Thiền Tông Việt Nam
Câu Chuyện Đầu Đời
17. Phúc Duyên Lạ Thường

Hôm nay là ngày chuẩn bị cho lần sinh nhật thứ 71 của tôi. Bây giờ ngồi đây, nhớ lại đoạn đường mình sống kéo lê kéo lết suốt một thời gian trên 70 năm qua, ngẫm cho kỹ thì phát ngán, không lý thú gì mà tổ chức sinh nhật. 

Bảy mươi tuổi, ở đời người ta nói là tuổi cổ lai hy, nghĩa là xưa nay hiếm. Ngày xưa, khi Hòa thượng đến tuổi này, ngài cũng nói bây giờ Thầy đã bước qua giai đoạn xưa nay hy hữu rồi. Tôi cũng không ngờ rằng lẽo đẽo rồi tôi cũng tới cái ngày này nữa. Mọi người cứ nói là hy hữu, nhưng mà hy hữu cái gì? 

Nghiệm lại kỹ, cuộc đời mình có bao nhiêu giai đoạn thăng trầm, tuổi bé thơ gặp hồi đất nước loạn ly giặc giã. Nhưng nhờ duyên lành nhiều đời, khiến tông tộc có lời khấn nếu sinh được con trai, thì đến năm 7 tuổi sẽ gửi vào chùa, giao cho Phật. Lời nguyện này rất linh ứng. Do vậy, tôi vừa mới ba bốn tuổi thôi thì ông cụ thân sinh đã bỏ đi, chỉ còn lại mẹ với một đứa em côi cút. Chiến tranh tàn phá, gia đình chẳng còn gì, quê hương thì tan nát.

Tôi được duyên lành ở chùa, được thiện hữu tri thức khắp nơi nuôi dưỡng. Cho nên suốt một dọc dài với bao nhiêu gian khó mà bà con ruột thịt của mình phải gánh chịu, tôi cũng bị ảnh hưởng một phần, nhưng rồi cũng được yên ổn trót lọt để tu hành cho tới ngày hôm nay. Không biết do phúc duyên gì mà tôi còn sống, còn giữ được màu áo tu hành giải thoát này. Chắc trong nhiều đời kiếp cũng có tu, có gieo chủng Phật cho nên hôm nay mới được như vậy.

Nhưng tôi lại nghĩ thế này, tuy nhiều đời có tu hành nhưng cái tu đó chắc không thông lắm, cho nên tôi mới sinh ra trong hoàn cảnh đất nước điêu linh, gặp phải những mất mát lớn lao, đau khổ dài dài. Cho tới những năm lớn lên, có được chút duyên gặp thầy tổ dạy dỗ và giao phó cho một vài công việc, nhưng mình cũng không phải người nhiều tài nhiều đức, để làm tròn sứ mệnh phát huy chủng Phật, bảo trì dòng giống giác ngộ giải thoát này, nên nghĩ đến mà tủi thân. Tất cả chúng ta đều kết chủng Phật, có duyên lành cùng được thờ Phật, thờ một bậc thầy, đó là Hòa thượng Tôn sư. Nương nơi pháp của Hòa thượng mà tu hành. Từ phúc duyên giáo hóa của Hòa thượng, thầy trò chúng ta được ở chung một đạo tràng, đó là hạnh phúc lớn, chứ còn những thứ đã trải qua trong cuộc đời, nghĩ đến mà ngán, có gì vui đâu. Chỉ được niềm vui là thầy trò đông đảo, kết chủng Phật với nhau, nương nơi pháp hóa của thầy tổ cùng tu hành, được ở chung trong một đạo tràng mấy mươi năm trường.

Từ thời Hòa thượng mới gầy dựng, đến khi ngài về trực tiếp điều hành, giảng dạy, hướng dẫn, cho tới quãng thời gian sau này Hòa thượng lớn tuổi về núi, giao lại cho huynh đệ chúng ta ở đây cùng nương nhau tu hành. Thật là một phúc duyên lạ thường. Với số người trong đạo, với duyên lành như vậy, lây lất rồi huynh đệ chúng ta cũng tiếp tục tu hành được.

