Lẽ ra đêm nay chúng ta không có tổ chức được, vì Thầy của chúng ta đang bệnh nặng thì có vui vẻ gì đâu mà tổ chức, chúc tụng. Nhưng vì tấm lòng của chư tôn đức Tăng Ni huynh đệ, các pháp hữu, chư vị Phật tử từ các nơi về đây dự ngày sinh nhật của tôi, cho nên tôi sẽ nói chuyện một chút. Lúc này tôi đang bệnh, vừa bị cảm và lại bị ho, cho nên khi nào cơn ho tấn công thì tôi xin phép được lui.
Chư huynh đệ biết rằng trong đời tu của mình có những khúc quanh, có những lúc khó khăn, gặp nhiều chướng ngại mà chúng ta khó vượt qua được. Nhớ lại những năm 13 - 14 tuổi, lúc đó tôi đã xuất gia được sáu bảy năm rồi. Trong thời gian này có những điều xảy ra vượt quá tầm tay, nhưng rồi không biết nhân duyên nào mà tôi giải quyết được, cuối cùng mọi việc cũng ổn. Âu cũng là duyên lành, kết được chủng giác ngộ giải thoát trong Phật pháp.
Năm tôi tuổi 17 - 18, điềm báo những khó khăn về tâm lý, về vọng tưởng của một chú tiểu vừa lớn lên, có cảm nhận về những hiện tượng, sự kiện bên ngoài. Nhưng rồi mọi thứ cũng qua. Mấy năm sau, khi học xong ở Học viện Huệ Nghiêm, tôi lại có những vọng tưởng gai góc hơn. Những vọng tưởng này dẫn đi vào đường ma nào tôi cũng không biết. May nhờ có Hòa thượng, quý vị tôn đức, các bậc pháp hữu khuyên răn nên cuối cùng tôi vẫn giữ được nếp đạo tu hành. Đó là quãng thời gian tôi lông bông, lêu bêu đầu này đầu kia.
Tới những năm tôi 28 - 29 tuổi. Đây là những năm ách yếu, tôi quảy gói lên núi theo Thầy học đạo. Một quyết định lớn lao cho cuộc đời tu hành của mình. Ở với Thầy trong núi ba năm, đến năm 75, Thầy biểu xuống núi. Thiệt ra từ năm 75 cho tới giờ, nếu nói về những cay đắng khó khăn thì chắc rằng không phải ít, nhưng cuộc đời của tôi lại suôn sẻ. Vì sao? Là nhờ có Thầy bên cạnh. Có Thầy, có bạn rồi sau này có đệ tử nữa. Có đệ tử cũng hay lắm. Vì không lẽ mình là ông thầy mà làm bậy, cũng phải giữ tư cách của ông thầy chớ. Cho nên, có đệ tử tuy vất vả, nhọc nhằn lắm nhưng có cái hay là hỗ trợ, chia sẻ trên bước đường tu học.
Thời gian đầu mới về đây, nắng gió, cỏ gai mịt trời. Gầy dựng, rồi bệnh yếu. Có những lần bệnh thập tử nhất sinh, đi vô nhà thương cứ tưởng là chết trước mặt bác sĩ luôn rồi, nhưng không biết nhân duyên làm sao mà cuối cùng họ cứu sống lại được. Cho tới bây giờ bệnh yếu vẫn hoàn bệnh yếu.
Từ khi gặp Thầy, theo Thầy cho tới bây giờ, Thầy dạy cái gì, biểu làm cái gì là tôi làm y như vậy, không dám cãi. Tôi mong rằng hàng đệ tử của tôi về sau này cũng như vậy. Thiệt ra tôi là một con người tầm thường, không có gì gọi là tài ba. Về học vị, tôi có học được cái gì đâu. Cũng học đại học nhưng học theo kiểu của tôi, học để có sự hiểu biết, chứ không có tham vọng học để làm cái gì. Như ở đây, Thầy biểu tôi làm trụ trì thì tôi làm trụ trì, Thầy biểu tôi giảng Phật pháp cho quý vị nghe thì tôi giảng cho quý vị nghe. Thầy biểu là tôi làm.
Trở lại vấn đề, quãng khó khăn đầu tiên của tôi là khoảng 10 tuổi. Năm này mẹ con tôi được cậu đón về quê ngoại. Gần nhà ngoại có một ngôi chùa lớn là ngôi Từ Lâm cổ tự, tôi làm chú tiểu ở đó, cũng có đi học ở ngoài nhưng chỉ học vọc vạch cho có, còn các nghi thức trong chùa thì tôi rất thông thạo. Hồi này, tôi đã biết khai kinh, hoàn kinh, cúng vong, cúng ngọ, cầu an, cầu siêu, rồi đánh tang, đánh đẩu này kia, rất là rành.
