Nhiều năm qua, chúng ta nương nơi Hòa thượng Trúc Lâm, nương công đức pháp hóa của ngài. Thầy đã tận tình thương tưởng, chỉ dạy cho chúng ta phương pháp tu hành. Suốt từ thập niên 70, tại thiền viện Chơn Không, Hòa thượng đã luôn nhắc nhở tất cả chúng ta phải cố gắng tu, tu hành miên mật để có an lạc, tiến tu không thoái chuyển.
Miên mật là gì? Miên mật là cố gắng, siêng năng liên tục, tích cực tu học. Tại sao Hòa thượng dạy như vậy? Bởi vì trong đời sống, có khi chúng ta rất siêng năng tu học, nhưng cũng có khi chểnh mảng dây dưa để rồi năm dài tháng lụn, trì trệ một chỗ, Những năm ở trong núi, chúng tôi được Thầy kề cận chỉ dạy, từ đó mới nhận ra được cách tu học siêng năng, tích cực là như thế nào. Bởi nhận ra được cho nên hầu hết chư huynh đệ học pháp với Hòa thượng trong giai đoạn đó đều gắn bó tích cực mãi đến bây giờ. Thời gian qua, trong tông môn, số huynh đệ đến học pháp với Hòa thượng rất đông nhưng vì lý do này lý do khác mà bị rơi rớt, thoái hóa dần. Đó là vì chúng ta tu chưa tích cực. Bởi chưa tích cực cho nên chưa gầy dựng nổi niềm vui nào đáng kể.
Niềm vui trong công phu tu hành rất có giá trị. Nếu niềm vui này vững mạnh thì có thể đánh tan hết mọi trở ngại, nhờ vậy chúng ta mới tiến tu, không bị thoái chuyển. Đó là lời dạy đầu tiên của Hòa thượng khi chúng tôi mới chân ướt chân ráo lên núi. Tuy rằng lúc ấy huynh đệ đã có một quá trình tu học, nhưng vì bận rộn việc này việc khác nên cũng có người ngược xuôi trong dòng chảy của cuộc đời. Nghe lời kêu gọi của Thầy, chúng tôi trở về đạo tràng, về với Thầy để tu học.
Tuy nhiên, trong lòng anh em vẫn còn bồn chồn, không an. Dù ở trong núi nhưng xét kỹ lại, cũng có khi thả trâu xuống núi hoặc cho trâu chạy rông ngoài phố thị. Hòa thượng biết rõ như vậy cho nên ngài dặn trong giai đoạn ban đầu này, mấy chú phải nghe lời Thầy, cố gắng tích cực, phải miên mật thì mấy chú mới gây dựng được một niềm vui. Từ đó, mới có thể khắc phục được, không bị thoái chuyển. Hòa thượng dạy công phu tu hành không khó cũng không dễ. Khi mê, còn lội trong luân hồi sanh tử thì tu rất khó. Chỉ khi ngộ ra, à được một tiếng thì ra là đây, thì tu không khó, rất dễ. Chúng ta nhận ra, làm quen, sống được với nó thì thành công.
Khó là khó với cái gì? Dễ là dễ như thế nào? Những dấy niệm, vọng động, điên đảo, ngược xuôi từ nhiều đời kiếp, mãi cho tới bây giờ chúng ta đã thành khẩn đối trước Tam bảo, trước các bậc thầy phát nguyện tu học, buông bỏ tất cả những vọng tưởng điên đảo này nhưng mình làm chưa được, Chúng ta còn ngược xuôi, còn vướng mắc, còn lăng xăng. Vì chưa nhận ra, chưa vào được cho nên khó yên ổn, khó vào được chỗ bất sanh bất diệt, khó mà thể nghiệm được cái giải ngộ. Rất là khó.