Nhưng rất tiếc là trong đạo tràng chúng ta chưa có những Tăng Ni, những đệ tử của đức Thế Tôn, những con cháu của Hòa thượng Trúc Lâm trong dòng thiền Yên Tử này, dám cả quyết rằng mình đã giải quyết hoàn toàn vấn đề sanh tử, đã sáng đạo, đã tự tại. Mong mỏi của thầy tổ chỉ có chừng đó thôi, là làm sao giải quyết được vấn đề sanh tử của chính mình. Chúng ta phải sáng được vấn đề sanh tử, tức là sáng đạo và làm chủ lấy mình. 

Chư huynh đệ thấy những vấn đề này đâu có gì khó, phải không? Chúng ta là hành giả với một quá trình trải nghiệm lâu đài suốt mấy mươi năm trời, mà Hòa thượng chỉ dạy rằng cố gắng làm chủ lấy thôi. Hòa thượng không hề trao cho mình một gánh nặng năm ba trăm ký hay vài ba ngàn cân gì cả. Chẳng có gì hết. Nếu có một cái gánh gì đó thì là gánh Không, tức là buông tất cả, vào được cửa Không. Buông tất cả, tự tại giải thoát. Chỉ một lời “làm chủ lấy”, một lời này thôi mà chúng ta làm chưa tròn.

Chúng ta có phúc duyên, được hưởng phúc duyên, cũng có đầu tư để bảo vệ phúc duyên của mình, nguyện đời đời nhất định thế nào rồi cũng thành Phật, nhưng đáng tiếc là bây giờ thầy trò chúng ta còn cà lê cà lết quá. Mình nói điều này không sợ Phật tử cười đâu, bởi vì mình biết Phật tử thương mình, họ lo cơm lo gạo cho mình tu mà. Mình tu được như thế nào, tu tới đâu, lòng mình ra sao thì mình nói ra cho họ nghe, chia sẻ với họ, rồi khuyên họ cùng mình đồng tu vậy. 

Bây giờ, kiểm lại cho kỹ trong lòng chúng ta có thật sự an ổn chưa? Nếu có thì chỉ từng đoạn, từng khúc, giống như ba mớ mây trôi trên trời, lúc dày lúc mỏng lúc có lúc không vậy thôi. Với tâm trạng đó thì đảm bảo chưa giải quyết được vấn đề sanh tử, chưa nói chuyện với Diêm vương nổi. Các vị thiền tổ dạy rằng mấy ông này không có ông nào nhận hối lộ. Những vật như áo mão, đai ngọc, mũ vàng gì đó, mấy ông này không ngán không sợ đâu. Riêng thầy tu chúng ta mấy ông cũng không sợ, không vị nể gì hết. Bởi thấy rõ như vậy nên Hòa thượng luôn nhắc nhở chúng ta phải cố gắng tu, cố gắng buông bỏ, cố gắng soi rọi để nhận ra lẽ thực của các vấn đề trước mắt, đừng ngủ mê nói mớ nữa. Đó là những tư lương cần thiết để chúng ta đối đầu với Diêm vương trong đêm 30 tăm tối, không ngán, không sợ.

Ai rồi cũng phải đến lúc đó cả. Chúng ta biết rõ như vậy thì phải ráng tu. Tu để không phụ tấm lòng, không phụ ơn giáo hóa như trời bể của Hòa thượng. Không có Hòa thượng thì chúng ta không có ngày hôm nay. Bây giờ Hòa thượng già rồi, ngài thị hiện một bài pháp để chúng ta ngán sanh tử, ngán cái lộ trình mà mình đã đi qua, để không còn mê mờ gì đối với tất cả những sự kiện xung quanh, thấy rõ thực chất của vấn đề mà quyết tâm tu hành. Hòa thượng mong mỏi chúng ta là những hành giả nói được làm được, làm gì thì làm phải nhớ tu, sanh tử là việc của mình, tự mình giải quyết, không ai giải quyết cho mình được.