Đến năm tôi 13 tuổi, chùa Từ Lâm có tổ chức Đại giới đàn. Trước tiên, vị Hòa thượng chủ trì ngôi Tù Lâm cổ tự được sơn môn tấn phong lên Hòa thượng. Sau đó, vị Hòa thượng này đứng ra làm Hòa thượng Đàn đầu, rồi chư sơn ở khắp nơi trên toàn miền trở về đây cùng tổ chức một Đại giới đàn. Trong Đại giới đàn đó, tôi còn nhỏ, được sắp đặt làm thị giả cho Hòa thượng Đàn đầu. Mấy ngày này, quý thầy về dự giới đàn rất đông. Những lúc rảnh, tôi chạy ra chạy vô coi người ta hát bội, rồi coi tán tụng. Vì tôi ở tại chùa mà còn là thị giả của Hòa thượng Đàn đầu nữa, cho nên không có chỗ nào mà tôi không tới được. Thấy cái mặt tôi là biết dân trong nhà rồi, cho vô hết.
Tuy chỉ là một chú tiểu, nhưng không biết nhân duyên gì mà có một vị trong thập sư để ý đến tôi. Vị đó là người Trảng Bàng, xuống Sài Gòn học Phật pháp với quý hòa thượng Trường Thạnh... Sau đó quý Phật tử ủng hộ Thầy xây dựng một ngôi chùa hiệu là Phước Quang, đầu đường Vườn Chuối - Phan Thanh Giản. Hồi đó, tại Đại giới đàn Thầy hay nhờ tôi mua nước đá, nước ngọt này kia, mấy thứ linh tinh dùng trong giới đàn. Tôi đi mua, rỗi thầy cho tiền, sau đó thầy nhìn mặt tôi, hỏi:
- Chú có muốn đi Sài Gòn học không?
Tôi nói:
- Dạ, muốn chớ.
- Có biết Sài Gòn ở đâu không?
- Dạ, con không biết. Con muốn đi Sài Gòn mà không biết Sài Gòn ở đâu.
- Chú có bà con ở dưới Sài Gòn không?
- Dạ, không.
- Nhà chú ở đâu?
- Dạ, nhà ở gần đây.
Hai thầy trò chỉ trao đổi với nhau mấy câu vậy thôi. Xong giới đàn, thầy về Sài Gòn. Khoảng một tháng sau, thầy nhờ ông thân của thầy với mấy người thân ở chợ vô tìm bà Năm. Gặp bà Năm, ông cụ nhắc lại lời hứa của tôi với thầy, rồi hỏi bà:
- Chú tiểu đó nói là chịu đi Sài Gòn, mà chú có đi hay không?
Bà Năm nói:
- Bây giờ nó lớn rồi, ở đây cũng có chùa, ở đó cũng tu, quan trọng là nó muốn sao thì tôi ưng vậy.
Ông cụ bèn dẫn mấy người đó đến gặp tôi, hỏi:
- Còn nhớ ông thầy trên Sài Gòn không?
Tôi thưa:
- Dạ, nhớ.
- Ông thầy kêu đi Sài Gòn đó, bây giờ còn chịu không?
- Dạ, chịu chớ, con đi.
Nói xong, tôi ôm gói đi theo gia đình ông thầy ra chợ ngủ một đêm, sáng hôm sau là về Sài Gòn.
Hành trang từ quê về Sài Gòn của tôi lúc đó chỉ có một cái quần thâm với cái áo trắng gói trong tấm giấy dầu, đi chân không, không có guốc dép gì cả. Nói quần thâm, có nhiều vị ở đây không biết. Vì núi Bà ở Tây Ninh là núi Bà Đen, cho nên dân ở miền đó không dám nói màu đen mà nói là màu thâm. Nghe nói màu thâm là biết dân miệt Tây Ninh, hạt Trảng Bàng rồi.
Xuống Sài Gòn, thầy rất thương, đi đâu cũng cho xách cặp theo làm thị giả. Ở Sài Gòn được chừng hơn nửa năm thì tôi phát bệnh. Đây là chỗ ách yếu mà tôi muốn nói đến. Bệnh thôi là bệnh. Đi khám thầy thuốc thì nói là ban bạch. Ban bạch là sạch nhà sạch cửa đó. Từ một chú tiểu khỏe mạnh ở miền quê mà bệnh riết đến nỗi nước da chuyển sang màu trắng bạch. Mấy ông thầy cứ nói sao nước da mày giống như giấy quá. Tóc, lông mi, lông mày rụng hết, nhìn coi lạ đời lắm.