Vì thế, ở giai đoạn này Thầy dạy phải ngồi thiền được. Đây là công phu nổi nhất, có thể áp dụng rất năng nổ trong giai đoạn đầu. Hầu hết chư huynh đệ chúng tôi đều ngồi thiền được, ngồi rất tốt. Từ việc ngồi không nổi 15 phút mà kéo dài chịu đựng rồi cũng ngồi được một tiếng rưỡi, hai tiếng đồng hồ. Thậm chí có người ngồi nguyên buổi sáng hoặc ngồi suốt từ buổi chiều cho tới giữa đêm. Hòa thượng nói như vậy về phần ngồi thiền mấy chú đã thành công. Nhưng còn một điều hết sức quan trọng nữa, đó là như người chăn trâu thấy được dấu chân, biết con trâu ở chỗ đó mà chưa nắm mũi, chưa cột dây, chưa nắm được dây dàm, trong tay chưa có roi. Chăn trâu mà chưa nắm dây dàm, chưa có roi để trị thì khi nó nhảy, mình chạy theo không kịp hoặc khi nó không chịu đi, mình không biết làm sao để trị. Cho nên, tu tập như vậy, Hòa thượng nói là rất khó.
Đây là bước đầu để biết cái gì là vọng tưởng, cái gì là tâm thanh tịnh. Một khi đã biết được tâm vọng tưởng là tâm nào và chân tâm của mình là cái gì thì mới vào được, bước sang giai đoạn dễ. Từ đó, siêng năng hành trì, không tính thời gian, không sợ bất cứ chuyện gì xảy ra thì sẽ đến được chỗ an ổn.
Đó là hai giai đoạn mà trong những năm ở trên núi, Hòa thượng Trúc Lâm đã dạy chúng tôi. Giai đoạn đầu là cố gắng tu hành miên mật. Giai đoạn sau cố gắng chăn giữ con trâu, đừng để nó ăn lúa mạ của người khác. Đồng thời, đây cũng là lúc tập quen để nhận ra cái gì là tâm bất sanh bất diệt, cái gì là vọng tưởng điên đảo. Nhận được rồi thì Hòa thượng nói khỏi lo, công phu sẽ không thoái chuyển, tất cả những hiện tượng bên ngoài không làm gì được mấy chú.
Thời gian ở trên núi, huynh đệ cố gắng tu học miên mật, nhờ đó chúng tôi đã vượt khó, không còn ngu ngơ để rồi ngược xuôi dẫn trâu vào phố thị, không còn bị vọng tưởng kéo lôi mà yên lòng ở núi tu hành. Nhưng đó chỉ là giai đoạn đầu, chúng tôi được điều kiện tốt, nhân duyên tốt, cửa chùa đóng, cây chuông cắt, mọi tiếp xúc với bên ngoài không còn, chỉ còn tiếp xúc bằng những tơ tưởng, vọng động, nghĩ ngợi, suy niệm của chính mỗi người mà thôi. Hòa thượng lại dạy tất cả những tưởng tượng, dấy niệm; suy nghĩ, phân biệt... tất cả những cái gọi là tâm, thuộc về tâm, nó chỉ là vọng tưởng thôi, không phải là tâm chân thật của mình.
Nếu ai cho nó là tâm chân thật, tức là người đó đang sống với vọng tưởng, cũng giống như người nuôi rắn độc trong nhà, nuôi ma quỷ trong lòng không sớm thì chầy sẽ bị rắn độc cắn chết, bị ma quỷ ốp dẫn đi ngã tẽ đường tà, chừng nào mới về được đây. Nếu mình không lao theo nó, nó cũng không đủ sức kéo lôi mình, mình biết rõ nó là vọng tưởng thì mọi việc sẽ yên. Từ đó, tiến lên thể nhập, phát huy định lực, trí tuệ Bát-nhã sẽ hiện tiền.
Vâng lời Hòa thượng, huynh đệ chúng tôi càng cố gắng hơn nữa. Mỗi khi có được chút an lạc, chúng tôi trình lên Thầy thì Thầy cười, Thầy nói chưa phải đâu, cái đó chỉ là ngoài da thôi, chưa có gì đáng kể. Hãy mở rộng lòng mình ra, bình đẳng với tất cả, không dính bên này, không mắc bên kia, không bị quá khứ kéo, không bị tương lai dẫn, đến lúc đó mấy chú mới an ổn và cảm nhận được niềm an lạc thật sự.