Ngày xưa, Hòa thượng còn nói một điều hết sức lý thú. Giả sử bây giờ ngài có bay lên được, thì cũng không thể nào thòng một chân hay một cánh tay xuống cho mình nắm để kéo lên. Hòa thượng không làm được như vậy. Từ chỗ này, ngài nhắc lại điềm chiêm bao của Tôn giả A-nan khi đức Thế Tôn còn tại thế. Các vị có nhớ điềm chiêm bao đó như thế nào không?

Ngài A-nan nằm chiêm bao thấy mình đi đến một chỗ thị tứ đông đảo, ở đó có một cái cầu rất cao. Dưới chân cầu đầy sình lầy, đủ các thành phần đang chen chúc nhau dưới đó. Nhưng có một điều lạ là rất nhiều người tu, không biết vì sao lại lụi hụi trong chỗ sình lầy ấy. Phía trên cầu có nhiều người thong thả qua lại, mặc quần áo đẹp, cầm hoa, cầm hương cúng dường vui vẻ. Ngài A-nan thấy lạ quá, tại sao người tu hành lại ở chỗ đó, còn hàng cư sĩ thì nhởn nhơ qua lại trên cầu? Hòa thượng nói những người đang đi trên cầu toàn là bậc thượng nhơn, họ là hàng cư sĩ Phật tử.

Nói ra để quý vị hiểu, không phải cư sĩ mà hơn mình được. Làm sao mình đi dưới cầu, họ đi trên cầu được. Mình tu hành quá trời, đâu có tệ như vậy, phải không? Đó đều là các vị đại Bồ-tát thị hiện. Như Bồ-tát Đại trí Văn-thù, Bồ-tát Đại hạnh Phổ Hiền, Bồ-tát Đại bi Quán Thế Âm, Bồ-tát Đại từ Di Lặc Tôn... vị nào cũng có những pháp y, có lối ăn mặc sang trọng lạ thường lắm. Thậm chí như Bồ-tát Quán Thế Âm, có khi ngài vận dụng những trang sức bên ngoài y như tiên vậy. Cho nên, mới nhìn tưởng là cư sĩ nhưng thật sự là Bồ-tát mới đi trên đó.

Chỗ này, ngày xưa có người kể lại điềm chiêm bao, nói rằng do chư Tăng tu không tốt nên rớt xuống đó, còn Phật tử làm phước nhiều nên đi trên cầu. Tôi nói không phải, các vị Bồ-tát thị hiện đó, chưa chắc Phật tử mà đi trên cầu được. Điều này quý Phật tử cũng không phiền hà gì. Bởi vì rõ ràng những người xuất gia như chư Tăng có khi tu còn hè hụi, quý vị ở ngoài đời trăm việc ngàn mối, tiếp cận đủ thứ thì đâu dễ gì mà an định, mà phát huy trí tuệ hay làm chủ hoàn toàn. Đâu phải dễ. Các bậc thượng nhơn, chư đại Bồ-tát thị hiện đi trên cầu để dẫn dắt chúng ta. Dẫn dắt như thế nào? Các ngài nói: “Quý vị ơi, đi dưới đó cực lắm, lên đây nè. Đi trên cầu thoải mái, thích lắm, đi như tiên vậy đó”. Qua điềm chiêm bao ấy, thầy trò chúng ta ai nấy đều phải cố gắng tu, tu chừng nào thành Phật mới ưng.

