Thiền Tông Việt Nam
Câu Chuyện Đầu Đời
4. Ba Tiêu Đề

Từ xưa đến nay, không có ai gầy dựng nên một thành công hay thành quả nào có giá trị mà không phải đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt. Sự thành công phải lướt qua, phải giẫm đạp trên chông gai, phải đối mặt với rất nhiều sự gian khó thì thành công đó mới có giá trị. Những việc làm nào, những thành công nào mà dễ dàng quá thì không có giá trị, không có ý nghĩa gì. Chỉ có thành công nào phát xuất từ sự khó khăn thì cái đó mới chính đáng, mới có giá trị.

Cảm nhận như vậy cho nên tất cả chúng ta đều phải chuẩn bị cho cuộc đời của mình đi vào con đường đó. Con đường dài vô tận, không biết thời gian đi là bao lâu, chừng nào, xa xôi thế nào. Cứ đi, kiên quyết đi, đi tới chừng nào viên mãn mới thôi. Đó là con đường Phật đạo mà tất cả chúng ta đã đủ duyên được kết nạp và tình nguyện đi trên con đường đó. Chúng ta ý thức rằng dù làm bất cứ việc gì cũng phải làm đến nơi đến chốn, để không phải gánh, phải đeo những lời chỉ trích là “bán đồ nhi phế”, nghĩa là nửa đường bỏ cuộc. Nhất định chúng ta không phải là một bại tướng. Luôn luôn chúng ta tự nhắc, tự động viên như vậy thì nhất định chúng ta sẽ thành công.

Hòa thượng dạy không ai làm thế, cũng không thể chờ đợi, không thể ỷ lại vào đấng nào ban cho chúng ta những điều gì đó. Tất cả những thành quả, những thành tựu, công đức đều từ khối óc, con tim, từ nơi hai bàn tay của chúng ta làm nên. Chủ trương của đạo Phật hoàn toàn độc lập, dân chủ và tự do. Chúng ta có quyền quyết định việc làm của chúng ta, không chối chạy đi đâu, cũng không ỷ lại vào bất cứ nơi nào, người nào. Con đường lâu xa thành Phật đó, đức Phật là Phật đã thành, còn chúng ta là Phật sẽ thành. Mau hay chậm, muốn thành Phật hay không là do nơi chúng ta. Đó là quyết định của chúng ta, dành riêng cho chúng ta, không ai có thể tham gia gì trong đó được. Chúng ta biết rõ như vậy.

Theo thiển ý của tôi, xin được nêu lên ba tiêu đề mà từ lâu tôi đã áp dụng cho bản thân, cho cuộc đời tôi, đó là: Một, tìm cho ra. Hai, sống cho được. Ba, hòa quang với tất cả.

Tìm cho ra cái gì? Chúng ta thiếu cái gì? Sự thật là chúng ta không thiếu gì cả. Cơm ăn, áo mặc đương nhiên không thiếu. Tất cả vinh dự, tiền tài, bằng cấp, học vị chúng ta không cần. Chúng ta không cần sự có mặt của chúng ta trong một tổ chức đông đảo nào đó mà được giới thiệu là Hòa thượng Tiến sĩ, Hòa thượng Thạc sĩ, Hòa thượng Cử nhân gì gì đó. Chỉ cần là ông thầy, là người tu chân chính, là người đang hành đạo, là bậc hành giả chân chính ở trong đạo Phật, chừng đó là quá đủ rồi. Người ta kêu mình bằng ông thầy, bằng thầy chùa là quá hay, quá đúng. Còn tất cả những danh xưng khác có cũng được, không có cũng được. Những bằng cấp cao, chúng ta không có thời gian đi vào, còn cấp phổ thông thì tất cả chúng ta đều đã trải qua hết, không ai thiếu. Đó là nguyên tắc, là điều kiện căn bản mà chúng ta không thể nào thiếu được.

Chúng ta không có chút xíu tự ti hay mặc cảm nào về việc chúng ta là người Việt Nam mà đọc chữ Việt Nam không được, viết chữ Việt Nam không ra. Tôi tin rằng trong huynh đệ chúng ta đây chắc không có vị nào mà không biết đọc chữ Việt Nam, kể cả các vị lớn tuổi, các vị trưởng thượng từng sống qua những thời kỳ khó khăn của đất nước. Còn với Tăng Ni, chẳng những chúng ta đọc được, viết được mà chúng ta còn biết được vị của nó nữa. Chúng ta biết cái đúng, cái sai, cái hay, cái dở, cái đặc biệt, cái không đặc biệt và có thể gầy dựng nổi một câu một ý có giá trị bằng tiếng Việt Nam, vậy thì chúng ta đâu có thiếu gì. Chỉ có cái là chúng ta thiếu tu thôi.