Đến giai đoạn này, chúng tôi thấy có cái gì đó hơi khó khăn rồi. Bởi vì trong mọi thời, lúc làm việc, đi lại, tiếp khách, thọ trai, trong tất cả sinh hoạt, không lúc nào mình có thể vượt thoát tự tại. Nếu không dính bên này cũng mắc bên kia, không dính quá khứ thì bị tương lai dẫn, không hôn trầm thì cũng loạn tưởng điên đảo. Nhiều khi thấy ngồi sừng sững, cứ tưởng an ổn thật sự, công phu kiên cố, vọng tưởng không làm gì được, nhưng thật ra lúc đó đang bị đại vọng tưởng dẫn, ma mị kéo lôi lang thang khắp chốn. Ôi thôi! Thế ấy thì làm gì có an lạc được.
Đây là giai đoạn mà Hòa thượng chỉ ra cặn kẽ những vọng tình tế nhiệm ở trong lòng anh em chúng tôi. Học xong ba năm, sắp xuống núi, Hòa thượng chỉ hỏi một câu:
- Ba năm rồi, mấy chú được cái gì?
Hòa thượng dạy từ ban đầu, từ công phu miên mật, từ sự cố gắng tu tập, từ những an lạc ở giai đoạn đầu mà huynh đệ chúng tôi được nếm được hưởng nhưng cho đến lúc đó, anh em không người nào dám mở miệng thưa với Thầy rằng con được an lạc, được miên mật hay được bất cứ thứ gì khác. Khi nghe Thầy hỏi, tất cả chúng tôi đều cúi đầu, thưa:
- Bạch Thầy, ba năm qua, thật sự mà nói chúng con không có cái gì để được.
Thầy nói:
- À, như vậy cho mấy chú xuống núi.
Sau khóa tu đó, Hòa thượng cho một số huynh đệ chúng tôi trở về thăm lại người thân của mình, để rồi chuẩn bị sẽ bước thêm những bước thật vững, thật kiên cố trên bước đường hành thiền.
Hòa thượng dạy những điều mà khi xuống núi mình phải làm, phải giữ, cái ngày mà Thầy dặn phải về núi, mình phải nhớ. Nhưng mà nhớ làm sao được, hoàn cảnh của tôi lúc đó, suốt mấy năm lên thành phố, học ở học viện, rồi vào trong núi, có khi ở nhà mẹ tôi không biết tôi ở đâu, đang làm gì tu học ở đâu, thầy của tôi là ai. Giai đoạn này đất nước chưa được yên ổn, cho nên khi xuống núi thì tôi mau mau trở về thăm lại quê hương, thăm mẹ và một số những người thân còn sống sót trong giai đoạn đất nước chiến tranh.
Một tháng xuống núi sao mà nhanh quá, công việc ở Thủ Đức chưa rồi, trở ra Đà Lạt thăm những người thân quen cũng chưa kịp, về quê thăm mẹ cũng chưa sắp đặt được. Lúi húi đã sắp đến ngày về mà những việc Thầy dặn thì tôi chưa làm được gì cả, bây giờ trở về núi thì trong lòng xốn xang, bất an. Cho nên, đến chiều tối của cái ngày về núi mà Hòa thượng đã định riêng cho tôi, tôi mới lững thững về tới cổng thiền viện. Hòa thượng đang ngồi chờ. Ngài biết chiều tối hôm nay, dù sớm hay muộn gì thì thiền sinh này cũng phải trở về núi. Vì nếu tối hôm nay không về được thì không giữ đúng như lời Thầy đã dạy, coi như tự ý xé hợp đồng, không lên núi được.
Quả thật, khi về đến phương trượng thì thấy Thầy đang ngồi chờ. Thầy nghiêm mặt, nói một câu:
- Tôi ngỡ rằng chú không lên núi nổi nữa rồi.
Đảnh lễ Thầy, tôi thưa:
- Bạch Thầy, con cố gắng. Bởi vì con đã hứa rằng đời này con nhất quyết theo Thầy, nhất quyết học theo pháp môn mà Thầy đã chỉ dạy.
Tôi cũng thật tình thưa:
- Bao nhiêu năm qua, tuy rằng con là học trò, có học được chút ít, cũng có an lạc chút ít nhưng khi xuống núi, con hoàn toàn thua.
