Thiền Tông Việt Nam
Câu Chuyện Đầu Đời
20. Mẹ Tôi

Hôm nay, ngày 27. tháng 7, qua lời trình bạch của quý vị, tôi thấy nói nhiều về tấm lòng của tôi đối với bà Năm. Bây giờ, cụ đã theo Phật rồi. Từ ân pháp hóa của Hòa thượng Vạn Đức và Hòa thượng Tôn sư ở đây, cuối đời từ năm sáu 61 tuổi, bà cụ được xuất gia, thọ giới cao quý của Phật và được Hòa thượng Trúc Lâm thương tưởng cho một ngôi thất nhỏ. Bà cụ ở cùng với một người cháu, nương náu với chư Tăng, với đạo tràng, thừa tư công đức nơi Hòa thượng mà tu học. Năm rồi bà đã theo Phật, 95 tuổi đời. 

Thưa quý vị, tôi rất hãnh diện có một người mẹ đã kết được chủng Phật sâu dày như vậy. Tôi học đạo, tinh tấn tu hành, một lòng vâng lời chỉ giáo từ quý Hòa thượng, nhất là Hòa thượng Tôn sư ở đây, tất cả những quyết tâm, thành tựu đó đều từ mẹ tôi. Nhờ có mẹ mà tôi cố gắng hết sức. Tôi nghĩ nhờ kết được chủng Phật nhiều đời, nên dù lăn lóc trong hoàn cảnh nào mình cũng còn có Phật, có thầy, có pháp, nhất là có đủ duyên, đủ sự tinh tấn tu học. Ở bên thầy tổ, tôi thấy rất yên lòng.

Từ những thập niên 70 theo Thầy vào núi, khi đó tôi cũng đang làm chút chút những công việc nhỏ, nhưng nghe lời Thầy tôi ở yên trong núi. Quãng thời gian này, tôi là người trọn vẹn ba năm không xuống núi như lời chỉ dạy của Thầy. Cho nên tôi rất vui, thấy việc tu hành của mình cũng bình thường, bình thường đến mức độ không có cái bình thường nào để nói nữa. Sau năm 75, tôi vâng lời Thầy về Thường Chiếu. Thầy dặn ở đây cạp đất mà sống, theo Thầy tu thiền. Tôi vâng lời, vui vẻ sống. Những năm này, cái thân đau bệnh nhưng được hạnh phúc là có mẹ một bên, cho nên bệnh hoạn cũng cứ tu tập, cứ làm việc, vui vẻ hòa hợp với đại chúng trên mảnh đất quê hương Thường Chiếu này. Từ những ngày tháng đầu đầy cỏ gai, nắng cháy, bây giờ nhìn lại quãng thời gian đó, tôi rất cảm kích. 

Nhớ đêm tôi về thăm mẹ trên quê, lúc này mẹ đã dời ra gần ngoài chợ, ở nhờ nhà của một người dì. Mấy người dì hoàn cảnh cũng như mẹ tôi, có thể nói hầu hết những người trong xóm khi đó, đều có hoàn cảnh na ná như nhau. Nhưng các vị không bỏ quê hương, không bỏ mảnh đất nơi gia đình đã sống, khổ là như vậy. Chiều hôm đó, anh em bà con còn sống sót sau lệnh ngưng chiến để ăn tết đều tập trung về một chỗ. Mọi người quây quần, sum họp. Nhưng khoảng tầm hơn 3 giờ chiều, tự dưng họ rút đi đâu hết. Mẹ tôi rất lo lắng. Chập tối, sau một vài loạt súng nổ, bỗng dưng dàn pháo nằm tại khu vực điện lực huyện Trảng Bàng gầm lên nức trời, bùng lửa. Trên không chụp xuống, dưới đất tung lên, rồi nhà sập, nhà cháy, tiếng thú la, tiếng người gào khóc hòa lẫn kinh khủng. Trong đêm đen, mọi người đều chui xuống hầm. Cái hầm này được đào ở trong nhà, sâu xuống đất, phía trên chất đầy bao cát với mấy bộ phản. Ban ngày bình thường thì ngồi ở trên, khi hữu sự lại chui xuống dưới đó. 

