Năm nay là một năm đặc biệt, năm 2007, hôm nay là ngày thứ 7, tháng này là tháng 7, mà ngày sinh nhật tôi lại là ngày 27 nữa, thật là một phúc duyên kỳ phùng. Ngày hôm nay, tôi xin nhắc lại một đoạn nhân duyên của đời tôi khi vừa học xong Trung cấp Phật học. Bấy giờ, trường Trung cấp Phật học chúng tôi được học do chính Hòa thượng Ân sư làm hiệu trưởng, cùng với một số chư tôn Hòa thượng lãnh đạo dạy dỗ Tăng Ni chúng tôi.
Khi mới tốt nghiệp, chúng tôi khoảng 24 - 25 tuổi, được Giáo hội Trung ương đưa về các tỉnh để điều hành các công tác Phật sự. Mọi người hướng về vị thầy chịu trách nhiệm, gọi là thượng tọa thì thấy dường như cũng ngượng miệng, gọi là hòa thượng lại có vẻ không đúng lắm. Qua mấy lần chứng dự những Phật sự như vậy, tôi nghiệm ra rằng mình ra làm Phật sự trong giai đoạn này quả là lỡ thầy lỡ bạn, nhất là những năm tôi tham gia công tác lãnh đạo Giáo hội Phật giáo ở tỉnh Biên Hòa ngày xưa, cũng chính là tỉnh Đồng Nai và Ban trị sự Phật giáo tỉnh Đồng Nai bây giờ.
Hồi này, có rất nhiều vị Phật tử từng học với cố Hòa thượng Viện trưởng Viện Hóa Đạo tức là Hòa thượng Sư Ông thượng Thiện hạ Hoa, và rất nhiều vị Phật tử là học trò đệ tử của quý Hòa thượng như Hòa thượng Chủ tịch Phật giáo bây giờ, cũng là Sư phụ của tôi. Cho nên trong các dịp hội họp, các Phật sự, tôi thấy rõ ràng các vị này, có khi thân tình thì họ gọi mình bằng thầy, có những vị trưởng thượng thì gọi là sư huynh, cũng có vị nhìn kỹ rồi nói thưa thượng tọa… Có lẽ các vị cũng có đôi chút ngỡ ngàng về việc tham gia công tác lãnh đạo của mình, ở vào cỡ tuổi đó. Bởi vì thật sự mình không phải là người có tài, cũng không có gì đặc biệt hay xuất chúng cả. Đó là điều mà tôi có thể tự cảm nhận được.
Sau khi tốt nghiệp ở trường, mười mấy huynh đệ chúng tôi tham gia thi tuyển vào Đại học Vạn Hạnh, tức là đại học Phật giáo thời ấy. Trong thời gian học, vị thầy đỡ đầu của tôi là Hòa thượng Trúc Lâm. Chúng tôi được nhà trường cấp cho một chiếc xe Lambro để đi học trên Vạn Hạnh. Chiếc xe này Phật tử mới cúng dường cho viện, còn rất tốt. Mỗi ngày, chúng tôi tự lái xe đi học. Bởi vì có những giờ học vào buổi đêm, hơn 10 giờ mới tan học, từ chỗ Đại học Vạn Hạnh trên đầu cầu đường Trương Minh Giảng chạy về tới trường đã hơn 11 giờ khuya. Cho nên Hòa thượng nói thôi giao cho mấy chú chiếc xe tự lái đi học, đi về tự quản.
Nhưng học ở Vạn Hạnh một thời gian, rồi tham gia các Phật sự, có khi chúng tôi cảm nhận giống như mình thiếu thầy tổ, thiếu huynh đệ, rồi cũng bon chen như tất cả những sinh viên khác ở trong trường. Hồi này, trong đại học Vạn Hạnh còn có khoa Khoa học Xã hội. Khoa này tới mấy ngàn sinh viên, đa số họ là người có tài, học để ra làm kinh tế và các công việc khác. Tôi học bên Phật khoa, cũng có quen biết và đôi khi có tham gia những chuyến công tác chung với họ. Tôi thấy nếu mình cố nâng lên để kịp với công tác, với công việc thì có khi nó vượt quá khả năng, quá phạm vi của mình.
