon, nhưng khi nuốt xuống thì hết ngon. Đó là chưa kể, nếu bao tử không dung bắt ụa ra, tanh hôi vô cùng. Cho nên dùng pháp quán vô thường để trị bệnh tham ăn. 

Với người tham ngủ, Phật cũng dạy lấy lý vô thường để đối trị. Ngoài thế gian thì tôi không biết chứ Tăng Ni trẻ trong chùa phải thức khuya dậy sớm, nên ngủ đối với họ quý vô cùng. Nhiều khi nghe tiếng kiểng đánh thức, mà còn lăn qua trở lại không dậy nổi. 

Lý vô thường là để cảnh tỉnh bệnh tham ngủ. Nhắc nhở chúng ta mạng sống con người mong manh vô thường, phải tu gấp như cứu lửa cháy đầu. Vừa thấy một đốm lửa rớt trên đầu phải phủi ngay đừng đợi cháy phừng mới phủi sẽ không kịp. Ngày nay chúng ta còn khỏe mạnh nên tu gấp không chần chờ, lỡ mai này già yếu hết tu được, hoặc sắp chết càng quờ quạng khó tu, không biết sẽ đi đâu. Thật nguy hiểm vô cùng. 

Cuộc đời vô thường, không ai bảo đảm ngày nay khỏe mạnh, ngày mai cũng khỏe mạnh. Lời Phật dạy là chân lý, chúng sanh nào khéo ứng dụng thì tâm bệnh sẽ lành. Cho nên lấy lý vô thường nhất nhở, thúc đẩy chúng ta cố gắng tinh tấn để trị bệnh tham ngủ. Nếu không ứng dụng lời Phật dạy thì dù tu 10 năm hay 20 năm cũng không hết bệnh. Vì vậy học Phật phải hiểu thấu đáo và khéo thực hành thì sự tu có tiến bộ và đạt kết quả tốt. 

Căn bệnh trầm trọng thứ hai là sân hận, Phật dạy dùng thuốc nhẫn nhục để trị. Nhẫn nhục là sao? Khi nghe ai nói trái ý mình liền nổi giận; muốn đừng thốt ra lời nói bậy, không hành động xấu thì phải khéo điều phục đừng cho cơn nóng bừng lên. Ðó là nhẫn nhục. Nhiều thầy cô không hiểu nên dạy Phật tử, khi giận lấy nước uống vô cho mát. Chẳng lẽ mỗi lần giận mỗi lần uống nước, uống hoài bể bụng mà giận vẫn y nguyên! Người tu phải sáng suốt, đừng thốt ra lời nói và hành động tạo nghiệp xấu. Đó là thuốc trị bệnh sân. 

Ngoài ra Phật còn dạy pháp quán từ bi để đối trị bệnh sân. Giả sử, người thân lỡ làm điều gì trái ý thì mình dễ tha thứ; còn với người ghét mà làm trái ý mình một chút thì liền nổi nóng không thể kiểm thế. Muốn gặp việc bất như ý mà không cố chấp, không hành động nhẫn tâm thì phải có tình thương mới bỏ qua được. Phải nghĩ, họ là người chưa sáng suốt nên nói bậy làm bậy, là người đáng thương cần được tha thứ, không nên thù ghét làm gì. Quán như vậy là kết hợp thuốc từ bi với nhẫn nhục, để trị bệnh nóng giận. 

Căn bệnh trầm trọng thứ ba là si mê, bệnh này rất khó điều trị. Người cuồng dại có cái si mê của người cuồng dại, người trí thức hiểu biết có cái si mê của người trí thức hiểu biết. Trong kinh Phật dạy, người nào không phân biệt được thiện ác, tội phước, tà chánh... là si mê, chết bị đọa làm súc sanh. Chúng ta cùng chiêm nghiệm chín chắn điều này để tránh tạo nhân si mê không tốt. 

Giả sử thấy người đói khát khổ sở, quý vị đem thức ăn, tiền bạc, đồ dùng... giúp họ vượt qua cơn nguy khốn. Cuộc sống của họ trở lên tốt hơn vì bớt đi phần nào cơ cực về thân cũng như sự rối rắm trong tâm, đó là việc làm thiện. Nhưng nếu gặp người ghiền á phiện đang lên cơn vật vã thì chúng ta không thể mua á phiện giùm, hay bố thí tiền cho họ hút để thỏa mãn cơn ghiền, mà phải tìm phương tiện giúp họ cai nghiện mới là thiện. 

