Kính thưa quý vị,
Tôi nhớ lại một khoảng thời gian không xa, những năm tôi còn học ở Phật học đường, khi ấy tôi được gặp Hòa thượng Trúc Lâm, ngài có nói với tôi rằng, sau này chú theo tôi tu học. Nhớ lại lời dạy của Thầy như vậy cho nên tôi theo Thầy. Trong thời gian học ở trường, mọi sinh hoạt tu học của tôi đều do Thầy sắp đặt. Rồi đến một lúc, Thầy nói chú về núi tu thì tôi cũng theo Thầy về núi.
Trong mấy năm này, tôi học được một số điều, hôm nay nêu lên để trình bày với các vị, để huynh đệ thấy tuy không đi học ở trường ngoài, chỉ chuyên học thiền, học Phật pháp nhưng có rất nhiều lý thú. Những lý thú này đảm bảo có thể giữ chân mình ở lại trong Phật pháp, giúp mình phát huy tâm đạo, hướng về con đường Phật đạo để tu học.
Thầy dạy phải biết các pháp là không thật. Lần đầu tiên khi nghe Thầy nói những câu này, tôi không sao hiểu nổi. Các pháp đang hiện hữu đây, bày ra như vậy mà Thầy nói là không thật. Rồi Thầy nói lời Phật dạy cũng không thật, chỉ là duyên sinh, huyễn hóa. Lời này của Thầy, phải học, phải tu tập mới có thể cảm nhận được đầy đủ ý nghĩa của nó. Chính những lời dạy này của Thầy đã mở ra cho tôi một chân trời mới, để từ đó tôi thấy ngoài những giáo lý phổ thông mà mình đã học từ lâu nay, đạo Phật nhất là thiền tông, còn có rất nhiều điều cần phải học.
Mình phải học, phải tu, phải suy nghiệm, phải thâm nhập vào chỗ đó thì mới nhận hiểu tới nơi tới chốn những lời Phật dạy. Tôi không dám nói rằng tôi đã được thâm nhận nào, nhưng quả thật trong những năm này, từ sự hướng dẫn của Hòa thượng, hầu hết anh em dự khóa đầu tiên, đều nhận ra một cách rõ ràng tất cả các pháp không thật, không lay động nổi và cũng không làm gì được người có nội tại vững, công phu vững, trí tuệ sáng. Từ đó, chúng tôi sống bình thường, an nhiên tự tại.
Thầy dạy biết những dấy niệm, những vọng tưởng cũng không thật. Thầy nói giả tỷ bây giờ chú ngồi đây nhớ về thời gian đi học ở đại học này, công tác ở ban trị sự kia, tơ tưởng thì có, cảm nhận, suy nghĩ, phân biệt gì về những cái đó cũng có, nhưng hiện thực thì không có gì. Những dấy niệm đó là vọng tưởng. Ai không biết nó là vọng tưởng, chấp nhận chạy theo nó thì sẽ bị nó dẫn đi trong vòng luẩn quẩn rồi tạo nghiệp. Mà tạo nghiệp thì sẽ thành quả, luẩn quẩn trong luân hồi sanh tử không có lối thoát.
Ở giai đoạn thứ hai này, Hòa thượng dạy phải biết phát huy nội tại nội tỉnh, để mở mang trí tuệ Bát-nhã. Từ những tiểu ngộ tiến đến đại ngộ, triệt ngộ, tức ngộ được cái chân thật triệt để. Khi đó, mình sẽ không còn bị kéo lôi bởi bất cứ pháp trần hay hiện tượng nào bên ngoài. Cho nên Hòa thượng dạy các chú phải cảnh giác, biết tất cả dấy niệm đều là vọng tưởng, buông đi thì mới yên.
Giai đoạn thứ ba, Thầy dạy phải biết quý tiếc thời gian. Quý tiếc thời gian là sao? Như hôm nào ngồi thiền đau chân quá hoặc trên núi trên non vắng vẻ, hai ba huynh đệ ngồi lại uống trà, nói chuyện gì đó thì Hòa thượng tới hỏi: “Mấy chú nói cái gì? Ngồi đây làm gì? Phải biết quý tiếc thời gian, phải lo tu học, đừng có thả trâu chạy rông. Nếu cứ thả cho con trâu chạy ra ngoài thì dù ở trong núi năm mười năm cũng không dính dáng gì”.
Bởi sự sắp đặt, dạy dỗ của Hòa thượng như vậy, cho nên anh em chúng tôi rất ngại, mỗi khi gặp nhau không dám ngồi uống trà, sợ bị Hòa thượng rầy là không biết quý tiếc thời gian. Nhờ nghe lời Thầy, biết quý tiếc thời gian nên công phu trong giai đoạn này tiến bộ rất nhanh. Chỉ một thời gian ngắn, chúng tôi đã ngồi thiền lên được 45 phút hoặc một tiếng đồng hồ.
Hòa thượng nói: “Tôi giám thiền cho mấy chú mà mấy chú chỉ ngồi thiền có nửa giờ hoặc 45 phút thì quá ngắn. Chương trình ở đây mỗi lần ngồi ít nhất là một tiếng đồng hồ, dần dần sẽ tăng lên một tiếng rưỡi rồi hai tiếng”. Mấy năm ấy, có một số huynh đệ đã ngồi được 45 phút, từ đó tiến lên có thể nói là hanh thông. Mặc dù hai cái chân vẫn còn đau nhưng trong giờ tọa thiền cũng có chút ít an lạc, Bởi có an lạc như vậy nên anh em rất vui, rất phấn khởi, vững tin và tích cực hơn nữa.