Hồi đó, nhờ mấy Phật tử ở chợ 20, trong đó có bà Mười, rồi cô Hai ở xóm trên, mấy người ở xóm Hòa Hưng, xóm Vườn Chuối, họ chở đi trị bệnh bên Phú Lâm, rồi chở lên khu Hòa Hưng, đi cùng hết để trị. Cuối cùng, gặp một ông thầy trị bằng cách lấy bổi đốt. Ông đốt cái lưng tôi tan hoang, không còn gì hết. Bệnh quá, đi không nổi, nên cứ mỗi lần nghe mấy bà tới nói chở đi trị bệnh là tôi kiếm chỗ trốn, nhưng mà đâu có được. Đốt đến lần thứ tư, thứ năm thì bệnh giảm, rồi ông bắt đầu cho uống thuốc.
Mấy năm này tôi có đi học trường ở ngoài, cũng biết tụng kinh, cầu an, cầu siêu, viết sớ, viết điệp rất thông thạo. Nhưng tu để làm gì, tại sao phải tu. người tu phải học cái gì, phải tu như thế nào thì hoàn toàn không biết. Thân bệnh gần chết mà đường trước tắc nghẽn, không có lối thoát. Mẹ lo công việc dưới quê, còn ông già thì mất sớm từ lúc tôi mới ba, bốn tuổi. Sống lây lất vậy đó.
Cuối cùng rồi lụi xụi, ông thầy mất. Lúc đó, thầy mới có bốn mươi ngoài, trẻ lắm. Tự nhiên tôi được thừa kế làm trụ trì mới lạ chứ. Trụ trì nhỏ, tụng kinh rất hay, bạn đạo thương nhưng mà bệnh gần chết. Tới giờ tụng kinh, họ tới làm thuốc làm men, rồi lên chứng minh, tụng này kia. Tụng thì mọi người ưa nhưng mà bệnh lắm.
Nghe tin thầy tịch, có mấy thầy tới thăm. Mấy thầy đó cũng là dân quê, một thầy dân ở Long Thành là thầy Thiện Nhơn, một thầy quê ở Bạc Liêu là thầy Huệ Hà, cũng có hai ba huynh đệ từ Trảng Bàng xuống. Thầy Huệ Hà khi đó đang đi học trường ngoài, một số thầy khác thì đi học trong Phật học đường Nam Việt. Thầy Thiện Nhơn gặp tôi nói, nghe thầy huynh chết, tôi tới đây chơi với huynh, ở lại mấy ngày tụng một bộ Địa Tạng cầu siêu cho thầy huynh. Tôi nói hay quá, chùa không có ai, chỉ mấy huynh đệ nhỏ nhỏ, toàn là Phật tử không. Phật tử thấy thầy nào tới là họ vui, họ mừng lắm.
Trong mấy tuần thất của thầy, huynh đệ trao đổi với nhau. Thầy Thiện Nhơn nói với tôi là mình tu không chỉ có học bao nhiêu đây, thầy Huệ Hà đi học ở trường đời, nhưng không phải học trường đời mà thành người tu được. Mình phải học trong Phật học đường, phải học Phật pháp. Có những môn học mà cho tới bây giờ mình chưa nghe, chưa biết, chưa hiểu gì hết. Giả tỷ đời tu của mình ngang đây chết đi thì rất uống, vì tu gần bảy tám năm mà không hiểu gì về Phật pháp, không biết tu làm sao nữa chứ. Cho nên làm gì thì làm, huynh phải sống nghe, phải ráng uống thuốc đặng mà sống. Lúc đó, thiên hạ xúm lại nói tôi sống nhiều lắm chừng 30 tuổi là chết. Thiệt ra lúc đó thấy cái chết trước mắt rồi, bộ dạng của người bị ban bạch coi như chết. Nhưng vẫn lây lất sống.
Tôi nghe mấy huynh đệ kể chuyện đi học. Có vị học trưởng tư thục, cũng là dân quê thôi, đâu có điều kiện gì nhưng họ ráng tìm phương tiện để đóng học phí. Dễ lắm, mình có tiền đóng là đi học được, không kể tuổi tác gì hết. Qua vụ đó, cái đầu tôi cởi mở ra, lóe lên một ý nghĩ rằng mình có một con đường để thoát chết, mở mang trí tuệ. Bỗng nhiên có người em của thầy tìm đến. Ông là người ở ngoài. Gặp tôi, ông nói:
- Mày còn nhỏ lắm, làm trụ trì không được đâu. Giao cái chùa lại cho cậu đi. Giấy tờ, chìa khóa đưa đây hết cho cậu. Mày đi học đi, chứ mày ở đây đâu có được. Phải lớn tuổi mới trụ trì được, mày mới có nhiêu đây mà trụ trì cái gì?