Tôi đặt vấn đề là tìm cho ra, tức là chúng ta phải tu cho được. Mà muốn tu cho được thì chúng ta phải có đạo lý, có thời gian tu học, có những phương tiện thiết yếu để tu học. Ở đây, chúng ta có chùa, có viện, có thầy tổ, có pháp môn, có thiện hữu tri thức, có tất cả những tiện nghi để hành đạo. Chúng ta không thiếu gì hết.

Do vậy, cái tiêu đề thứ nhất tôi nêu lên là tìm cho ra thì huynh đệ ở đây tìm dễ, chứ không khó khăn gì hết. Tại sao tôi dám nói dễ? Vì cái đó có sẵn, trong túi chúng ta. Mỗi chúng ta đều có sẵn, không ai thiếu. Chỉ có điều là lâu quá không dùng nên quên mất. Ví như chúng ta có một vậy quý nhưng do sợ bị mất, sợ bị người ta cạy tủ lấy nên mình cất kỹ, cất kín, cất riết rồi đóng meo đóng mốc quên bẵng đi. Đồ của mình mà mình không xài, không ngó tới, đâm ra nó lạ rồi quên mất.

Hoặc có người rời xa quê hương, lưu lạc khắp chân trời góc bể, ngót nửa đời người mà chưa hề được nghe ai nhắc đến xứ sở nơi mình sanh ra. Dù có dịp trở về quê cũ nhưng chẳng nhớ, chẳng biết. Về đến nhà rồi mà người đó lại hỏi nhà này của ai, thấy khu vườn cũng hỏi vườn này của ai, hoặc gặp lại cha mẹ mà lại hỏi ông bà là ai, ở đâu. Mình là người như vậy đó, có sẵn, đầy đủ hết nhưng mà quên. Tuy bỏ quên nhưng khi biết nó là của mình, được sự chỉ giáo đó là của mình, nên bây giờ ráng tìm lại, đó là tìm cho ra.

Giai đoạn kế là sống cho được, tức là dùng cho được. Cái xe của mình, tiền bạc, nhà cửa của mình thì mình phải dùng được. Tất cả những vật dụng đã gọi là của mình, mình là chủ thì mình phải sử dụng được. Trừ khi cái của người ta mà mình tự ý nói là của mình, mình không phải là chủ thì mình mới không dùng được. Cái của mình, dù tạm thời quên nhưng khi được thầy bạn hoặc những người chung quanh chỉ cho biết đó là của mình thì mình sẽ nhận lại. Dù có hơi bỡ ngỡ nhưng đã nhận lại rồi thì mình sẽ dùng được thôi.

Như một tài xế giỏi nhưng lâu lắm rồi không lái xe, không cầm tới chìa khóa của bất cứ chiếc xe nào, luôn cả chiếc xe của mình cũng bỏ xó mất. Bây giờ, được người ta đưa cho một chiếc xe hết sức bình thường nhưng ngồi lên cũng thấy lạ, phải rà thắng, gạt thử amada này kia, coi tay lái có vững không, có bị sút ốc gì không. Rồi dần dần lái đi chừng một đoạn đường thì sẽ nhớ, sẽ quen hết, sẽ sử dụng thông thạo chớ không có gì khó khăn cả.

Cho nên, cái tiêu đề thứ nhất là tìm cho ra và cái tiêu đề tiếp theo là sống cho được. Khi chúng ta đã nhận ra rồi thì phải sống cho được với cái đó. Hai tiêu đề này gần nhau. Trừ khi mình không biết, mình tìm không ra thì mới không sống với nó được, chứ nếu mình đã biết, đã tìm ra rồi thì nhất định dù có khó khăn gì mình cũng sống được với nó. Thưa phải vậy không?