Trong bếp, nồi bánh tét vẫn còn chưa chín. Hồi chiều, nghe tin tôi về, mẹ mừng quá nên gói hai ba đòn bánh tét. Mẹ nói truyền thống ở gia đình mình tết năm nào cũng ăn bánh tét, bánh ú, bánh ít, các thứ bánh này kia. Hồi này, tôi có bệnh là cứ qua mùa đông người tôi hay nổi mấy cái mẩn đỏ, rồi ngứa. Cho nên, mẹ làm bánh tét, nấu nước rất kỹ, đợi bánh chín rồi lấy ra cúng, còn nước đó thì pha cho tôi tắm. Từ nhỏ, tôi được sống trong vòng tay của mẹ, của quê hương như vậy, hương vị đó đặc biệt làm sao. Năm ấy, mẹ không gói được nhiều bánh, chỉ có mấy đòn bánh tét mà nấu cũng chưa chín nữa. Mẹ phải chui xuống hầm, mấy đứa em của tôi cũng ở dưới đó, không đứa nào dám hả miệng, nếu có hả miệng thì chỉ kêu la, khóc lóc, gào thét.

Đối diện với hầm có một cái giường tre, tôi ngồi trên đó. Mẹ xuống hầm rồi, thấy tôi cứ ngồi, bà trồi lên nói:

- Xuống hầm con ơi, chết đó. 

Tôi không nói gì hết, cứ ngồi bình thường. Bà lại ló đầu lên, la lớn:

- Mau xuống hầm đi con, không sợ chết sao?

Tôi cũng bình thường. Bom đạn chụp xuống từng đợt, từng đợt. Ai từng ở trong cái cảnh đó thì biết. Nhà lợp tranh, nếu nó chụp vô một cái thì không còn mảnh nào, cháy rụi thành tro. Tôi cũng chẳng biết làm gì, chỉ nghĩ gan lì rằng chui xuống hầm đó thêm chật chội cho mẹ, cho các em. Nếu có chết thì ngồi đây chết cho thong thả, có Phật, có mẹ, sợ gì. Nghĩ vậy, nên tôi bình thường. Dàn pháo chụp qua rồi, những người còn họ kêu, họ hú, họ biết rằng mọi thứ đã qua đi.

Trong đêm, mẹ tôi nói: 

- Đi con ơi, bây giờ phải đi. 

Tôi vui vẻ, mẹ kêu đi thì đi. Tôi tin rằng có Phật pháp, trong đời hiện tại tôi cũng chưa tạo nhân gì bất hảo quá lắm, do vậy nên tôi im lặng. Giả tỷ như nhân trước thế nào đó mà tôi phải chấp nhận một cái chết thê thảm thì tôi vẫn vui. Đó là đền nợ mà, phải không? Phật dạy là con Phật đầy đủ trí tuệ, hùng lực, kiên quyết, đảm bảo không gây những nhân bất hảo ngay bây giờ, nhưng nếu đã có nhân trước thì phải vui vẻ yên lòng nhận lấy hậu quả. Trong lòng tôi đầy đủ như vậy nên khi này tôi rất bình yên. Hôm nay, kể lại cho chư huynh đệ nghe, sự duyên là như vậy đó. 

Tổ Quy Sơn nói: “Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miễn hình lụy”. Đọc câu này, tôi cảm khái lắm. Thân này do nghiệp dẫn tới, mà đã có thân thì không sao tránh khỏi những hình lụy, tức là những khổ đau, điêu đứng do thân này gây ra. Đó là nói về những cái nhân trước mình đã tạo, chứ còn ngay hiện tại đây mình cứ nhắm mắt gây bừa thêm những nhân bất hảo nữa thì vô vàn hình lụy. Tổ còn nói: “Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cộng thành”, thân này do sự vay mượn từ cha mẹ mà có ra. Đó là đồ vay mượn, đúng như lời Hòa thượng Trúc Lâm thường dạy cho huynh đệ chúng ta suốt mấy thập niên rồi. Đồ vay mượn thì không phải là thật, chỉ người mê cho nó là thật rồi bị dẫn đi tạo nghiệp mê đảo. Hòa thượng nói nó là vọng tưởng, mình phải làm chủ, đừng để nó dẫn. Phải nhớ mượn cái thân này để tu hành, để làm chủ, đó là đề án mà quý vị có thể áp dụng ngay trong đời này. 