Cuộc đời tôi gian nan, việc thầy tổ gian nan, việc tu cũng gian nan, việc học hành lại càng gian nan. Khi nhận trách nhiệm giáo dục trong tỉnh này, mở ra trường Phật học rồi, có khi phải động viên Tăng Ni trẻ đi học, gần như là mình năn nỉ vậy. Như mấy năm trường Đồng Nai mở khóa I tại Đại Tòng Lâm, thật sự mà nói mấy ngày Tết gần 11, 12 giờ đêm mà ban giám hiệu còn phải ở lại văn phòng để xử lý công việc. Xử lý việc gì? Tại con cháu, đệ tử của mình ham vui quá. Sáng mai ra quét lá trước cổng, thấy xe Phật tử đi hành hương, họ dừng lại ngoắc tay hỏi “Đi chơi không?” là bỏ chổi leo lên xe, đi luôn cho tới chiều tối mới về. Bỏ học, bỏ việc, bỏ hết để chạy theo cái vui, buông không được. Đó là những nhân duyên để rồi mình trợt, mình rớt dưới cầu. Do vậy mà lụi hụi, chứ mình đâu có thua gì ai. Đến một lúc nào đó chúng ta cũng phải bò lên, chứ ở chi dưới bùn cho cực.

Gần cuối đời, Hòa thượng về Đà Lạt nghỉ ngơi nhưng mỗi tháng Thầy vẫn về đây dạy dỗ Tăng Ni, thăm viếng rồi nhắc nhở quý Phật tử tu hành. Có lần sắp về Trúc Lâm, Thầy nói bây giờ mệt quá, phải ngồi xe sáu bảy tiếng đồng hồ, nhọc nhằn lắm. Hòa thượng nằm võng nhưng không nhấc hai chân lên được, quý thầy phải đỡ lên. Qua mấy hôm sau thì Thầy bệnh. Đó là những hình ảnh của bài pháp vô thường, tới giai đoạn phải như vậy. Hòa thượng nói gì trong lúc này? Các chú phải biết thương mình mà ráng tu, phải biết sợ, đừng để bị trợt xuống chỗ bùn lầy kia, phải chuẩn bị để nói chuyện với vua Diêm La trong cái đêm 30 tăm tối. Hòa thượng từ bi vô lượng vô biên, nói theo nhà thiền là tâm lão bà, rụng hết chân mày, thương mình mà nhắc nhở. 

Phải nói Hòa thượng thương chúng ta lắm. Bây giờ, Thầy không nói nhiều nhưng qua ánh mắt cử chỉ của Thầy, tôi cảm nhận được điều đó. Như chiều hôm nay, thấy Phật tử tới thăm viếng rần rần, huynh đệ đông đảo, nghe có tiếng rộn rịp, chiều tối rồi mà Hòa thượng còn lên xe bảo thị giả lái đi một vòng để nhìn qua, coi trong đạo tràng có việc gì mà hôm nay đông đảo, vui vẻ như vậy. Hòa thượng thấy đông đảo thì cũng vui, nhưng ngài lo rằng trong cảnh đông đảo đó, con cháu của mình có còn giữ được cái mạng không, hay bị những thứ rộn rịp, lăng xăng bên ngoài kéo đi vào trong giấc mơ, để rồi ngủ mê nói mớ như mọi người.

Cho nên, quý vị đừng nghĩ Hòa thượng bệnh là không quan tâm đến mình nữa. Hòa thượng ít nói nhưng từng ánh mắt, từng cử chỉ của ngài đều biểu hiện tấm lòng của một bậc thầy lo lắng cho các đệ tử, cho hậu duệ của mình, cho tông môn, cho sự nghiệp khôi phục Thiền tông Phật giáo Việt Nam. Hòa thượng không biết bây giờ chúng nó làm gì, làm được hay không? Nói tóm lại, chúng ta tu được thì làm được. Chúng ta tu tốt thì sẽ giải quyết được vấn đề sanh tử, không còn lầm mê. Không phải đợi đến lúc chứng Niết-bàn mới giải quyết, mà ngay bây giờ trong cuộc sống, trong ăn mặc, ngủ nghỉ, đi lại, tiếp xúc, nói chuyện, làm việc... lúc nào cũng làm chủ được. Đó là chúng ta giải quyết được vấn đề sanh tử.