Giống như một chàng tráng sĩ qua bao nhiêu năm theo thầy tổ rèn luyện và tu học ở trên núi. Một hôm, thầy cho xuống núi, ban cho gương mê ngộ và kiếm trí tuệ, dặn rằng cái gương mê ngộ này, con dùng nó soi rọi để biết đâu là thật, đâu là không thật, cái gì là ma, cái gì không phải là ma. Kiếm trí tuệ này, con phải giữ cho nó thật bén nhạy, những gì không đúng với giải thoát, không đúng với tinh thần của Phật đạo thì con phải cho nó một nhát đứt làm hai đoạn.
Nhưng mà, tôi là một hiệp sĩ có nhận kiếm, có nhận gương mê ngộ nhưng xuống núi thì chỉ soi rọi người mà quên tự soi mình. Cho nên khi về tới núi, bị quở một câu, mới nhớ lại, lấy gương mê ngộ ra rọi lại mình thì ôi thôi, bụi bặm, đất đai, không ra thể thống gì hết. Còn kiếm trí tuệ thì đã gãy mất rồi, không còn chặt chém cái gì được nữa. Chỉ đành cúi đầu lễ tạ Thầy, nguyện theo Thầy, nhốt mình trong núi rèn luyện thêm một thời gian nữa. Đó là những dấu ấn trong đời tu hành mà tôi không thể nào quên được.
Cho tới bây giờ, những người huynh đệ còn lại không có bao nhiêu. Một vị sư huynh là Hòa thượng Phước Hảo, một vị huynh trưởng là Hòa thượng Đắc Pháp, bây giờ các vị này cũng đã lớn tuổi. Tôi thì xấp xỉ bước vào giai đoạn thất thập cổ lai hy. Tuy tuổi tác thua xa chư huynh đệ lớn nhưng bệnh tật thì liên miên. Công việc quá nhiều, bệnh tật nhiều, có những lúc hết sức lao tâm, bị lao nhọc nhận chìm cho nên trong đời sống hằng ngày, việc tu học không tiến triển được.
Có người nói với tôi: “Nếu Thầy nói như vậy thì làm sao dạy Phật tử, vì dạy Phật tử tu mà Thầy nói tu không tiến được thì sao Phật tử dám tu”. Tuy nhiên như vậy, trong những cái khó khăn đó, nếu chúng ta gắng gổ công phu, công phu miên mật thì chúng ta sẽ gầy dựng được một niềm vui, mới có thể đi đến cùng, đi đến giai đoạn viên mãn cuối cùng của một người tu. Đó là cơ sở của một niềm tin bền vững vào tâm mình.
Hồi xưa, Hòa thượng Trúc Lâm thường kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện về hai vị Tăng trẻ, sau một thời gian dài tu học trong một đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh, các vị này được cho xuống núi để đi hoằng pháp lợi sanh. Khi hai vị xuống túi, đi tới đâu cũng có một người đi trước quét dọn đường rất sạch sẽ, một người đi sau luôn miệng ca tụng công đức của hai vị không ngớt, nói hai vị là những bậc trưởng thượng, thanh tịnh, giác ngộ.
Nhưng không bao lâu, sau khi làm xong tất cả các công việc mà sư phụ giao phó, hai vị trở về núi thì sự việc đã khác. Trước mặt hai vị luôn có một người chỉ thẳng vào mặt hai vị, buông ra những lời thống trách rất nặng nề, chê hai vị là người không ra gì, là người đã bỏ quên tất cả, không xứng đáng trở lại nhà xưa, đằng sau lại có một người lấy chân chà sạch những dấu chân hai vị vừa đi qua. Hai vị này chỉ xuống núi một thời gian ngắn thôi, nhưng khi đi thì hào quang rực rỡ, lúc trở về lại gặp vô vàn khó khăn. Đó là một hình ảnh khiến tôi nhớ mãi.
Hôm nay, tôi đem những điều được tu học trong giai đoạn đầu ở thiền viện Chơn Không và trong quãng thời gian khi mới về Thường Chiếu, trình bày đến toàn thể chư Tăng Ni Phật tử. Chúc nguyện tất cả luôn được an lạc, khỏe mạnh, làm tròn bổn phận một cách xứng đáng và tu học cho đến ngày viên mãn. Chúc tất cả thành công.
Khánh Tuế 27/07 Canh Dần
2010.