Tổ dạy tiếp: “Tuy nãi tứ đại phò trì, thường tương vi bội”, tức là thân này do đất, nước, gió, lửa tạo nên, nhưng bốn thứ đó thường chống trái với nhau, chẳng khác bốn con rắn độc nhốt chung một cái lồng, chúng nó cắn nhau chí chóe không thôi. Hòa thượng cũng dạy chúng ta như thế. Nóng quá bệnh, lạnh quá cũng bệnh, đói khổ đã đành, mà ăn nhiều cũng khổ nữa. Nó là như vậy. Không phải mình có sức ăn rồi bao nhiêu thức ăn mình dồn hết vào bụng đâu, ăn cái kiểu đó có ngày bị chết vì thương thực. Phải có trí tuệ, phải làm chủ được nó. Tuy rằng thân này là do vay mượn, nhưng mình phải biết dùng nó, biết tập trung để lo tu.

Tổ lại nói: “Vô thường sát quỷ, niệm niệm bất đình”. Vô thường sát quỷ chỉ cho sự đổi thay nhanh chóng. Vô thường là quỷ dữ luôn rình rập và lấy mạng mình bất cứ lúc nào. Như chúng ta đang sống đây, gặp một cơn gió độc là bỏ mạng liền hoặc một chút nọc của những con trùng độc cũng có thể khiến mình mất mạng. Nói tóm lại là bất an, bất ổn. Cái thân này giả hợp tạm bợ như vậy đó, phải biết mà lo tu. Hòa thượng thường nói các chú đừng quý trọng thân để rồi bị nó dẫn đi, tạo thêm nghiệp khác, không giải thoát nổi. Phải làm chủ, dùng nó làm phương tiện để tăng tiến tu hành. Ý tư trong câu nói này không khác với lời tổ Quy Sơn đã dạy.

Rõ ràng xung quanh chúng ta có bao nhiêu sự đổi thay. Tôi đâu có muốn mất mẹ nhưng mà mẹ mất. Tôi đâu có muốn thầy tổ bệnh yếu nhưng bây giờ Thầy đang bệnh. Tôi đâu có muốn mất đi những người huynh trưởng như Hòa thượng Phước Hảo, Hòa thượng Đắc Pháp mà quý ngài lại lục tục bỏ đi. Con quỷ vô thường đã chiếu ngay ai đó thì phải ráng mà chịu thôi. Mình thương nhau, kính nhau thì ráng nhắc nhở nhau để làm chủ, chứ không có thần uy pháp lực nào mà trị được quỷ dữ vô thường. Chỉ có đạo lực, công đức tu hành mới giải quyết, mới nói chuyện được với cái đám dữ dằn này. 

Cho nên Tổ nói “Triêu tồn tịch vong, sát-na dị thế”, sớm còn tối mất, trong chốc lát đã chuyển sang đời khác. Hòa thượng Trúc Lâm cũng dạy mạng sống chỉ trong hơi thở. Không có gì bền vững hay trường tồn cả, đừng có mê theo nó, phải tỉnh để mà tu, phải làm chủ lấy. Có khi buổi sáng còn gặp gỡ, cười vui chúc tụng nhau, đến trưa chiều lại mất. Nói đúng hơn, một hơi thở ra không lấy lại là mất, không chần chờ đến trưa chiều.

Hôm qua, tôi đang làm việc ở Hiện Quang thì ôn Quang Đạo gọi tới, báo cho hay thầy Từ Tôn đã ngã bệnh. Tôi hỏi bệnh gì thì Ôn nói là bệnh tim, đã đưa vào Tâm Đức rồi. Mới cười nói rất khỏe đây mà giờ vào bệnh viện, quý vị thấy có nhanh không? Tôi, Hòa thượng Quang Đạo và Hòa thượng Từ Tôn cùng chịu trách nhiệm ở trường Trung cấp Phật học Đồng Nai hai mươi mấy năm rồi. Từ giai đoạn đầu khi trường khai giảng dưới Đại Tòng Lâm cho tới bây giờ, năm này là khóa VII, đã đào tạo hàng ngàn Tăng Ni sinh, thi vào các học viện ở Thành phố Hồ Chí Minh, Huế và thủ đô Hà Nội đều đạt điểm cao.