Tôi thấy có nhiều vị Tăng Ni Phật tử rất ham tu thiền nhưng ngồi thiền thì sợ đau chân. Lần đầu kéo hai chân đè lên nhau thì nó cấn, đau chịu không nổi. Nhưng quý vị phải ráng lên, ráng một chút thì sẽ quen. Bữa nay quen một chút, ngày mai quen một chút. Bữa nay ngồi được 10 phút, ngày mai tăng lên 11 phút, ngày kia lên 12 phút. Năm ngày, mười ngày rồi một tháng, hai tháng, cứ kiên trì như thế thì cơn đau sẽ bớt. Qua tháng thứ ba đỡ hơn chút, đến tháng thứ tư là hết đau, tháng thứ năm là thông thạo. Dù cho chân to hay gân cứng cỡ nào cũng ngồi thiền được một tiếng đồng hồ. Từ sáu tháng trở lên nếu thời khóa của mình liên tục, sáng một thời, hoặc bất cứ khoảng thời gian nào trong ngày, mình có thể sắp đặt ngồi thêm những giờ thiền ngoại lệ thì nhất định là sẽ quen. Khi ngồi xuống, hai chân tự kềm lại, ráp vô khớp, không đau nhức gì hết.

Hồi còn ở thiền viện Chơn Không, ban đầu tôi chỉ ngồi được có năm mười phút, đau muốn chết. Tôi nghĩ rằng kiểu này chắc không ngồi thiền được quá. Hòa thượng nói hoài, Hòa thượng đứng coi, rồi cầm thiền trượng đứng một bên. Tôi cũng sợ, cũng lo nhưng mà đau quá phải kéo chân ra. Thầy nói: “Để mấy ông thiền sư than đau kiểu này ngồi trong điện Phật, rủi Phật tử vô thấy người ta cười cho”. Cho nên, chúng tôi phải ra ngồi ngoài hiên chùa, ngó vô vách. Từ 10 phút rồi tăng lên 15, 16, 17 phút.

Trong vòng ba tháng hạ đầu tiên của năm thứ nhất, chúng tôi vào thiền đường ở thiền viện Chơn Không Vũng Tàu, bữa nào ráng thì có thể ngồi được một tiếng đồng hồ. Một tiếng đồng hồ vững vàng. Một tiếng đồng hồ đó được tính như thế này, không phải lâu lâu kéo chân lên được một tiếng, mà nói là ngồi được một tiếng. Ngồi thiền được một tiếng là buổi thiền sáng ngồi được một tiếng không bị đau, không ngủ gục. Thời thiền chiều ngồi hơn một tiếng, cũng không bị đau, không ngủ gục.

Thời thiền đầu đêm là giờ thiền có thể nói là nóng bức, mồ hôi ở đâu tuôn ra rần rần, nhưng rồi cũng ngồi được một tiếng, tuy có hơi chộn rộn một chút nhưng cũng ngồi được. Lý tưởng nhất là thời thiền khuya, giống như người chăn trâu mà tới lúc con trâu không còn muốn ăn cỏ, không còn muốn phá gì nữa nhưng không phải con trâu chết, mà con trâu này ngoan, nó thuần rồi, nó chán ngán hết mọi thứ rồi, cho nên giờ nó chỉ muốn yên ổn, nó nằm, nó nghỉ, ngắm trời, ngắm đất. Thời thiền thứ tư lúc cuối đêm, chúng tôi được thiền duyệt như vậy.

Chỉ ba tháng trong mùa An cư đầu tiên mà chúng tôi đã gặt hái được thành quả đó. Một vật báu mà mình bỏ quên quá lâu, lấm lem bụi bặm, giờ đem ra mà không biết nó là đồ của mình. Vậy đó chỉ có ba tháng mà đã quen dần, biết cách cầm dây, cầm roi dẫn con trâu đi trên bờ đê. Ngày nào đó, ta ngồi trên lưng trâu thổi sáo, con trâu đi về, hai bên bờ ruộng lúa chín mọng, gió thổi mát mẻ, mùi thơm của lúa của rạ, không có xa nữa. Đó là giai đoạn thứ hai mà tôi nói là sống cho được.

Chúng ta chỉ cố gắng thôi, cũng không biết bằng cách nào. Hòa thượng dạy mấy chú phải gắng lên, phải nỗ lực, phải quyết tâm, chết bỏ, chết không sợ mà sợ cái gì. Chết không sợ mà sợ đau thân thì vô lý. Do vậy, sau ba tháng mùa An cư đầu tiên, chúng tôi đã thuần, con trâu không còn nhìn ngó phương này phương khác. Ít khi nào chúng tôi nhìn người qua lại dưới núi. Chúng tôi chỉ sống trong khuôn viên, nhìn cây cối, gió thổi, chim kêu, huynh đệ pháp hữu sáng chiều vui vẻ, tiếng chuông tiếng mõ trong thiền viện bình yên vô cùng. Ngỡ rằng những cái đó mình không bao giờ thực hiện được, nhưng chỉ mới có ba tháng thôi đã thực hiện được.

