Thiền Tông Việt Nam
Câu Chuyện Đầu Đời
25. Cửa Vào Chơn Không

Vừa rồi, qua lời trình bạch của chư huynh đệ, tôi thấy năm này quý vị có chút trưởng thành, đã nói lên được những cảm nhận của mình về ơn đức của Tam bảo, của Sư cụ Trúc Lâm.

Nói đến Sư cụ Trúc Lâm, riêng cá nhân tôi thấy rằng quả thật thầy trò mình có duyên nhiều đời, kết chủng Phật nhiều đời, chứ không phải chỉ trong một đời này. Cũng vậy, từ những nhân duyên lành mà thầy trò chúng ta đã kết duyên với Phật pháp, hôm nay được duyên lành ở trong pháp hội của Sư cụ Trúc Lâm, được sự hộ trì của mười phương các bậc Hiền thánh, lịch đại Tổ sư, sự hỗ trợ của chư thiện hữu tri thức, của đàn-na thí chủ, chúng ta yên lòng vâng lời thầy tổ dạy tu học, từng bước thành tựu tâm nguyện xuất gia, theo Hòa thượng Tôn sư học thiền, tu thiền.

Tôi nhớ năm xưa, cũng không biết nhân duyên gì một số anh em chúng tôi được chọn vào khóa học ba năm tại thiền viện Chơn Không. Trong ba năm này, mọi việc làm của Thầy rất khiêm nhường. Một số Phật tử là những vị thân tín ủng hộ cho Thầy tu học từ trước ở Phật học đường Nam Việt và trong các công tác của Giáo hội, nghe Thầy mở thiền viện dạy chúng tu thiền, họ lên thăm viếng. Như nhóm Phật tử Nam Thành, bà Hiệp và một số các vị trong ban bảo trợ của Phật học đường Nam Việt.

Sau khi khai giảng, họ lên thăm, thấy sự sắp đặt của thầy trò chúng tôi quá đơn giản. Đơn giản là một cách nói, nói cho đúng hơn là thiếu thốn trăm bề. Thiếu nhất là nước. Ở trên núi ngộ lắm, có khi trời chuyển mưa khắp nơi nhưng ngang qua núi thì không mưa. Cũng có khi bất thần một cơn mưa, nhưng là mưa rào. Nhóm Phật tử Nam Thành lên thăm, thấy tình trạng như vậy mới tính xây một cái hồ chứa nước, đủ xài cho chư Tăng trong viện. Trên núi chi có chừng hơn chục người thôi, ông tính mỗi ngày một người xài bao nhiêu nước rồi nhân lên, xây cái hồ chứa nước cho đủ. Nhưng xây hồ vừa đủ nước như thế vẫn chưa đảm bảo, phải xây thêm một cái hồ phụ để hỗ trợ cho hồ chính. Cho nên, có thể nói những ngày đầu ở Chơn Không rất rộn ràng, tuy rằng cửa ngoài khóa, mỗi lần vào phải kéo dây chuông. Phật tử đến yêu cầu tụng niệm hay cầu an cầu siêu gì đó, Thầy chỉ nhận cho chúng cầu nguyện tại chỗ. Nhân duyên ở trên Thiền viện Chơn Không buổi đầu là vậy. 

Mười anh em chúng tôi được bảo bọc, nuôi dạy trong môi trường như thế. Mỗi tháng một tuần lễ, từ sáng thứ hai cho tới chiều thứ bảy, chúng tôi được học Phật pháp. Lúc đầu, các Phật tử thân tín lên xin học, Hòa thượng đều từ chối, ngài nói: “Thôi, để tôi dạy mấy chú. Bây giờ, người ta nói tu thiền điên, tôi ngại lắm. Để tôi dạy mấy chú đệ tử của tôi đây, thử ba năm coi có điên không. Quý vị đợi đi, qua ba năm rồi tôi sẽ mở rộng ra”. Thầy từ chối hẳn.

Năm đó, Hòa thượng Bửu Lai là một vị tôn đức trong Giáo hội, đưa mấy người đệ tử lên. Vì tình pháp lữ trong Phật học đường Nam Việt, Hòa thượng ở lại Chơn Không mấy hôm, nhưng khi ngài trình bày muốn gửi một người đệ tử vào dự khóa học thì Thầy nói: “Thôi Hòa thượng ơi, có thương tôi thì để cho tôi giữ tròn thanh quy ở đây”. Thầy từ chối dứt khoát như vậy.