Bây giờ, Phó ban giám hiệu kiêm Chánh thư ký của trường là thầy Từ Tôn đã bệnh rồi, mà còn bệnh tim nữa. Quả tim này thấy nó đỏ, nó đẹp như vậy đó, nhưng ngưng đập một cái là mình chết liền. Nó đập mạnh quá mình cũng chết, đằng nào cũng chết phải không? Cho nên tổ Quy Sơn dạy sớm còn tối mất, chốc lát đã chuyển qua đời khác. Cái chuyển này nếu mình có tu, sáng suốt, không gây nhân xấu thì chuyển tốt. Nếu mình tăm tối, gây tạo những nhân bất hảo thì chuyển không tốt. Nguy lắm! 

Nhân đây, tôi kể câu chuyện lai sinh cho quý vị nghe. Khi chúng ta bỏ thân năm ấm này, nếu người tạo nhiều nghiệp ác, chưa biết tu tập, sống bằng sự tăm tối, gây tạo chuyện này chuyện khác nhiều quá thì thấy trên trời có sấm chớp mây đen nổi dậy, tiếng gầm hét, rượt đuổi của loài thú, kinh khủng, hãi hùng, không biết chạy đi đâu. Thấy gốc tre, bụi lùm, muốn chui vào trong đó để trốn. Khi chui vào rồi, mở mắt ra đã thấy mang lông đội sừng. Chuyển sang đời khác là như vậy, chỉ một niệm thôi. Hòa thượng dạy thân này không thật, cảnh này cũng không thật, mọi thứ đều là đồ vay mượn. Chúng ta phải tỉnh sáng để tu thì mới làm chủ được, không bị cái nghiệp tăm tối lôi dẫn vào các nẻo luân hồi. Đừng để đến lúc mang lông đội sừng rồi, không biết chừng nào mới quay về được.

Nhiều năm nay, tôi nấn ná không dám đi đâu, các nơi mời mọc tôi đều từ chối. Thậm chí, có lần về quê thăm viếng, đang 10 giờ đêm, nhớ lại thầy tổ đang bệnh mà mình lại ở đây, tôi về Thường Chiếu liền. Quý vị thấy Hòa thượng đang bệnh, rất khó phục hồi như xưa, nhưng nhờ phước lớn, nhờ công đức tu hành nhiều đời mà ngài vẫn khỏe, vẫn tỉnh táo, có thể tới lui trong viện xem xét này kia. Tuy Hòa thượng không nói nhiều, nhưng những điều gì mình trình bày đúng thì Thầy gật đầu hoan hỷ, chứng tỏ Hòa thượng không có một chút gì mờ mịt cả. 

Hòa thượng bệnh, tôi cũng đang bệnh. Bệnh của tôi là bệnh cột sống. Từ năm 28 tuổi, tôi theo Thầy vào núi. Trước giờ tôi chỉ đi học, đâu có kinh nghiệm lao động. Ở trên núi, cây đá ngổn ngang, muốn làm một con đường đi hay một khoảng sân phải dọn đẹp mấy tảng đá lớn. Phải đào, phải đập, lấy xà beng kê vào mà bứng, có khi mình kê đằng kia, bên này dồn hết sức đè xuống nhưng đằng kia nó tuột, quật một cái chết giấc. Nhưng mình vẫn cứ bình thường, những năm này Hòa thượng thường dạy anh em chúng tôi “chết không sợ mà sợ cái gì”.

Bởi không sợ chết cho nên cái lưng của tôi bị sai khớp, không sửa cũng không thuốc men gì hết. Lây lất, rồi cũng nhập thất, cũng ngồi thiền. Ngồi ẹo một bên, phải kiếm cách kê như thế nào đó để ngồi thiền cho được. Riết rồi cái lưng cong queo y như bản đồ Việt Nam. Tôi sống như vậy, bình yên như vậy, mãn chương trình trên kia, năm 75 về đây cạp đất mà sống. Tôi không nghĩ trị bệnh hay làm gì, khi nào đau quá thì cứ nằm, huynh đệ đắp thuốc, đắp lá này kia. Trị yên rồi thì đi làm, cứ sống như vậy, lây lất từ năm 75 cho tới bây giờ.