Cho nên phải khéo phân biệt rõ ràng. Người trí hiểu đạo cần có nhận định chân chánh, xem xét kỹ càng việc mình giúp người là thật sự hết khổ mới nên thực hiện. Tránh rơi vào tình trạng bớt khổ một phần tạm thời rồi sau bị khổ lâu dài, điều đó không đúng. 

Về vấn đề tội phước, điều gì được coi là phước điều gì bị coi là tội? Đây là vấn đề rất tế nhị, không đơn giản chút nào. Nhiều khi thấy việc làm đó dường như là phước mà trở thành tội, tội mà trở thành phước. Thí dụ, thầy cô giáo muốn học trò ngoan giỏi nên khi nó lười biếng bỏ học thì bắt phạt đứng khoanh tay hoặc quỳ gối v.v... Mới thấy thì dường như thầy cô giáo làm khổ học trò, nhưng chính vì bị phạt nên nó sợ, ráng học sau này thành đạt. Cho nên việc làm này của thầy cô giáo là phước. 

Nếu cô giáo dễ dãi để học trò muốn đi đâu thì đi tùy ý, làm gì cũng không rầy nhắc, thả lỏng tự do, mai mốt nó sẽ hư hỏng. Mới nhìn thấy cô giáo như tốt bụng, không khó khăn với học trò, nhưng vô tình đã tạo điều kiện xấu, gây tai hại về sau cho học trò. Cho nên việc làm này là tội. Chúng ta cần phải giản trạch rõ tội phước, đừng lầm lẫn đưa đến hậu quả không hay.

Kế đến là chánh tà. Phật luôn dạy chúng sanh phải có chánh tín, không nên mê tín hoặc tà tín. Chánh tín tức là tin một cách chân chánh đúng lẽ thật, giải quyết mọi việc theo luật nhân quả, sẽ được lợi ích lớn. Ngày nay có nhiều Phật tử tuy đã tu theo Phật, nhưng mỗi năm vẫn tổ chức đi miếu Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc... để vay tiền về làm ăn cho phát đạt. Nếu bà thực sự linh thiêng như vậy thì tại sao vùng đó còn có người nghèo, lẽ ra họ phải giàu hết. Bởi vì người dân ở gần một bên miếu bà, chỉ chạy vô chút xíu vay bao nhiêu chẳng được; còn người ở xa đến vay làm giàu thì thật không đáng tin chút nào. Việc làm không đúng lẽ thật mà chúng ta vẫn tin gọi là tà tín, không phải chánh tín. 

Chánh tín còn có nghĩa là tin luật nhân quả, gây nhân nào hưởng quả nấy. Như người nông dân làm ruộng gieo giống tốt, săn sóc kỹ, tới mùa gặt được nhiều lúa. Người làm vườn có giống tốt, săn sóc kỹ tới khi thu hoạch được nhiều trái. Tạo nhân tốt nhất định hưởng quả tốt, đó là một lẽ thật. Đức Phật từng tuyên bố: Ta không có quyền ban phư giáng họa cho ai, chỉ dạy chúng sanh tin luật nhân quả. Người nào làm thì người ấy chịu, Phật không ban thưởng hay trừng phạt bất cứ ai. 

Đa số chúng sanh không chịu làm lành gieo nhân tốt, đến khi gặp tai nạn chạy vô chùa cầu nguyện. Điều này tôi thấy rất khổ tâm, vì Phật tử tin tưởng chúng tôi tu hành chân chánh, nên khi gia đình gặp chuyện gì khó khăn, nguy hiểm cũng tới cầu xin. Cha mẹ có bệnh thì liền đến nhờ thầy đi cầu an cho qua cơn bệnh. Tôi thấy xấu hổ quá! Bởi vì tôi bệnh phải đến bác sĩ trị cho khỏi, tự tôi không cứu được mình, lại đi cầu cho người khác hết bệnh là chuyện không có. 

Nếu chúng ta tin và hiểu không đúng lẽ thật thì dù là Phật tử vẫn chưa phải chánh tín. Thậm chí một số thầy còn dạy Phật tử, nếu có bệnh rước thầy về cầu an hoặc đem tên tuổi đến chùa thầy làm lễ cho, có chết thì mời thầy cầu siêu v.v... coi như thầy là chủ vận mạng để Phật tử đóng bảo hiểm. Nhưng bản thân thầy cứu mình không xong thì làm sao cứu được Phật tử. Thế nên chúng ta phải hiểu và thực hành đúng chánh tín, không nên nghe lời người khác, làm trái với đạo lý Phật dạy. 