Nghe ông cậu nói, tôi chịu quá. Tôi giao hết cho cậu, nhẹ gánh. Mấy vị Phật tử họ khóc một trận, khóc thôi là khóc. Họ nói thương quá, bây giờ tu ở đâu, học ở đâu. Nhưng họ cũng bế tắc, vì không có thầy thì phải để mình đi học chứ, đâu thể kéo lôi ở đây được. Hôm đó, có Hòa thượng Niệm Phật, tức là tòa thượng Thiện Huê ở Bình Dương xuống. Hòa thượng có quen biết với thầy tôi, cho nên khi nghe tin thầy tịch, Hòa thượng đến thăm. Nghe ông cậu nói kiểu đó, Hòa thượng nói:
- Thôi, con giao hết đi. Thầy hướng dẫn cho con tu học, đừng có ở đây nữa.
Thế là tôi chia tay với mấy huynh đệ, bắt đầu đi theo Hòa thượng Niệm Phật. Sau đó, tôi đi học ở Phật học đường, rồi vào đạo tràng Vạn Đức học với Hòa thượng Vạn Đức... Tất cả những duyên lành này đều xuất phát từ câu nói người tu phải học của mấy huynh đệ, và người hướng dẫn tôi bắt đầu chương trình tu học đó là Hòa thượng Niệm Phật. Trong thời gian đi học, lâu lâu thầy gửi tiền tới hỗ trợ cho tôi, vì tôi đâu có quen biết với ai.
Vào Phật học đường, tôi gặp Hòa thượng Trúc Lâm và Hòa thượng Huyền Vi. Các vị Hòa thượng này chịu trách nhiệm trong trường lớp giáo dục Phật giáo. Từ một chú tiểu bá vơ mà được vào trường học, cho nên tôi ráng học. Tôi không có người thân, cũng không có Phật tử nào ủng hộ, hoàn toàn ăn cơm của trường, học ở trường, sống với đại chúng, tuân thủ theo nội quy chế và sự hướng dẫn của quý thầy. Vậy mà năm nào tôi cũng có lãnh thưởng, lãnh thưởng về học, lãnh thưởng về hạnh, mặt nào tôi cũng được lãnh thưởng.
Đến năm 17 tuổi, tôi được nhập trường Hương ở đạo tràng Vạn Đức. Khi đó, tôi vẫn còn cái chỏm trên đầu. Đúng ra ở trường Hương chỉ nhận các thầy Tỳ-kheo hoặc các thầy đã thọ giới Sa-di, chứ đâu có nhận mấy ông tiểu như tôi, nhưng không biết từ chỗ giữa Hòa thượng Vạn Đức, thầy tôi và hòa thượng Niệm Phật, có liên hệ trong đạo tràng với nhau như thế nào, mà tôi được nhận vào học. Anh em chúng tôi 12 đứa để chóp, ở chung một phòng. Giữa mùa hạ năm đó, tôi được thọ giới Sa-di. Hòa thượng Vạn Đức làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới. Tôi được đốt một viên hương trên đầu cúng dường. Đó là kỷ niệm năm tôi thọ giới Sa-di tại đạo tràng Vạn Đức.
Mấy năm này, tôi đã biết chút chút về Phật pháp, biết con đường Phật pháp là con đường dài lâu, mình phải tu thật nhiều, học thật nhiều như quý Hòa thượng rồi mới làm một ông thầy, mới ra làm trụ trì, pháp sư, giảng sư này kia được. Nhưng tuổi thanh niên mới lớn vọng tưởng điên đảo ghê lắm. Vẫn đi học mà cứ mặc cảm mình là người nhà quê, nghèo, dốt. Giống như ở Ấn Độ có giai cấp đi buôn, giai cấp bình dân, còn mình là bần cố nông, da đen, nô lệ vậy đó. Cứ mặc cảm như thế.