Khánh thành thiền viện Trúc Lâm Trí Đức xong, tôi đi không nổi nữa. Các Phật tử thương, đưa vô Đại học Y Dược, mấy vị bác sĩ trong đó nói cái xương sống của thầy thúi rồi, phải giải phẫu. Đi đâu khám cũng nói một kiểu y như vậy. Vô trong chỗ ngoại thần kinh quốc tế gì đó, chụp hình xong, bác sĩ coi rồi kêu ngồi đó để ông đi làm thủ tục giải phẫu. Tôi nói không, bác sĩ có thuốc gì cho tôi uống đỡ đau, sống được ngày nào tu ngày đó, chứ bây giờ giải phẫu không có cơ hội hồi phục. Tôi biết vậy đó. Ông nhìn tôi rồi hỏi sao thầy lại quyết định như vậy? Tôi quyết định như vậy, bởi vì hiện nay tôi hơn 70 tuổi rồi. Mình phải biết thân phận của mình chứ. Ông cho thuốc ít lắm, mấy viên thôi nhưng khi nào đau mới uống. Tôi vẫn bình thường, về vẫn sống, vẫn đắp thuốc, vẫn bấm, vẫn đốt, coi như đây là một chút dư báo mà mình phải trả. Chắc có lẽ ngày xưa mình cũng đục thiên hạ, cho nên bây giờ mới bị thế này.

Sau đó, có Phật tử giới thiệu ông bác sĩ người Đức ở Phú Nhuận. Ông này vui lắm, không biết nói tiếng Việt nhưng bạn của ông thì biết. Tôi vô khám, ông coi tới coi lui xong rồi khen một câu rằng, quyết định không giải phẫu của thầy là quyết định sáng suốt. Ông nói bệnh này ông trị được. Thật sự mà nói, nghe vậy tôi cũng mừng chứ, bởi vì một trăm người đã nói không trị được, bây giờ ông nói trị được, nhưng tôi cũng bình thường. Ông có cái máy  rọi xem, rồi chích thuốc. Tam bảo gia hộ, qua mấy lần đi trị ở đó cái lưng bớt đau, nhưng viện phí nặng quá. Vì cái thân dỏm này mà hao tốn của Phật tử nhiều, nên tôi tìm cách từ chối, nói đỡ rồi.

Lây lất tiếp một thời gian, tự dưng có một Phật tử đem ông thầy ở ngoài Hà Nội vô, là thầy Đức đó. Lâu lâu ông vô bấm một lần, tôi lại thấy đỡ. Huynh đệ biết không, hộ pháp sai quý vị này giúp mình đó chứ, nếu giải phẫu thì có khi xong rồi. Cho nên, tôi tin mình cứ cương quyết tu, sáng suốt tu, tin chắc vào pháp môn mà tu, cứ sống bình thường như vậy, Tam bảo sẽ gia hộ, mọi việc sẽ tốt hơn. Giả tỷ hết duyên thì cũng chấp nhận trả hết, nguyện kiếp sau trở lại nương Bát-nhã lực, gặp Phật pháp tu hành, giác ngộ giải thoát.

Hôm nay, trong nhân duyên này, tôi nói lòng vòng một chút như vậy. Tôi rất vui, thấy chư huynh đệ đông đảo, những người có duyên với Tổ đình, với Hòa thượng Tôn sư, với tôi, các vị từ khắp nơi trở về. Đủ duyên gặp mặt, chia sẻ với nhau về việc tu học, đó là điều rất quan trọng. Sau này, khi tôi về hầu Phật rồi quý vị nhớ việc làm ngày hôm nay, phải ráng giữ để huynh đệ có cơ hội chia sẻ, hỗ trợ với nhau mà tu học, hoằng pháp lợi sanh, mở mang tông phong của thầy tổ, Thiền tông Phật giáo Việt Nam. Đó là lời nhắc nhở của tôi.

 

Khánh Tuế 27/07 Ất Mùi

2015.

Mục Lục