Do đó, mùa An cư thứ hai chúng tôi rất an ổn, mùa An cư thứ ba thì khá hơn nữa. Thầy nói bây giờ tôi tin tưởng mấy chú, mấy chú có niềm vui, mấy chú đã gầy dựng được một niềm tin, cho mấy chú xuống núi đi chơi một thời gian. Nhưng mà ngộ lắm, con trâu của mình khi bị nhốt ở một chỗ như vậy nó yên, mà xuống núi thì nó quậy. Xuống núi rồi có những người không muốn trở về núi nữa. Cái này là cái gì? Cái này đòi hỏi chúng ta phải sống. Hòa mà không mất mình, sống với tất cả mà mình không hề bị lẫn lộn. Đây là giai đoạn thứ ba, hòa quang với tất cả. Những thành quả này chúng ta có thể gặt hái được trong chính đời tu hành của mình, chứ không có gì khó khăn cả.

Đó là những ý thô thiển của tôi từ lúc mang danh là một hành giả trong tông môn, tôi tạm dùng những danh từ, những dấu mốc để chia việc tu tập của bản thân ra từng giai đoạn. Thứ nhất là tìm cho ra, thứ hai là sống cho được, thứ ba là hòa với tất cả mà không mất mình. Tôi cố gắng tập như vậy. Bởi vì tôi là một con người trí tuệ thì ít mà nghiệp chướng thì quá sâu dày. Tuy nhiên nhờ có thầy tổ, có bạn hữu và có sự hộ trì của Tam bảo mà tôi gầy dựng được chủng Bát-nhã và vững niềm tin đối với chánh pháp.

Do vậy, bao nhiêu năm qua, từ khi xuống núi về sống tại khu vực này, trong thiền viện này, dù có những khó khăn sóng gió nhưng cho tới ngày hôm nay chúng tôi thấy rằng mình vẫn còn có phúc duyên, vẫn còn giữ vững và phát huy được chủng Bát-nhã. Thừa tư công đức của Tam bảo cùng với phúc trí của Hòa thượng, sự hỗ trợ của chư pháp hữu mười phương, chư thiện hữu tri thức mà những việc làm cũng như đời sống tu tập của cá nhân tôi lúc nào cũng bình thường, có thể nói là an lạc.

Tôi nói an lạc trong một nỗi niềm hết sức khiêm tốn, bởi vì từ an lạc này tuy nói thì dễ nhưng để gặt hái được an lạc thật sự thì rất cay đắng. Nhìn lại những vị đi sau, có những vị củng cố gầy dựng tinh thần tìm cho ra, sống cho được và hòa quang với tất cả, nhưng rồi một chút xíu an lạc mà có khi bị đánh đổi bằng một cái giá quá đắt nên rồi phải bỏ cuộc. Trên đây là những điều tai nghe mắt thấy, những gặt hái thô thiển của cá nhân tôi trên bước đường tu tập.

Ngày hôm nay, thay mặt cho chư vị lãnh đạo trong thiền viện, tôi xin nêu lên với chu huynh đệ những điều từ tận đáy lòng của tôi, là những vấn đề thiết yếu cho tất cả những người anh em đến sau. Mong tất cả lấy đó làm bài học để vươn lên, bổ sung cho những gì chưa hoàn chỉnh trên bước đường hành giả của mình.

Tất cả chúng ta đều biết trách nhiệm mà Hòa thượng giao lại ở đây không phải nhỏ, cũng không phải một trách nhiệm bình thường. Do vậy tất cả chúng ta đều phải cố gắng gìn giữ ngôi nhà này, phải gìn giữ di sản này của Hòa thượng. Trước hết là để thực hiện tâm nguyện tu hành của chúng ta đến viên mãn, sau đó là để làm tiêu bản cho người sau, những người đang hướng về, đang muốn cùng đi trên con đường đó như chúng ta. Các vị có nơi hướng về để thực hiện trọn vẹn hạnh nguyện tu hành của họ. Đó là trách nhiệm chung, chúng ta phải biết và phải làm tròn như vậy.

 

Khánh Tuế 27/07 Ất Dậu

2005.

Mục Lục