Tại trường hạ năm này, Hòa thượng Chủ hương giảng bộ Pháp Hoa Thông Nghĩa, Kinh Di-đà Yếu Giải, Kinh Thập Thiện, Kinh Bát Đại Nhân Giác, Duy Thức Tam Thập Tụng v.v... cho đại chúng. Hiểu thì có hiểu, nhưng chỉ là cái hiểu của một chú tiểu còn non nớt. Về phần hành trì, tôi chỉ hành trì theo thời khóa ở trong đạo tràng, chưa có chủ trương gì khác. Chưa nghĩ được rằng mình phải tự thương, tự lo cho mình, phải có một thời khóa tu học cho chính mình, để rồi dù hoàn cảnh nào, mình cũng sẽ an toàn đối với tất cả cảnh duyên, hiện tượng xung quanh. Cho nên tôi bị điên đảo, suy suyển một thời gian, cho tới gần qua 20 tuổi mới bình ổn trở lại.
Giai đoạn này, từ quãng 17, 18 cho đến độ 20 tuổi là giai đoạn lao đao nhất. Khó khăn lắm lận. Thân xác của mình lớn lên mà đạo lực, trí tuệ không theo kịp nên bị hụt hẫng. Cái hụt hẫng này, nếu phúc duyên trong đạo của mình kém là rơi đài. Chắc chắn rơi đài, bỏ đạo như chơi. Cũng may mấy năm này tôi được chôn chân ở trong học đường, từ trường lớp này đến trường lớp khác.
Những năm qua 20 tuổi là những năm yên vị ở trong trường Phật học, học chí cốt, học chết bỏ. Từ năm 63 đến năm 68, học xong ở Học viện Huệ Nghiêm, tôi được ban Giám hiệu sắp làm thầy giáo trẻ dạy lại mấy lớp nhỏ trong viện. Một tháng được mấy trăm bạc, mua mấy tờ báo văn, báo phổ thông hoặc là báo Từ Quang này kia để đọc. Mấy huynh đệ thì mua các loại báo khác, trao đổi với nhau mà đọc. Dư ít chục thì để dành cho bà Năm, vì mẹ tôi đang trong hoàn cảnh khó khăn.
Có một điều nữa, như tôi đã nói hồi nãy, là tôi rất trung thành với quý Hòa thượng. Quý Hòa thượng dạy sao thì tôi nghe vậy, biểu học là học, chớ tôi không có hỏi tại sao hay đặt vấn đề gì hết. Tôi nghĩ mình là người bình thường, quý thầy giao việc gì cố gắng làm tròn, cứ tuân thủ theo quy chế, theo sự sắp đặt của viện. Như vậy cuộc sống của mình sẽ bình yên hơn.
Thỉnh thoảng có nhiều Phật tử thấy thương, họ tới cho cái này cái kia, rồi hỏi tôi có cần gì không? Nếu nói không cần là ép lòng mình mà nói thôi, vì có rất nhiều cái cần. Nhưng tự dưng khi có người hỏi thì tôi nói thật sự ở đây cơm ăn áo mặc không thiếu, chỉ thiếu một cái là phải ráng học. Quý Hòa thượng dặn là phải ráng học, cho nên tôi không có cần gì cả. Nhờ vậy mà nó yên, vượt qua được cái truông từ 17 cho tới hai mươi mấy tuổi.
Sau pháp nạn năm 63, Phật học đường Nam Việt không gầy dựng lại được. Hòa thượng Viện trưởng tức là Hòa thượng Thiện Hoa và Hòa thượng Ấn Quang là Hòa thượng Thiện Hòa, cùng với quý Hòa thượng trong Giáo hội chuyển Phật học đường Nam Việt thành Học viện Huệ Nghiêm nằm ngay Bình Chánh. Đây là cái nôi mà chúng tôi là những đứa con đầu tiên được thảy vô đó. Từ sau năm 68, tôi mới chánh thức rời trường về Thủ Đức với Hòa thượng Vạn Đức.
Sau khi học ba mứa như vậy, tôi cũng có chút địa vị. Tôi là đệ tử của vị Hòa thượng tôn đức, cũng làm việc trong Giáo hội, cũng có Phật tử, cũng tổ chức việc này việc khác, vậy mà trong hai năm đó tôi thấy mình giống như đang bắt đầu từ con số không. Cho nên đang trong lúc làm việc, trong lúc đi học Đại học, tôi viết một lá thơ kính cẩn dâng lên thầy, rồi viết thêm một lá thơ nữa để lại cho Ban đại diện Phật giáo huyện Thủ Đức. Trong đó nói rằng tôi xin đi học thiền ba năm. Đang đêm không nói với ai hết, tôi từ giã. Sáng hôm sau, có mặt trên Thiền viện Chơn Không, theo Thầy vào núi. Câu đầu tiên Thầy hỏi tôi là:
- Chú thấy gì mà lên đây tu?
Tôi thưa:
- Dạ, bạch Thầy, con thấy bừng con mắt dậy thấy mình tay không, cho nên con theo Thầy vào núi tu.
Đó là một giai đoạn trong lúc thân thể mình phát triển, lớn lên, có một số tuổi tác tương đối nhưng cái đầu, cái chất xám của mình chưa đủ sức để chuyển tải, phát huy, suy ngẫm tất cả những vấn đề trước mắt. Cho nên, trong quãng này mà chư huynh đệ có quyết định gì vội thì coi chừng sai lầm đó nghe. Bởi vì lúc này cái đầu của mình còn non lắm, chất xám chưa có bao nhiêu, nó mới gợn gợn như dừa non đóng váng vậy thôi. Phải để cho nó cứng lại thành dừa khô, may ra sau này mới có thể tham gia làm chút chút những việc có ích lợi trong Phật pháp, cho mọi người, cho chúng sanh.
Riêng tôi, tự khắc, tự hứa trong lòng là phải trung thành với Phật pháp. Vì vậy đang học trên Đại học Vạn Hạnh mà thầy nói với tôi một lời, tôi nghỉ liền. Thật sự mà nói, học Đại học cũng vui lắm chứ. Đi học được người ta giới thiệu là sinh viên này kia. Rồi trong trường có Thư viện, vào đó nghiên cứu cái này cái khác. Mấy năm ấy, Hòa thượng Mãn Giác làm Khoa trưởng, sau ngài bận Phật sự nước ngoài. Hội đồng viện thỉnh Hòa thượng Vạn Đức làm Khoa trưởng Phật khoa kế tiếp.
Những ngày Hòa thượng về dạy thiền ở Vạn Hạnh thì tôi được đi theo. Có khi thầy vui, hỏi chuyện này chuyện kia. Bữa đó, không biết thầy thấy hay nghe gì mà nói trúng ngay tim đen của tôi. Thầy hỏi:
- Nhật Quang đã học Phật pháp bao nhiêu năm, học các trường lớp, đã học những môn đó để đi dạy người ta, bây giờ vô Đại học này để học cái gì?
Năm đó thầy đang dạy Thiền Căn Bản, dạy quyển Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán. Thầy nói vậy thôi, rồi thầy cười. Thầy nói môn mình đã học, đã dạy cho người ta rồi, bây giờ vô đây ngồi học để làm gì? Kế nữa, thầy hỏi lấy bằng cấp Cử nhân để làm gì? Tôi bị mấy câu hỏi này gõ trúng tim đen đau điếng mà không trả lời được. Thôi, quyết định nghỉ. Chỉ có nghĩ mới yên lòng vào núi tu hành.
Thật sự mà nói, nếu còn đi học thì không biết bây giờ tôi là cát bụi ở phương trời nào. Tôi có người huynh đệ tu sau nhưng vào học trong Vạn Hạnh trước. Lãnh bằng Cử nhân Phật học xong, ông qua Nhật du học. Qua đó học thêm Nhật ngữ, rồi Anh ngữ để nghe các giáo sư bên đó giảng bài. Ông học rất giỏi, lên đến Tiến sĩ rồi nhưng không về nước. Ông bay qua bên Tây, cất được một ngôi chùa. Bẵng đi lâu lắm, có lần Hòa thượng đi Âu châu đem về một số hình ảnh, tôi thấy có hình của ông đang bưng khay lễ đón Hòa thượng. Hỏi thăm thì biết đã có chùa bên đó. Nhưng mà chỉ một thời gian ngắn chừng nửa năm, một năm gì đó, nghe nói ông vừa mất. Một huynh đệ khác qua bên Mỹ, cất được chùa rồi cũng chết. Trang lứa của tôi có hai huynh đệ đi Nhật học, đi nước ngoài cất chùa cất chiền, nhưng rồi không biết do duyên gì mà chết hết trơn hết trọi. Mấy huynh đệ còn sống bảo tôi rằng:
- Anh còn sống được là nhờ dốt, chứ anh có duyên đi đây đó thì chắc cũng chết rụi.
Tôi hỏi:
- Sao vậy?
- Anh bị ban bạch, nhớ không?
- Nhớ rồi.
- Ông trời đãi anh nha. Người ta nói khi ban bạch rút lui rồi, nó để lại một hậu chứng rất đặc biệt. Cái nọc độc của nó dễ làm hư con mắt mình. Có khi hai con mắt, nó thu bớt một con, còn một con.
Từ năm ngoài 30 tuổi, tôi vâng lệnh Thầy về Thường Chiếu làm trụ trì. Tôi về đây từ năm 75, khi đó chừng 31 - 32 tuổi với một khung trời cỏ gai mù mịt. Tôi là một anh chàng thư sinh không biết làm rẫy mà Thầy biểu đi làm rẫy, đó mới lạ lùng. Danh sách Thầy giao cho tôi có 20 ông thầy. Có những vị dân miền Tây thấy đất cát xứ này, bảo rằng đất này chỉ làm sân đá banh được thôi. Hoặc nếu có tiền thì xây lên chia lô trồng cao su, nhưng đất rừng dầu này mà trồng cao su cũng xấu. Tóm lại, chỉ có làm sân đá banh là không sợ lún. Ở miền Tây, làm một công ruộng thu được mấy chục giạ lúa, còn ở đây làm lúa rẫy, một mẫu có mấy giạ thôi, làm sao mà mấy huynh đệ đó sống ở đây được.
Những năm ấy cực khổ lắm, nhất là khoảng năm 77 - 78, thiếu cơm, thiếu gạo, thiếu đủ thứ chuyện trên đời. Khi giải thể đại chúng ở trên Chơn Không và Linh Quang, Thầy nói: “Các vị Tăng Ni trẻ, người nào còn muốn tu thiền, còn thích tu thiền, muốn theo tôi tu thiền thì xuống núi, về Thường Chiếu làm rẫy”. Rồi Hòa thượng dẫn tôi xuống đây, đặt định làm trụ trì. Lúc đó, Hòa thượng vẫn còn ở trên núi, mỗi tháng mấy lần đem cơm, đem gạo xuống, nhắc nhở chuyện này chuyện kia. Nếu tôi không có quyết tâm, không phải là một đứa học trò tôn kính thầy tổ thì không biết sẽ ra sao. Tôi nghĩ rằng chỉ có một con đường duy nhất là con đường Phật pháp mới giải quyết được vấn đề sanh tử, mới đưa con người ta đến chỗ giải thoát, không có đường khác.
Nghĩ như vậy rồi, tự dưng thấy con đường Phật pháp mở rộng thênh thang, thông thống trước mặt. Dù cho hoàn cảnh có thế nào, dù cho hiện tại mình là người có địa vị hay rác rưởi trong xã hội, nhưng rõ ràng là chỉ có con đường Phật pháp, nương theo lời dạy của Phật, làm đúng theo lời dạy của Phật, mới mở ra một chân trời đưa đến chỗ giải thoát. Được thanh tịnh, được giác ngộ, được giải thoát hay không là từ Phật pháp, mà Phật pháp thì chính bản thân mình phải hành trì. Những năm này, tuy cái lưng đau, đi ẹo ẹo vậy đó, nhưng tôi đã tự mở ra cho mình một con đường để đi. Con đường này luôn có Thầy kề bên chỉ đạo, cho nên tôi thấy vui. Thấy vui, thấy thích rồi thì những khó khăn xung quanh không đáng kể. Khổ cũng không ngại. Cái đau của thân này, tôi khắc phục vượt qua được. Bây giờ tôi già rồi, 70 tuổi rồi, đệ tử cũng lớn, lo công việc được hết rồi cho nên tôi nghỉ ngơi. Nhưng mà cái thân bệnh lại hành tới. Mang cái thân này có sung sướng gì đâu, lúc nhỏ có những điêu đứng của tuổi nhỏ, vừa lớn lên có những rối rắm của tuổi lớn lên, khi già suy thì bệnh yếu. Nói tóm lại không lúc nào gọi là hạnh phúc hết. Không hiểu ngoài đời nói hạnh phúc là cái gì? Chưa dám hiểu. Nghiệm bản thân thì không thấy có cái gì là hạnh phúc.
Bây giờ, mình là thầy phải cố gắng tu, mình có tu mới dạy cho người ta tu. Quý vị nhớ như vậy. Chứ không phải cứ lật sách ra biểu tu vầy tu khác mà mình không tu thì nói ai nghe. Phải có tu, phải ráng tu. Tu chưa ra gì mà lỡ thân bệnh thì phải ráng nhẫn cái thân bệnh này. Cho nên rồi chung quanh chỗ nằm, bàn viết, chỗ nào cũng có thuốc. Ai cho thuốc gì cũng uống, uống tá lả âm binh đến mức bị kháng đủ thứ thuốc. Bây giờ, một cái bệnh cảm, ho, sổ mũi mà uống thuốc hoài không hết. Mình biết như vậy cho nên phải cố gắng, như lời Hòa thượng dạy: “Muốn ăn xôi thì phải chịu đấm, muốn thành Phật thì phải ráng tu”.
Con đường của Thầy hướng dẫn là con đường thiền giáo song hành, nghĩa là tu thiền mà phải học kinh luận của Phật tổ. Cho nên, Thầy dạy thiền tông nhưng cũng dạy Phật pháp. Để làm gì? Để học Phật pháp cho hiểu rồi đọ với công phu tu thiền của mình, coi có chính xác hay không. Vào thời buổi này, con đường này rất ổn, phải không? Hòa thượng có nhân duyên lớn mở ra chân trời khôi phục thiền tông Phật giáo đời Trần. Trước đây chưa có người hiểu, nhưng bây giờ người hiểu mình nhiều rồi. Ngài bệnh yếu mà vẫn có đệ tử, có người về cầu Thầy chỉ dạy, cầu học Phật pháp. Bởi vì phương pháp, đường lối của Thầy thích hợp.
Chư huynh đệ bây giờ không thể tu theo kiểu ù ù cạc cạc như thuở nào. Tu mà không biết gì hết, người ta gọi là mê tín, mê tín rồi sanh ra dị đoan, bởi vì không biết cho nên bày ra chuyện này chuyện khác. Vì vậy, Thầy dạy mình tu là phải học. Buổi sáng làm công tác, buổi chiều học. Tại Tổ đình thiền viện Thường Chiếu hay bất cứ thiền viện, tổ chức nào do Hòa thượng chỉ đạo đều áp dụng như vậy. Chư huynh đệ phải nhớ, khi người ta hỏi tại sao mình tu thiền mà phải học hoài thì biết cách trả lời. Đã học thì không thể nào là người không hiểu Phật pháp. Dù cho có dở, có tầm thường cỡ nào mà có học thì rồi cũng sẽ thâm nhập Phật pháp.
Hòa thượng dạy tiếp, phải biết thương mình, tranh thủ với thời gian, đừng dể duôi qua ngày, phải ráng tu. Được như vậy thì nhất định mình sẽ thành công. Thành công nắm chắc trong tay. Tôi biết có nhiều huynh đệ tu theo ở đây một thời gian rồi nghỉ, sợ tu kiểu này mai mốt dốt. Tôi nói quý vị đừng có sợ. Bản thân tôi là Hiệu trưởng Trường Phật học tỉnh Đồng Nai kiêm Chủ nhiệm lớp Cao đẳng Phật học tỉnh Đồng Nai, học trò nhiều lắm. Tôi ở đây dạy cho quý vị hằng ngày, sắp đặt một chương trình học như vậy mà quý vị sợ dốt là nghĩa làm sao. Quý vị phải hiểu cái ý tư trong lời chỉ giáo của Hòa thượng Trúc Lâm, rồi hiểu hoàn cảnh của mình, phải biết thương mình mà ráng học, ráng tu.
Con đường Phật đạo trải dài kiếp số, bao giờ Phật sự viên thành mới được thành Phật. Đức Phật nói rằng Ngài đã trải qua ba vô số kiếp. Chư Phật mười phương cũng dạy chúng ta phải trải qua kiếp số vô lượng vô biên. Bây giờ, chúng ta đi theo con đường đó thì phải chấp nhận, phải trải dài kiếp số. Song nếu chúng ta quyết tâm thì mỗi ngày, mỗi giai đoạn sẽ có những lợi lạc. Chúng ta tu thiền tuy chưa phải thiền sư, chưa thành tổ sư nhưng nếu mỗi ngày có công phu, có thâm nhập, có trải nghiệm thì có lợi lạc. Lợi lạc này tạo ra niềm vui, là thiền duyệt, là pháp lạc. Từ niềm vui này, chúng ta vững niềm tin đối với chánh pháp, với pháp môn. Đường đi nước bước chúng ta đã biết, cách thức hành trì chúng ta đã thông, chỉ còn một cái là chúng ta quyết tâm làm. Có quyết tâm, hành trì đúng thì nhất định chư huynh đệ sẽ thành công.
Tối hôm nay, tôi nhắc về thân phận, cuộc đời của tôi, về những khó khăn, những cố gắng của tôi trong thời gian qua. Các đệ tử còn nhỏ tuổi nghe rồi lấy đó làm kinh nghiệm để hành trì, để sống, để áp dụng cho bản thân mình. Chúc nguyện tất cả chúng ta luôn được sự hộ trì của Tam bảo, chúng ta vui, tu tiến, lúc nào cũng khắc ghi lời dạy của thầy tổ là quyết tâm tu chừng nào bằng Phật mới vừa lòng.
Khánh Tuế 27/07 Nhâm Thìn
2012.