Hòa thượng dạy tiếp: “Biết quay lại mình, không chạy ra tìm cầu cái gì khác bên ngoài. Bây giờ chư huynh đệ đang ở trong núi, đang tập tu, đang học kinh, luật, luận, sử, ngữ lục của các vị thiền sư, nhất là hành trạng của chư Tổ, các chú phải tập trung, phải thâm nhập, phải hành trì. Tôi cho mấy chú học hành trạng chư vị thiền sư là mong muốn mấy chú phát tâm hành trì như những vị tổ này. Những bài pháp, cách thức tu hành của bất cứ vị nào trong các vị tổ cũng là một giọt sữa sư tử làm tan sáu đấu sữa lừa”.
Chính trong quãng thời gian này, Hòa thượng biên soạn tác phẩm Nanh Vuốt Nhà Thiền. Bởi vì Hòa thượng thấy đó là lời dạy của các vị đã đại ngộ, đã triệt ngộ. Nếu mình thâm nhập được bất cứ một lời nào hay một pháp nào của các vị, mình thực hiện được thì sẽ an lạc, giải thoát tức thì.
Sau đó, Hòa thượng dạy phải biết tâm chân thật. Đây là điều quan trọng. Hòa thượng nói mỗi người có sẵn cái đó nhưng từ lâu rồi mình chạy ra ngoài, quên nó đi. Dù là cái của mình nhưng khi được chỉ mình không nhận ra, không sống được với cái đó. Như có người kia con nhà cự phú, nhưng thời trai tráng chỉ biết ăn chơi lơ đễnh, mải mê xóm làng, đến khi cha mẹ qua đời rồi không biết của báu trong nhà cất ở đâu.
Mình có của báu nhưng không biết nó ở đâu, cũng không biết làm sao để lấy dùng. Trong những buổi giảng dạy cho huynh đệ chúng tôi, Hòa thượng nói nhiều về việc này. Ngài nói mỗi người đều có sẵn tâm chân thật, cái tâm đó chỉ ra rất dễ đàng. Hòa thượng nói bây giờ mấy chú đang ngồi thiền, tỉnh lặng, sáng suốt, bỗng nhiên có một dấy niệm gì đó không làm chủ được rồi lao theo, đó là chạy theo trần thế. Cái rỗng rang sáng suốt trước khi dấy niệm, chính là cái tâm thể không hình không tướng, bất sanh bất diệt của mình.
Thầy dạy như vậy, nếu lúc đó mình có công phu thì nhận ra dễ dàng. Có khi đang ngồi trong núi tu mà lại nhớ đến huynh đệ này, người bạn kia, bây giờ người ta đi Nhật Bản, đi nước này nước khác, có bằng tiến sĩ hay bác sĩ, kỹ sư gì đó, còn mình thì không có gì, không được như họ. Đó là những cái phóng ngoại, chạy ra, lo ra, làm mất mình. Hòa thượng biết rõ căn bệnh của chúng tôi như vậy cho nên ngài đinh ninh chỉ dạy, phải nhận ra được ông chủ của mình. Nhận được rồi thì an ổn. Do vậy những năm ở trên núi là những năm huynh đệ chúng tôi an tâm nhất. Anh em có được những cảm nhận, những phút giây an ổn và có được những thời gian tọa thiền từ một tiếng, hơn một tiếng, cho đến một tiếng rưỡi. Đó là những năm có thể nói là giảm thiểu những lăng xăng rong ruổi.
Cuối cùng, Hòa thượng nói mấy chú phải biết thương mình, cái này mới là thân thiết nhất. Chúng ta đã bị luân hồi sanh tử nhiều đời nhiều kiếp, từng lên thiên đường, từng xuống địa ngục, từng bị đọa đày thế này thế khác và cũng từng hưởng những lạc thú thế gian. Vì vậy bây giờ là thời điểm tốt nhất, quý nhất để mấy chú dừng chân lại, trở về sống với chân tâm của mình, cắt đứt vòng luân hồi sanh tử mà nhiều đời nhiều kiếp mình đã bị vây khốn, trôi lăn trong đó. Quả thật đây là những lời dạy thẩm thấu nhất, là những lời dạy mà huynh đệ chúng tôi thời đó cảm nhận một cách đặc biệt nhất.
Sau ba năm ở Chơn Không, tôi chuẩn bị nhập thất ba năm nữa, nhưng mới thực hiện được phân nửa lại phải xuống núi, về Thường Chiếu tiếp tục tu học. Tôi vâng lời Thầy về đây, tu học ở đây. Có thể nói những gì tôi có được, tu học được, giảng dạy và hướng dẫn cho Tăng Ni tu học, làm được những Phật sự gì đều từ công đức pháp hóa của thầy tổ. Thâm ân của Thầy, tôi không biết dùng lời gì diễn tả cho hết được. Cứ mỗi lần nghĩ về Thầy, nhớ về thâm ân của Thầy, hình bóng của Thầy thì tôi lại cố gắng, cố gắng tu và cố gắng làm những việc mà Thầy đã giao phó để bày tỏ tấm lòng hướng về Thầy, đền trả thâm ân của Thầy.
Mong tất cả chúng ta đủ duyên lành, phát nguyện tu học theo pháp môn mà Thầy đã gầy dựng, nhất định tu học chừng nào sạch hết ba nghiệp tham sân si, như lời Thầy đã dạy mới vừa lòng.
Khánh Tuế 27/07 Canh Dần
2010.