Một sự lầm tưởng nữa là thiên hạ cho rằng, những người ít học quê mùa mới mê tín, còn người trí thức không mê tín. Gần đây dư luận đưa tin năm 2000 là tận thế, nên ở ngoại quốc có nhiều nhóm chuẩn bị chết tập thể. Bởi vì họ sợ đến ngày tận thế thiên đàng không còn chỗ cho mình, nên chết trước để giành chỗ. Thật là quá mê tín. Dân trí thức ở nước văn minh còn như vậy thì mê tín hạng nào cũng có, chứ không chỉ riêng người quê mùa. Vì thế để phân biệt mê tín và chánh tín là điều rất khó. Như vậy, quan trọng là phải tu được trí tuệ. Nhận định phân biệt rành rõ thiện ác, tội phước, tà chánh là người trí; ngược lại là si mê. Đó là nói cái si bậc thấp. 

Bây giờ tới si bậc trung. Đức Phật nói thân này là giả, nhưng chúng ta không thấy giả, mà thấy thật trăm phần trăm. Theo giáo lý Phật dạy, thân người do tứ đại đất, nước, gió, lửa hợp thành. Chất cứng trong ngươi là đất, chất ướt là nước, động gió, hơi ấm là lửa. Thân hoạt động và tồn tại được là nhờ tứ đại bên trong, kết hợp với sự vay mượn tứ đại bên ngoài, nếu thiếu một trong bốn thứ là chết. Thí dụ tất cả chúng ta đang hiện diện ở đây, ai cũng nghĩ mình đang nghe giảng, không làm gì thêm, nhưng sự thật quý vị đang làm một việc tối quan trọng là vay mượn tứ đại bên ngoài. 

Thân này không thật, chi là sự vay mượn. Lỗ mũi hít thở không khí ở ngoài, đem vô rồi trả ra mượn vô trả ra liên tục. Lát sau mượn thêm tách nước, chén cơm rồi cũng phải trả ra. Nếu mượn vô mà không trả ra, hoặc trả ra mà không mượn vô thì chết. Mượn đủ bốn chất bên ngoài để bồi dưỡng bốn chất bên trong, bồi bổ đều đều thì chúng ta sống bình an. Nếu trong bốn thứ, không mượn một thứ hoặc trả không được thì khổ. Rõ ràng thân này chỉ là sự vay mượn liên tục, không có gì thật. Lầm tưởng cho nó là thật tức si mê. Ai vỗ ngực xưng ta thật, tức không phải người trí. 

Nghe Phật nói thân này tạm bợ giả dối, tưởng như Phật bi quan nhưng lại là một lẽ thật. Hiểu được điều này rồi, tất cả chúng ta phải biết tận dụng nó làm nhiều việc lợi ích cho xã hội. Không nên cung dưỡng, săn sóc, gìn giữ dẫn đến sanh tật cống cao ngã mạn. Thân này đã không thật, vậy cái gì thật? Ai cũng cho rằng suy nghĩ tính toán tốt xấu, hay dở, phải quấy là tâm mình thật. Nghĩ như vậy là sai lầm lớn. 

Chỉ cần một hoặc hai phút ngồi chơi, không nghĩ điều gì hết, lúc đó có mình không? Nếu cái suy nghĩ là mình thì lúc không suy nghĩ phải không có mình, mà không có mình tức là chết rồi. Tuy không suy nghĩ mà mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, thân vẫn xúc chạm, cái biết luôn hiện tiền. Vì thế nên biết suy nghĩ chỉ là tạm bợ, có rồi mất không thật. 

Ngoài cái nghĩ lăng xăng, còn có cái biết chân thật hằng hữu mà chúng ta bỏ quên. Do đó Phật nói, chúng sanh si mê nhận giả làm thật. Trong kinh A Di Đà, đức Phật dạy niệm Phật cho tới nhất tâm bất loạn, tức là không còn một ý niệm nào chen vô mới được vãng sanh về cõi Cực Lạc. Đối với người tu thiền, Phật dạy bỏ hết vọng tưởng chỉ còn cái biết chân thật. Như vậy, tu là sống trở lại tâm chân thật hiện hữu của mình từ lâu nay. Đây chính là giá trị của sự tu. 

Mong tất cả quý Phật tử ghi nhớ và thực hành cho tốt để sau này không thấy đáng tiếc, uổng phí một đời.

Mục Lục
Tông Môn Cảnh Huấn 4
Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước
II. Pháp thoại tại một số thiền viện - tự viện - đạo tràng Phật tử nước ngoài
Phần III. Pháp thoại tại một số chùa - đạo tràng trong nước
Danh sách chương: