Hôm nay là ngày sinh nhật lần thứ 67 của tôi, chư huynh đệ tại Tổ đình thiền viện Thường Chiếu, các pháp hữu, quý Phật tử trong tông môn đã hoan hỷ vì tôi mà tổ chức buổi lễ hết sức long trọng. Tôi kính niệm ơn tất cả quý vị. Cuộc đời tu của tôi còn phải phấn đấu nhiều, nhưng tôi có được một duyên lành, đó là cho tới giờ này gần 70 tuổi rồi mà tôi vẫn còn mẹ, vẫn còn Thầy.
Nhớ những năm tôi vừa được xuất gia, khi đó mới 7 tuổi cũng giống như các tiểu La Vân Tuệ Uyển bây giờ. Những năm này, sư phụ, các sư huynh sư tỷ và những người xung quanh đều dồn cho tôi một nhân duyên là phải học. Hồi xưa, học là học chữ Hán. Mới sáu bảy tuổi đầu làm sao mà học chữ Hán được, vì vậy mà tôi bị đòn roi rất nhiều. Nhờ roi đòn mà tôi phải học, dù học không được cũng phải học. Được hơn một năm, tôi được sư phụ cho đi học chữ Nho cùng với một sư tỷ ở làng bên.
Ở làng bên có một cụ đồ, dáng người quắc thước, râu trắng và dài. Thấy tôi đến học, ông cứ nhìn tôi mà cười vì trong đám học trò của ông không có ai nhỏ như tôi. Nhưng rồi vì có cảm tình quen biết với sư phụ tôi nên ông cũng hết lòng dạy dỗ. Ông trực tiếp ngồi dạy tôi viết từng chữ Hán. Những chữ Hán đó, ông bắt tôi phải đồ, phải viết đi viết lại rất nhiều lần. Cho nên mặc dù tôi là đứa học trò nhỏ nhất ở đó nhưng lại có được những nét chữ có vòng khuyên màu son. Ngày xưa, đi học chữ Nho mà chữ nào viết hay viết đúng thì có một vòng khuyên màu son, cũng như đi học ở trường ngoài mà làm bài đúng thì được điểm 5 hoặc điểm 10. Trong tập vở của tôi, mấy tháng đầu chẳng được vòng khuyên nào hết, nhưng khoảng chừng nửa năm sau thì có rất nhiều vòng khuyên.
Chẳng bao lâu sau có sự thay đổi, tôi theo mẹ về quê ngoại, chuyện học chữ Hán vì thế mà gián đoạn. Bây giờ, tôi bị dồn học thêm các kinh và cách xướng tụng trong chùa. Mấy năm này tôi cỡ 9 -10 tuổi cho đến khoảng 12 - 13 tuổi. Tôi có học chữ Việt nhưng chủ yếu là học rất nhiều kinh để đi xướng tụng, rồi học cách đánh đẩu, đánh trống. Mỗi khi có đám lớn, quý ngài lãnh đám rồi cho chư Tăng đi dự, tôi tuy là một chú tiểu còn để chóp nhưng vẫn được đi cùng.
Khi tới phần tôi, mấy thầy lớn nhìn xem tôi có làm được hay không thì tôi làm được. Lâu lâu được đi dự những đám cúng lớn mà mình làm tốt thì được khen, về thưởng cho năm đồng ba đồng. Thời đó, ở quãng 9 -10 tuổi như tôi thì năm đồng ba đồng to lắm, chứ không phải như bây giờ. Số tiền này, tôi nghiền ngẫm rất thú vị, cái món mà tôi thích nhất là bánh tráng của nhà bà Hai trên đầu xóm. Bánh tráng mới phơi chừng một nắng, dẻo dẻo, xé từng miếng nhỏ chấm với tương ớt ăn ngon lạ thường. Cho nên, năm đồng ba đồng được dùng vào chỗ đó.
Hồi ấy, tôi có một người bạn rất thân, ông già của chú này làm nghề thầy pháp nên chú có rất nhiều tiền. Hai đứa tôi rất hợp vì đồng một khẩu vị. Có khi hai đứa ngồi nhai những miếng bánh tráng nhỏ chấm nước tương thiệt cay, cả mấy tiếng đồng hồ, là một cái thú vị. Sau những thú vị đó, nhìn lại những môn, những phương pháp mà mình được học, có thể nói là chưa sử dụng được gì trong đời tu của mình.
Tôi không hiểu tại sao hồi đó, lúc còn nhỏ như vậy mà có những lúc tôi rất là buồn, không biết rồi đây đời mình sẽ ra sao. Nếu cứ học như thế này, lớn lên mình sẽ làm cái gì đây? Đi học ở trường làng từ lớp năm, lớp bốn, lớp ba, rồi lớp nhì, lớp nhất, tôi thấy học kiểu này chỉ để xóa nạn mù chữ thôi, chứ làm sao học lên trung học được. Nghĩ tới đó, tôi rất lo, không biết mình phải học như thế nào, đi đâu học hay làm sao để học, ai có thể hướng dẫn và lo cho mình học liên tục? Những câu hỏi đó cứ luẩn quẩn trong đầu tôi hoài.
Sau đó một thời gian, nhân duyên tôi được về Sài Gòn. Những năm này, tôi mới học chừng lớp nhì lớp nhất thôi, còn chưa qua cấp tiểu học nhưng tại chùa tôi lại vướng phải một công việc khác. Trong chùa có khoảng mười mấy huynh đệ, là mấy huynh đệ họ Nhật của tôi đó. Tôi là Nhật Quang, được thầy thương, đi đâu thầy cũng cho xách cặp đi theo làm thị giả. Công việc ở chùa, cầu an, cầu siêu gì, tôi làm được hết. Người ta muốn viết sớ, tôi viết sớ được, muốn thỉnh khai kinh, hoàn kinh, cúng ngọ, cúng vong gì tôi cũng làm được. Làm được mấy cái này thì bận rộn vô cùng. Hồi đó, giọng nói của tôi rất trong nhưng do tụng nhiều, xướng nhiều nên cứ rè rè, không khi nào được thông hoặc nói lớn như bây giờ.
Trong số những người Phật tử thân cận của chùa có hai vị Phật tử là chủ của một trường tiểu học. Biết tôi muốn học cho xong tiểu học, hai vị này đến trình với thầy tôi. Đúng là cái duyên của tôi được đi học. Thầy nói bây giờ nó bận rộn quá, học được nhiêu thì học, chứ kêu nó phải học cho xong cái này cái khác thì làm sao tròn được công việc ở đây. Thầy nói chung chung vậy đó. Thầy cho đi học nhưng phải làm cho xong việc. Cho nên có rất nhiều đêm, sau khi tụng kinh xong rồi, tôi phải ôm cặp mà chạy.
Trường Phổ Tế nằm trong khu vực Bàn Cờ, phía sau dãy nhà lầu năm tầng. Vì lớp học vào ban đêm, bắt đầu lúc 7 giờ, cho nên cứ xong việc là tôi ôm cặp chạy, có khi qua đó người ta vô học hết rồi, tôi tới trễ nhưng cũng được vào học. Tôi học rất giỏi, thầy và cô tức là hai vợ chồng chủ của trường học đó rất thương, có nhiều bữa họ đến thưa với thầy, cho tôi nán lại trường để họ chỉ tiếp, hướng dẫn phải học cái gì đó. Do vậy mà tôi vượt qua được cấp tiểu học một cách nhẹ nhàng. Tôi cũng không ngờ, vì cái kiểu học tâm hơ tâm hất của tôi như vậy thì làm sao học được.
Qua hai năm học ở đó, tôi bắt đầu có căn bản ở một số môn để chuẩn bị lên Trung học đệ nhất cấp. Hồi xưa, học xong lớp nhất đúng 12 tuổi mới được nộp đơn thi vào trung học, gọi là học sinh chánh thức. Nếu thi đậu thì học trường công, còn rớt phải học trường tư. Năm đó, tôi bị lố mất mấy tuổi cho nên không thể dự thi vào trường công được, đành phải học trường tư. Nhưng tôi vui lòng chấp nhận và tự trong lòng tôi sắp đặt làm sao cho mình đủ nhân duyên để học tiếp, bởi vì tôi biết tới năm đệ tứ phải thi Trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi đệ nhất cấp này rất khó. Nếu thi đậu mới được lên Trung học đệ nhị cấp, học lớp đệ tam, đệ nhị. Cuối năm đệ nhị thi Tú tài I, học thêm một năm đệ nhất xong, thi Tú tài II. Như vậy, trong khoảng hai cấp học cấp 2 và cấp 3 phải thi ba lần. Một lần thi Trung học đệ nhất cấp, một lần thì Tú tài I và một lần thi Tú tài II.
Thi Trung học đệ nhất cấp rất khó, chứ không phải dễ. Nhưng qua các cấp sau, như thi Tú tài 2 thì không khó. Những năm này, chương trình học dành cho học sinh chia ra làm bốn ban: ban A, ban B, ban C và ban D. Nếu ai giỏi toán thì thi ban B, ai học thuộc lòng giỏi, thích vạn vật này kia thì đi ban A, ai giỏi văn chương thì đi ban C. Quý thầy quý cô ngày xưa đi học đa phần chọn ban C và ban D, vì ban C là ban văn chương, dành cho người giỏi về văn chương, còn ban D là ban cổ ngữ, mà cổ ngữ thì quý thầy cô quen rồi. Hai ban này dễ học, dễ thi, nói riêng với người tu là vậy.
Những năm này, đời tu của tôi có một sự cố, đó là vị thầy quãng giữa của tôi qua đời. Vị thầy đầu tiên đã qua đời, vị thầy thứ hai là Hòa thượng chùa Từ Lâm qua đời. Bây giờ, vị thầy thứ ba cũng qua đời. Vị thầy thứ tư chính là Hòa thượng Chủ tịch Giáo hội Phật giáo Việt Nam bây giờ, tức là Hòa thượng Vạn Đức. Nhờ có Hòa thượng, tôi mới được vào Ấn Quang thi tuyển, rồi được đưa đi học ở Phật học đường. Và cũng chính từ Hòa thượng, tôi mới biết rõ rằng người tu không phải chỉ học giáo lý căn bản và tán tụng thông thường là đủ, mà còn phải giỏi Phật pháp, giỏi kinh điển, giỏi giáo lý, thậm chí phải giỏi cả ngoại ngữ nữa. Thời đó, ngoại ngữ là Pháp ngữ, sau này mới tới Anh ngữ, còn Cổ văn tức là Hán ngữ thì đương nhiên phải giỏi rồi.
Mấy năm học ở Phật học đường, trình độ của tôi là đệ ngũ, đệ tứ, đến khi học xong ở Vĩnh Bình, tôi phải thi Trung học. Mấy năm này, việc học hành và thi cử có nhiều biến cố. Tôi cố gắng hết sức. Sau khi học xong cấp Trung học và tốt nghiệp ở Học viện Huệ Nghiêm thì anh em chúng tôi được thi tuyển vào Đại học Vạn Hạnh. Những năm trong trường Phật học, tôi được gặp Hòa thượng Trúc Lâm. Hòa thượng là người đầu tiên nói với tôi rằng sau này chú theo thầy học, thầy hướng dẫn cho tu.
Ngoài ra, còn có ba bốn vị Hòa thượng nữa, trong đó có Hòa thượng Thiền Tâm, khi đó đang làm Giám học, ngài cũng nói với tôi là theo thầy học, thầy hướng dẫn cho mà tu. Ngài còn bảo tôi rằng chú có duyên, nếu chú niệm Phật đắc lực thì đảm bảo chú có thể biết trước được ngày vãng sanh của mình 10 ngày. Tự dưng Hòa thượng nói với tôi như vậy. Hòa thượng còn nói bây giờ Nhật Quang làm sao vận động Phật tử có được khoảng 20 tấm tôn lạnh, lên Đại Ninh, thầy sẽ cất cái cốc của thầy rộng rồi thầy trò ở đó, thầy hướng dẫn cho tu, dạy cho học.
Trong thời gian tôi học ở Học viện Huệ Nghiêm, Hòa thượng Bửu Huệ là Giám đốc, được Tăng sinh chúng tôi coi như một người mẹ hiền, Hòa thượng Thiền Tâm là Giáo thọ trưởng, là một vị thầy vô cùng thông bác, còn Hòa thượng Thiền sư, Sư phụ của chúng ta bây giờ, là một người cha lý tưởng, dạy cho chúng tôi cách nhìn, cách sống và đưa chúng tôi đi sâu vào Phật pháp Đại thừa.
Ngày xưa, Hòa thượng từng nói kinh điển Đại thừa chỉ để trên gác thờ, cất kỹ trong tủ chứ không dùng gì được. Nhưng sau một thời gian kiên trì, mò mẫm tu tập, Hòa thượng có phát minh. Kể từ đó, ngài mở ra cánh cửa Thiền tông, ngài nói Phật pháp Đại thừa mới là Phật pháp sống, là Phật pháp đi vào lòng người, là cách cứu khổ, giải thoát. Từ cái nôi Phật pháp của ngài, tôi mới có được ngày hôm nay.
Thời gian tôi học ở Vạn Hạnh, Hòa thượng Vạn Đức làm Khoa trưởng Phật khoa. Hồi này, Phật tử Trúc Thiên dạy về Thiền lý thuyết còn Hòa thượng vừa làm Khoa trưởng, vừa dạy về Thiền thực hành. Ngài giảng quyển Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán. Sau mỗi tiết học, ngài cho sinh viên nghỉ rồi đưa hết lên Niệm Phật Đường trên lầu năm ngồi thiền. Trên đó có bàn thờ Phật, có đại hồng chung đủ hết. Hòa thượng Minh Châu rất hoan hỷ với cách hướng dẫn của ngài. Tôi là đệ tử trong nhà, ngồi thiền ở hàng đầu, ăn đứt các sinh viên khác. Mỗi lần như vậy, Hòa thượng nhìn tôi cười, ngài nói Nhật Quang đã học những thứ này, rồi giảng dạy cho người ta, bây giờ vô đây ngồi học nữa để làm gì? Lấy cái bằng cấp Phật học này để làm cái gì? Tại sao không tìm cách đào xới cho thật sâu, để dùng cho được đạo lý, Phật pháp đã học từ lâu nay? Tức là Hòa thượng nhắc nhở phải tu.
Nhưng tu như thế nào đây? Khi đó, tôi đang là Chánh đại diện Phật giáo huyện Thủ Đức, Đặc ủy hoằng pháp Tỉnh hội Phật giáo Biên Hòa, rồi còn phải đi học nữa, mà Hòa thượng bảo là phải tu. Tôi liền nhớ lại hai vị giáo thọ sư của mình là Hòa thượng Trúc Lâm và Hòa thượng Thiền Tâm. Trong sự chọn lựa cuối cùng, tôi quảy gói chạy lên núi Tao Phùng vào thiền viện Chơn Không. Đó là cái nhân duyên đặc biệt của tôi.
Bây giờ nhìn lại, trong đời tôi có những thuận duyên, nhưng trong cái thuận duyên đó lại có quá nhiều nghịch duyên, mà tôi phải cố gắng mới vượt qua được. Như khi đi học trên Vạn Hạnh, bao nhiêu công việc, có khi bị công việc dẫn, mà đã bị dẫn rồi thì khó tu lắm. Tuy rằng có hiểu Phật pháp nhưng cái hiểu ấy mông lung thế nào đó, tôi cũng không biết nữa. Có khi tôi nói cho Phật tử nghe, hướng dẫn Phật tử tu nhưng mà bản thân tôi cũng phải áp dụng, phải công phu thì mới giải quyết được việc của mình. Chỗ này chỉ có các vị thiền sư mới dám chỉ thẳng, nói thẳng, mới vì mình soi phủng được. Do vậy cuối cùng rồi tôi thấy thiền là pháp môn, là con đường lý tưởng nhất cho nên tôi theo Thầy về núi, ở yên trên đó để tu.
Suốt một dọc dài trong những năm tôi đi học, mẹ tôi không biết tôi làm gì, ở đâu. Có khi bà nghe nói tôi ở Thủ Đức, bà tìm xuống Thủ Đức gặp. Khi khác, nghe nói tôi ở Vĩnh Bình, bà không biết Vĩnh Bình ở đâu nhưng cũng đi thăm. Rồi có khi bà nghe người ta đồn bây giờ ông thầy lên núi rồi, lên Chơn Không rồi, bã cũng không biết Chơn Không ở đâu. Tôi đi đến đâu cũng có hình bóng của mẹ đến thăm viếng, dặn dò, an ủi, nhờ đó mà tôi càng thêm quyết tâm trên con đường tu học. Dù cho có những vọng tưởng gì, tôi vẫn kiên quyết một lòng nghe theo lời dạy của Thầy, tu học đến nơi đến chốn.
Qua những chặng đường như vậy, theo Thầy lên núi, rồi từ núi Thầy dạy về Thường Chiếu. Tôi về đây từ những năm đầu, trời lộng, đầy nắng gió, cỏ gai mênh mông trời đất. Năm ấy, tôi mới chừng hơn 30 tuổi, đến nay thì đã 67 tuổi rồi. Phải nói rằng từ túc duyên nhiều đời như thế nào đó mới khiến cái nhân duyên này hình thành, chuyển biến, vận hành theo chiều thuận. Có những người huynh đệ, những người cùng trang lứa, đồng song với tôi, họ gục ngã. Cũng bởi nhân duyên mà họ gục ngã. Do vậy được duyên lành theo Thầy, luôn kề cận bên thầy, được Thầy đinh ninh chỉ dạy từng điều, từng việc trong đời sống tu hành, tôi thấy quả là quý hóa vô cùng. Có thể nói đời này nếu tôi không được gặp những bậc thầy như vậy thì không biết cuộc đời của tôi sẽ ra sao. Có lẽ nhiều đời tôi đã kết được chủng Phật, nhiều đời là học trò, đệ tử của Hòa thượng Trúc Lâm. Nhờ công đức, bi trí của Thầy mà Tổ đình thiền viện Thường Chiếu, bản thân tôi cũng như chư thiện hữu tri thức mới có được như ngày hôm nay.
Mong duyên lành này kết thành chủng Phật, là chủng giác ngộ, giải thoát. Chúng ta đời đời kết duyên với nhau, nương Phật, đi theo con đường Phật, sống hạnh của Phật một cách hoàn chỉnh, tuyệt vời. Hôm nay, tôi có mấy điều xin được nêu lên và trình bày như vậy.
Khánh Tuế 27/07 Kỷ Sửu
2009.