Như có một lần đi công tác xã hội trên La Ngà, đoàn sinh viên Vạn Hạnh đi vào khu của dân tộc thiểu số. Vô trong đó, thấy cuộc sống của họ không giống như mình. Chúng ta có nhà cửa, có vệ sinh, còn họ sống rất tự nhiên, rất thiên nhiên. Các chị em thì lấy thuốc xức mụt ghẻ, lấy kéo hớt tóc, cắt móng tay, nói chuyện với bà con dân tộc thiểu số. Còn các sinh viên bên nam với mấy thầy thì làm các công việc nặng khác. Khi đi làm như vậy, tự mình phải làm sao cho được việc, cho kịp với tổ chức, vui vẻ với tất cả các vị sinh viên trong đoàn.
Tham gia một lần, hai lần thôi. Quý thầy giáo thọ ở trường luôn dạy là mình phải tu. Như Hòa thượng ở đây, từ thời Thầy còn làm hiệu trưởng ở trường Phước Hòa - Vĩnh Bình khoảng năm 1959 - 1960, cho tới những năm ở trên này, luôn luôn Thầy nói rằng: “Mấy chú học rồi phải tu. Lời Phật dạy, mấy chú có tu mới thấm, mới thấy được giá trị, mới hưởng được sự lợi lạc thiết thực của lời dạy này”. Lời dạy của bậc đã giác ngộ, nếu mình còn phàm phu, còn cù cặn tăm tối thì không sao tiếp nhận nổi. Do vậy, cuối cùng tôi thấy chắc rằng phải tu.
Nói thế không có nghĩa là lúc đó mình không tu, có tu chứ. Ban ngày làm gì thì làm, tối về phải tụng kinh, rồi khuya thức dậy công phu. Giờ giấc rảnh cũng ngồi yên lắng lại để coi mình đang ở đâu, làm cái gì. Chính nhờ những giây phút ấy, tôi mới nhận ra được con người thật của mình. Khi nhận ra, nhớ lại lời dặn của Hòa thượng, lúc đó ngài đang ở Pháp Lạc Thất - Núi Lớn ở Vũng Tàu, ngày trước gọi là núi Tương Kỳ. Tôi bỏ hết, chạy lên núi gặp Thầy. Thầy hỏi:
- Tại sao chú lên đây? Chú muốn tìm cái gì ở đây?
Vì Thầy biết là tôi đang đi học và đang làm các công tác trong Giáo hội nên mới hỏi như vậy. Khi đó, tôi đang làm Chánh đại diện Phật giáo huyện Thủ Đức và Đặc ủy Hoằng pháp của Tỉnh hội Phật giáo Biên Hòa. Tôi thưa:
- Bạch Thầy, con bừng con mắt dậy, thấy mình tay không.
Thầy nói:
- À, như vậy là chú theo tôi được.
Trước đó, tôi đang lăng xăng ngược xuôi ở thành phố, chỉ lo đi học, nào là học ngoại ngữ, rồi chuẩn bị đi du học gì gì đó, đùng một cái, bừng con mắt dậy thấy mình tay không, chạy lên núi theo Thầy học đạo. Một sự thay đổi phi thường!
Ba năm được ở yên trong núi, vì cửa núi khi này khóa kín, khách vào viện phải kéo dây chuông. Người hữu duyên lên núi được vị Tri khách kiểm qua, nếu thấy hợp lý mới mở cửa cho vào, không thì mời xuống núi. Thời ấy trên Chơn Không, Thầy sắp đặt mọi việc như vậy.
Tôi là một thiền sinh, một học trò của Hòa thượng ở trên đó. Từ câu bừng con mắt dậy thấy mình tay không. Thầy chấp thuận cho tôi được về núi bên Thầy. Bao nhiêu bức xúc, hình ảnh ngổn ngang, những hiện tượng lăng xăng quái gở trong cuộc đời, Thầy dạy một chữ “buông”, phải buông cho sạch. Tôi chưa hề đặt vấn đề tất cả những thứ gì chung quanh là vọng tưởng, là không thật, là dây mơ rễ má của trầm luân sanh tử.
Lúc ấy Thầy điểm trán chỉ thẳng những thứ đó là cội nguồn của khổ đau, là bóng tối của đêm đen luân hồi. Đức Thế Tôn đã từ bi chỉ rõ mọi thứ. Lối này, tôi hình dung rõ ràng một niềm trầm lặng bi hùng. Thầy đinh ninh chỉ dạy:
- Vọng tưởng là đồ bỏ, ta phải làm chủ, đừng chạy theo nó. Chính nó dẫn ta đi trong luân hồi sanh tử nhiều đời. Không tin, không nghe theo, không chấp nhận nó. Chú phải như vậy.
Đúng là mình phải dừng lại, phải tỉnh táo, phải buông bỏ. Thầy lại dặn:
- Hôm nào có Phật tử ở Thủ Đức hay thành phố lên thăm chú, tôi cho phép tri khách mở cửa viện đón họ vào nhà khách, nhưng tôi dặn họ để cái đồng hồ trên bàn, hẹn đúng 15 phút. Hễ nghe đồng hồ réo lên là biết đã hết giờ tiếp khách, chú phải đứng dậy, đi lên, không được ngó lại. Chú phải làm cho được điều này.
Những người khách đó nào có phải ai xa lạ, chính là mẹ tôi, bà Năm. Thật ra những năm đó tôi còn đi học, lỡ thầy lỡ bạn nên đâu có quen biết với ai, cứ ru rú ở trong nhà lo đọc sách, lo học, không có giao tế nhiều. Lâu lâu, Thầy hỏi vặn lại chú làm được chưa? Khi đứng dậy, tiễn khách đã có thầy tri khách lo, trách nhiệm của mình là thẳng đường đi lên.
Con đường đi lên đó là con đường dẫn thẳng lên thiền đường. Phía sau ngôi thiền đường là Tăng đường khiêm nhường bằng gỗ ván ép, lợp tôn. Huynh đệ chúng tôi gồm có thầy Đắc Pháp, thầy Phước Hảo, tôi và một số quý thầy, khoảng chừng một chục vị ở trong ấy. Cứ lâu lâu, Thầy lại hỏi có làm được điều đó không? Trong ba năm đầu tôi giữ gìn không xuống núi. Mãn ba năm, tôi hãnh diện đến trình với Thầy. Thầy nói:
- Chú này khá.
Nhưng thiệt ra là tôi cố gắng hết sức rồi. Nếu chương trình của Thầy mà kéo dài đến 6 năm, 10 năm thì chắc rằng sẽ có một ngày nào đó tôi tác bạch xin xuống núi thăm thầy, thăm mẹ, thăm bạn. Cũng may là chương trình chỉ có ba năm nên ráng hết mức. Ba năm đó, tôi là người duy nhất không xuống núi. Thầy Phước Hảo cũng có duyên sự xuống núi, thầy Đắc Pháp vì bà ngoại già nên những ngày lễ tết cũng có về thăm, còn thầy Đắc Huyền với thầy Trí Cảnh chịu trách nhiệm đi chợ nấu cơm, cho nên cứ ba ngày mấy lão ấy chống gậy xuống núi một lần. Khỏe re.
Riêng tôi, đặc biệt ba năm không xuống núi. Nhờ nghe lời Thầy cương quyết cho nên mới thành tựu được như vậy. Thầy dạy chú phải buông bỏ, phải định lại, tỉnh lại thì sẽ yên. Hễ định tỉnh thì trí tuệ phát sáng. Còn chú cứ lăng xăng như khỉ vượn thì không bao giờ phát sáng được. Vâng lời Thầy, tôi áp dụng như vậy và có kết quả. Mãn ba năm, Hòa thượng thưởng cho tôi xuống núi trước một tháng. Ngài nói thưởng cho chú và dặn thêm phải trở lại sơn môn đúng hẹn, để được tiếp tục vào thất ba năm, nhân dịp khai pháp khóa II. Lúc sắp đi, Thầy hỏi thăm một số việc, rồi nói:
- Được rồi, chú xuống núi.
Nhưng Thầy cũng nói thêm:
- Để xem coi xuống núi rồi chú có lên núi được nữa hay không.
Thực ra lúc đó Thầy cũng nghi, không biết đứa học trò nhỏ này xuống núi rồi có lên núi lại được hay không. Tháng đầu xuống núi, công việc bận rộn xung quanh vùng Thủ Đức, vì khi đi tu tôi chỉ để lại một văn bản ở văn phòng của Ban Đại diện Phật giáo huyện, xin phép đi trị bệnh ba năm. Lúc ấy, tôi đang làm Chánh đại diện ở huyện Thủ Đức. Khi về, chư vị pháp hữu tới thăm, loay hoay mất gần nửa tháng. Nửa tháng còn lại, tôi lên Đại Ninh dự lễ khai khóa Tịnh viện Hương Nghiêm của Hòa thượng Thiền Tâm, là một vị tôn đức trong ba vị chịu trách nhiệm tại Học viện Huệ Nghiêm.
Hòa thượng Bửu Huệ, Hòa thượng Bửu Lai và một số Tăng Ni khóa I Tịnh viện Hương Nghiêm, gồm một số các huynh đệ từ đạo tràng Vạn Đức cùng dự khóa. Tôi ở lại đây hai đêm dự lễ. Hòa thượng Bửu Huệ giao cho tôi và thầy Trí Tuệ chịu trách nhiệm điều hành buổi lễ hôm ấy. Sau đó, tôi đi Đà Lạt thăm mấy người quen. Đúng như Thầy dự định, hầu hết Phật tử và những người quen ở trên xứ lạnh gặp tôi, họ đều hỏi:
- Thầy tu ba năm rồi, làm gì mà phát nguyện thêm ba năm nữa? Liệu Thầy có ở nổi trên đó ba năm nữa không?
Tôi nói:
- Không nổi cũng phải nổi, chứ bây giờ ra ngoài để làm gì đây. Tôi không biết làm gì.
Tôi không có tài, cũng không biết làm gì cả. Những công việc mà tôi có thể làm được thì những huynh đệ hay những pháp hữu khác có thể làm được. Ở Đà Lạt mấy ngày, cho đến ngày chót, chạng vạng tôi mới lết về tới Chơn Không ở Vũng Tàu. Vào phòng lễ Thầy, Thầy nghiêm mặt nói:
- Bây giờ chú mới về tới, tôi tưởng đâu chú về không nổi.
Tôi bạch:
- Dạ, con ráng về, chứ con cũng còn vướng mắc.
Thầy cười bảo:
- Thôi, chú chuẩn bị đi. Tôi sẽ nhốt chú ba năm tiếp.
Nhờ có Thầy, nhờ có lòng đại bi và sự sắp đặt sáng suốt của Thầy mà tôi gắn bó được trong việc tu học. Điều mà tôi cảm nhận thấm thía nhất đó là Thầy dặn phải buông bỏ, phải định tỉnh, đừng ngó tới nữa, phải lo sáng được việc của mình. Từ cái định tỉnh đó, mình gầy dựng uy thế của nó. Mình kiên quyết thì nhất định sẽ thành công.
Ba năm kế tiếp ở trong thất quả là một thử thách vô cùng lớn lao. Vì tôi chưa có kinh nghiệm, kiến thức bên ngoài cũng như về Phật học chưa ra gì, công phu tu hành cũng chưa có bao nhiêu. Chỉ nhớ lời dạy của Thầy là phải coi như mình đã chết rồi thì mới yên. Thầy nói chú có thấy người nào đã chết rồi, nằm đó, mà có ai đi tới, cái thây chết nó ngóc đầu dậy nói gì không? Nếu chú thấy được cái đó thì mới nói là tu không được, không nổi. Đến giai đoạn này, Thầy dặn là phải coi như mình chết rồi. Mới áp dụng được phân nửa thời gian Hòa thượng đã định thì mọi việc đổi thay. Tôi vâng lời về đây, tu ở đây, làm rẫy ở đây cùng chư huynh đệ cho đến ngày hôm nay.
Hôm nay, tôi nhắc lại một đoạn nhân duyên như vậy để thấy rằng mọi phúc duyên mình có, tất cả những gì mình thành tựu được đều là từ Thầy. Nhờ trí tuệ, lòng bi mẫn và sự sắp đặt đúng đắn của Thầy mà tôi làm được, có kết quả. Thầy thường nói người có phước là người sắp đặt cái gì đúng cái nấy, người đó nói cái gì thì làm được cái đó, chú phải như vậy. Tôi là người tầm thường nên Thầy dặn từng chút như vậy. Tôi cũng thưa Thầy, con học từ từ thôi nhưng con học cái nào là con làm cái nấy. Thầy biểu làm cái gì là tôi làm cái nấy, không dám cãi. Cái nào khó khăn quá thì lâu lâu cũng có than phiền với Thầy nhưng Thầy khuyên gắng lên.
Trong thời gian nhập thất, có một đợt tôi bị mất ngủ gần một tháng, không ngủ nghê gì được. Lúc này khóa II đã khai giảng tại Chơn Không và mở thêm một điểm nữa ở chùa Linh Quang dưới Cát Lở - Vũng Tàu. Mỗi tháng, Thầy đi dạy dưới đó một tuần nhưng ngày nào Thầy cũng lên thăm. Thầy hỏi:
- Chú thế nào rồi, yên ổn chưa?
Tôi thưa:
- Dạ, bạch Thầy, con không ngủ được.
Thầy nói:
- Thôi, bây giờ buông hết, tôi cho chú khỏi tụng kinh nữa. Cứ tới giờ chú giăng mùng nghỉ ngơi đi.
Thấy Thầy quan tâm, tôi cố gắng lắm, nhưng thần kinh của tôi nó cư bệ rạc thế nào, càng cố gắng nó càng khùng lên. Muốn cho nó ngủ mà nó có chịu ngủ đâu. Đây là một kinh nghiệm về công phu không đúng cách của tôi.
Hồi đó, cái thất của tôi ở trên triền núi cho nên những động tĩnh gì dưới thành phố đều vang thẳng lên lỗ tai mình. Ban đêm, ánh sáng của thành phố rọi lên, dù trời tối mà trên đó vẫn sáng, vừa đủ để mình thấy đường đi ra đi vô, đi xung quanh thất hoặc ngồi trên mấy tảng đá. Trong thất của tôi có một cái tủ kiếng, mỗi khi ngồi thiền, nhìn vào mặt kiếng thấy hiện ra đủ thứ hình bóng nhà cửa, xe cộ dưới kia, rồi tiếng còi xe, tiếng người nói chuyện, tiếng này tiếng kia dưới thành phố vang lên, vọng rõ ràng trong lỗ tai mình.
Dạo đó, có mấy đoàn ca hát đến đóng đô ở vận động trường Lam Sơn khóm Thắng Hòa. Mỗi lần họ về khoảng một tuần lễ, ca hát, kêu lô tô, làm tá lả hết. Cứ đến giờ mình ngồi thiền là ở dưới họ lại ca hát, la hét. Tôi không biết làm sao, bỏ ngồi thiền thì không được mà muốn yên thì phải ghìm, phải gồng mình lên, đóng lỗ tai lại, khống chế các giác quan của mình. Phải làm vậy, tôi mới làm chủ được. Tôi đem chuyện này thưa với Thầy. Thầy nói:
- Khùng quá cỡ, mất ngủ là phải. Ngồi thiền ghìm là bệnh đó nghe chú.
Quãng thời gian này thiệt là mệt mỏi quá sức. Sau một tháng như vậy, tự nhiên có một buổi trưa đó tôi giăng mùng xong, nằm xuống, bỗng nhiên thiếp đi được một chút khoảng chừng 15 phút. Từ cái mốc đó, tối lại thiếp thêm chừng nửa giờ, rồi bắt đầu trả lại bình thường.
Do thần kinh bị suy nhược, sự vận dụng không hợp pháp đối với cơ thể và các giác quan cho nên nó sanh bệnh. Đây là kinh nghiệm cho các hành giả trong tông môn. Cố gắng, nhiệt tâm là phải có rồi, nhưng nhiệt tâm không đúng cách thì gây tai họa, có thể dẫn tới khùng điên, hỏng cả đời tu chứ không đơn giản.
Bây giờ nhìn lại, nhờ có Thầy chỉ dạy mà tôi biết được cách để định tỉnh, để buông bỏ, để làm chủ các giác quan, các hiện tượng xung quanh, không bị chúng dẫn đi. Từ đó phấn đấu gầy dựng và bảo vệ niềm tin của mình cho thật vững. Cuối cùng là công án Thầy cho trong thời gian nhập thất, đó là phải coi như mình đã chết. Nhờ tập chết, chết hết tất cả những lăng xăng, khôn ngoan, máy động, ngược xuôi nên tôi được yên. Biết nó là vọng tưởng, là đồ giả thì nó tới cũng được, nó không tới cũng được, nó làm gì mặc nó, mình không quan tâm.
Ngày xưa, trên Chơn Không không nhiều nhà cửa, chỉ có một ngôi thiền đường ba gian. Hai gian trước để thờ Phật, gian sau thờ Tổ, một bên là đơn của Thầy nghỉ, còn bên kia kê một cái bàn để Thầy làm việc. Huynh đệ của chúng tôi ở phía sau trong dãy nhà bằng ván ép, lợp tôn sơ sơ vậy thôi. Thời này, tôi được Hòa thượng trực tiếp chỉ vẽ từng điều trong cuộc sống. Sống, yên tu, nhẹ nhàng, thoải mái.
Bây giờ huynh đệ chúng ta bộn bề công việc. Các huynh đệ còn nhỏ tuổi mà có tài, bắt nhịp được với cái đà văn minh, tiến bộ. Quý vị có nhiều việc làm, làm tốt, làm hay. Do vậy mà quý vị không có thì giờ để tu. Các vị lớn thì bận rộn quá nhiều Phật sự. Mình nói tu mà không có thời gian kiên định để áp dụng vào công phu, vào sự tu hành. Hòa thượng từng nói nếu việc này mà dễ dàng thì các tổ ngày xưa đã không đi vào trong hang núi, hang đá để tu. Hồi xưa, một khi nghe được, nhận ra được, các ngài liền vào trong hang núi, ở những chỗ như vậy để nuôi dưỡng công phu cho đến khi thành tựu. Bây giờ, mình là hạng người nào mà cứ đương đầu với việc này việc khác? Nhiều việc như vậy, mình có tu được không? Đây là chỗ mà huynh đệ chúng ta phải suy nghĩ.
Tôi nhắc lại, định tỉnh là cái không thể thiếu đối với người tu, không kể là tu theo pháp môn nào trong đạo Phật. Sự kiên quyết, kiên định là một yếu tố quan trọng trong công phu hành trì. Kiên quyết như vậy, vững vàng như vậy thì may ra có ngày chúng ta sáng được việc, thành tựu được tâm nguyện của mình. Có khi chúng ta chưa nhận ra chỗ này, cứ nghĩ rằng mình tu không thành đạo được, không giác ngộ được. Không phải vậy. Chúng ta đã giác ngộ từng giai đoạn, từng sự việc. Như câu đầu tiên tôi trình với Hòa thượng Ân sư, bừng con mắt dậy thấy mình tay không, tôi liền bỏ hết, theo Thầy lên non học đạo.
Bây giờ quý Phật tử cũng nhận ra, cũng thấy cuộc đời vô thường, bấp bênh như thế nào đó mới dành thời gian, bỏ công việc, đến chùa tìm thầy học đạo. Mỗi tháng mỗi tuần, quý vị tranh thủ về chùa nghe pháp, tọa thiền, tụng kinh sám hối theo sự hướng dẫn của quý thầy. Nếu mình không có ý thức, không biết gì hết thì đâu có làm được như vậy, mà dẫu có làm cũng không có ý nghĩa gì. Hiện nay, rõ ràng là mỗi ngày mình bắt đầu công việc, làm công việc đó và mỗi khi làm xong mình có niềm vui, có lợi lạc. Từ kinh nghiệm bản thân, tôi thấy rõ như vậy.
Mỗi lần khắc phục được một thói hư, một tật xấu thì chúng ta có sức mạnh. Chúng ta thành công nhưng không tự hào. Hòa thượng dạy như đường lên cao, chúng ta là một hành giả có quyền đi, ngó thẳng mà đi, nhưng không có quyền ngừng lại, ngó hai bên, đứng lại nghỉ hoài không chịu tiến. Muốn lên cao mà đi kiểu đó thì không đến đâu hết. Cứ đi, nếu có mệt thì nghỉ chút xíu rồi đi. Đặc biệt chỗ này Hòa thượng Bửu Huệ còn nói thêm rằng nếu đi mệt, có ngừng lại nghỉ thì mấy anh em đừng có ngồi, lấy cây gậy chống đằng sau lưng, đứng như vậy mà nghỉ. Khi hô đi là đi rất khỏe. Vị nào nghe nghỉ mà ngồi bệt xuống thì lát người ta hô đi mình không muốn đứng dậy, cũng đi nhưng mà chậm lụt.
Tất cả chúng ta đã có những giác ngộ nho nhỏ, có phần giác, chúng ta đã thấy được lẽ thật của vấn đề. Bây giờ chúng ta phải nuôi dưỡng, phải phát huy như thế nào để cho sự giác ngộ đó được hoàn chỉnh, viên giác, toàn giác. Huynh đệ cố gắng hướng đến như vậy.
Hôm nay, trong ngày vui này, tôi nhắc lại một đoạn nhân duyên của đời mình, mong rằng những điều thô sơ đó sẽ hỗ trợ cho chư huynh đệ trong quá trình tu tập và nhất định chúng ta tu tập viên mãn, tu tập thành công, tu tập chừng nào bằng Phật mời vừa lòng.
Khánh Tuế 27/07 Đinh Hợi
2007.