Có người tu bên Tịnh độ đến hỏi Hòa thượng như vầy: “Người tu niệm Phật, khi nhất tâm bất loạn được đức Phật và chư thánh chúng ở Liên trì Hải hội đón về thế giới Cực Lạc, còn Thầy tu thiền được đón về đâu, ai đón Thầy?”. Thưa quý vị, ai đón mình đây? Mình là người làm chủ tất cả, con đường mình đi là do mình chọn lấy, tự tại mà đi. Muốn đi trên con đường tự tại đó thì phải biết thương mình, ráng tu. Giản dị như vậy. 

Bây giờ Hòa thượng bệnh, mẹ tôi cũng bệnh, bản thân tôi cũng bệnh. Đó là những điềm báo suy sụp. Cho nên, tôi rất trông mong toàn thể chư huynh đệ nghe tôi nói, nhớ thâm ơn của Tam bảo, của thầy tổ, quý vị ráng tu. Tôi biết một số vị có nhân duyên đã ra lãnh đạo, làm các Phật sự, cũng có vị đang chịu trách nhiệm xây dựng tổ chức mặt này mặt khác. Có thể nói đệ tử của tôi rất đông, cũng có nhiều người rất giỏi, giảng diễn rất hay. Nhiều người giảng diễn hay hơn tôi. Nhưng quý vị nên nhớ lời Hòa thượng dặn, phải biết thương mình ráng tu. Nhất định phải làm cho được, không hẹn, không nhờ vả ai, không đợi chờ gì khác. 

Tôi biết Phật sự của các vị ngày càng nhiều, bản thân tôi cũng vậy, nhưng chúng ta đừng có hẹn rằng mai mốt làm xong việc gì đó rồi sẽ tu, e rằng không xong đâu. Hòa thượng nói bây giờ có sống thêm vài mươi năm nữa cũng không giải quyết được ba cái chuyện gọi là Phật sự, ăn mặc, ngủ nghỉ, tiếp xúc, làm việc. Khách khứa đến, mình không cưỡng cầu, mình tùy duyên nhưng không bị những thứ đó kéo lôi mới gọi là bất biến. Trong cái rộn rịp mình có sự tu tập của riêng mình thì mới bảo vệ, mới phát huy được trí tuệ, viên mãn được đạo hạnh, công đức. Cộng thêm nhân duyên từ công đức tu hành, chúng ta làm gì cũng được, tính việc gì cũng tương đối không sai. Những bậc chân tu có công đức, tính việc ít sai lắm. Bởi vì những vị ấy tu có vô sư trí, có tâm tuệ nên khi tính cái gì, nói cái gì, quyết cái gì thì đều đúng cả. 

Hòa thượng thị hiện có chút thân bệnh, tôi cũng bệnh nữa. Giả tỷ hồi xưa có vị nào nói: “Thầy tu giỏi quá, mai mốt lên Niết-bàn rồi, Thầy thòng cái chân xuống để con nắm, Thầy kéo con lên”, thì bây giờ hãy bỏ ý nghĩ đó đi. Không bao giờ có chuyện ai thòng dây hay thòng chân xuống đâu. Muốn lên được thì phải tu. Nhưng Niết-bàn ở đâu? Hòa thượng dạy ngay đây không dính mắc gì hết là Niết-bàn. Dễ như vậy. Hoặc hỏi giải quyết vấn đề sanh tử như thế nào? Làm chủ được các vọng tưởng là giải quyết được vấn đề sanh tử. Như vậy mới gọi là trực chỉ, phải không? Hằng ngày chúng ta tụng Bát-nhã, rồi đi trồng cây, tưới kiếng, cuốc đất, nấu cơm, rửa chén v.v.. như tất cả mọi người, có khác gì đâu. Nhưng thưa quý vị, có khác đó. Nếu làm chủ được các dấy niệm thì chúng ta cắt đứt được dòng sanh tử luân hồi, ngay đây tức thì. Quý vị nhớ như vậy. 

Tôi có nhiều điều muốn nói, nhưng những điều này nếu nói hoài chắc quý vị ngủ gục hết, cho nên tôi không ban đạo từ nữa. Kỳ này, kiểm lại hàng đệ tử của tôi cũng đã trên một ngàn vị. Đông đảo lắm. Trong đây chưa đủ đâu, nhiều vị đi âm phủ rồi. Hôm nay, tôi chọn ra mấy vị trình bày về công phu tu hành, về tâm nguyện và Phật sự của các vị. Danh sách gồm có Thích Đạt Ma Phổ Hóa, Thích Đạt Ma Đạo Tâm, Thích Đạt Ma Viên Diệu, Thích Đạt Ma Chí Nhân, Thích Đạt Ma Chí Kiên, Thích Đạt Ma Khả Lực, Thích Đạt Ma Quang Tuệ, Thích Đạt Ma Đức Long, tất cả tám vị. 

Có người thắc mắc về hai chữ Đạt Ma, không biết ông thầy sảng sốt như thế nào, cái tên của mình đã Thích này Thích kia rồi mà còn thêm vào hai chữ Đạt Ma, thiệt là dài dòng quá. Ba cái thủ tục đưa lên Văn phòng 2, quý thầy trên đó biết là đệ tử của tôi nên họ hoan hỷ, chứ anh em cũng cằn nhằn lắm. Quý vị biết tổ Bồ Đề Đạt Ma rồi, là ông tổ của mình đó. Nhưng điểm xuất sắc của ngài là gì? Ngay từ khi còn là một hoàng tử nhỏ, trong số những anh em, được thầy là tổ Bát Nhã Đa La hỏi về ngọc quý, các anh của ngài đều nói ngọc này ngọc kia quý, người nói ngọc long, người nói ngọc kim ngọc kiếc gì đó, đủ thứ hết. Chỉ riêng ngài nói ngọc tâm là quý. Tổ Bát Nhã Đa La nghe vậy, mới thọ ký ngài sẽ là người gánh vác sự nghiệp về sau. Rõ ràng sau khi xuất gia, ngài mang theo chí cả truyền ngọc tâm từ Ấn Độ sang Trung thổ, được tôn xưng là Sơ tổ của Phật giáo Thiền tông.

Khi ngài mới đến Trung Quốc, vua chúa đón tiếp rất hậu. Đương thời, Lương Võ Đế là một ông vua mộ Phật, cất chùa, đúc tượng, đúc đại hồng chung, làm rất nhiều các thiện sự lớn lao. Vua hỏi: “Trẫm làm các việc đó có công đức không?”. Ngài nói: “Không có công đức”. Một bài pháp thể hiện hoàn toàn ngọc tâm của mình. Vua Lương Võ Đế chưa nhận ra, cho nên ngài vượt sông lên phía bắc đến chùa Thiếu Lâm ngồi xoay mặt vào vách 9 năm, đợi một hành giả đứng trong tuyết chặt tay dâng lên cúng dường. Tôi rất hứng thú qua đoạn sử này, nên muốn các đệ tử của tôi là những người nhận được ngọc tâm của mình. Dù ở đâu, được sùng phụng thế nào, hoặc là không ai sùng phụng gì hết cũng sống đầy đủ, bày tỏ viên ngọc tâm của mình. Vì vậy, tôi thêm cho mỗi vị hai chữ Đạt Ma.

Ngày sinh nhật hôm nay, tôi thấy đầy đủ lắm rồi. Qua lời bộc bạch, trình bày của các vị, tôi rất vui khi biết rằng chư huynh đệ ai nấy đều khỏe mạnh, tinh tấn tu học và luôn nhớ ơn Hòa thượng Tôn sư, nhớ về cội nguồn Tổ đình thiền viện Thường Chiếu. Dù ở đâu, bận việc nhiều ít, quý vị cũng tự ý thức, nỗ lực tu học, xứng đáng là một người đệ tử xuất gia của Phật, là con cháu trong tông môn của Hòa thượng Trúc Lâm.

Nguyện đem tất cả công đức lớn lao này hướng về Hòa thượng Trúc Lâm, mong ngài thân bệnh chóng lành, sống lâu ở đời với chúng ta và làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. 

 

Khánh Tuế 27/07 Quý Tỵ

2013.

Mục Lục