Mùa hạ đầu tiên, có một số vị rời khỏi thiền viện Chơn Không, Thầy vẫn bình yên. Quý Sư bà, Ni sư ở thành phố nghe tin như thế lên thăm, xem Hòa thượng có buồn có lo gì không. Ngài vẫn vui vẻ tự nhiên. Hòa thượng nói người nào hết duyên muốn lui thì cho lui, còn người nào đủ duyên ở đây thì tạo điều kiện cho họ tu, phải dạy tu đúng với quy chế. Hồi này chưa có thanh quy, chỉ mới có quy chế được hình thành từ nội quy của trường. Sau đó có bản quy ước, đến khi mãn khóa mới tu chỉnh lại thành bản thanh quy của thiền viện.

Lúc mới vào viện, mọi thứ nhẹ nhàng và giản dị lắm. Tôi nhớ mùa xuân đầu tiên ở Chơn Không, sáng mùng một thầy Phước Hảo nói: “Bây giờ mình phải có lễ chúc xuân”. Thầy bảo tôi sắp đặt khay lễ. Mấy anh em bưng khay lễ đi qua vườn chùa, mai rừng nở rộ, thơm ngào ngạt. Thầy Đắc Pháp nói: “Phải để vô mấy đóa mai”. Anh em hái một chùm hoa mai để trong cái chum nước, rồi bưng vô. Lên thất, thỉnh Hòa thượng ngồi, anh em đảnh lễ. Thầy Phước Hảo đại diện mừng tuổi Thầy. Thầy vui vẻ, nói: “Ờ, tốt”. Thầy chỉ cái chum nước, chỉ mấy đóa mai. Thầy Đắc Pháp liền đại diện dâng lời chúc mừng: “Sáng sớm mùa xuân, một đóa mai nở rực, hương thơm ngào ngạt, chúc mừng Thầy năm mới”. Giản dị vậy thôi. Rồi Thầy nói: “Thôi, về nghỉ”. Giản dị như thế.

Chư huynh đệ nhớ, chúng ta càng có thời gian tu học thì càng rườm rà, mà rườm rà thì mất tâm. Tổ Tăng Xán đã dạy như thế. Chư vị tổ sư gầy dựng thiền tông Phật giáo Việt Nam, luôn dạy chúng ta phản quan tự kỷ bổn phận sự, tức là tập trung phát huy trí tuệ, rồi đến “khước vật bất tùy”, cũng là sống với trí tuệ. Sống với trí tuệ thì cảnh duyên bên ngoài không dính dáng. 

Chư tôn đức Tăng Ni huynh đệ có thấy mình càng tu càng dính dáng không? Mình càng lớn lên càng bận rộn nhiều. Hầu hết các vị ở đây đều là những vị trụ trì, giáo thọ hoặc đang làm các công tác Phật sự ở nơi khác, không vị nào được nghỉ ngơi, được khỏe khoắn như anh em chúng tôi vào những năm đầu tiên ở Thiền viện Chơn Không. Có thể nói anh em được một hạnh phúc giản dị, là ba năm ở núi không tiếp xúc với ai, không cầu an cầu siêu, cổng chùa khóa.

Khách đến kéo dây chuông, đúng việc thì cho vào. Chỉ tiếp khách 15 phút ở bàn đá bên ngoài. Nói bàn đá chứ thực ra chỉ là một tấm đá, với vài tảng đá nhỏ xung quanh để ngồi. Thầy Tri khách đặt sẵn cái đồng hồ, nói gì đó trong vòng 15 phút thôi, thấy thầy cầm đồng hồ lên là biết hết giờ rồi, đứng dậy, quay lưng đi thắng lên đồi Tự Tại, không ngó lạ. Nhẹ nhàng, thống khoái, giản dị, bình yên làm sao. Đặc biệt là có nhiều thời gian để tu.

Chư huynh đệ phụng sự chánh pháp, phụng sự chúng sanh nhưng quả thực ai nấy đều không có thời gian để tu, chúng ta bối rối trong sự đa đoan đó. Có vị nào làm trụ trì, đang xây dựng chùa trong những vùng sâu vùng xa mà rảnh rỗi đâu. Ngày xưa. huynh đệ còn ở đạo tràng của Hòa thượng Trúc Lâm thì Phật tử biết, tới ủng hộ. Bây giờ về chỗ xạ xôi hẻo lánh, đâu có ai biết, cho nên phải chạy vạy, mất thời gian lắm, việc tu học cũng bị tổn giảm. Làm được một Phật sự, có phước nhưng về tu hành bị tổn giảm.

Đây là chỗ chư huynh đệ phải chấn chỉnh, nếu không mình càng tu càng bị tổn giảm, vì công việc càng ngày càng nhiều. Những gì ảnh hưởng đến đời tu, cái đầu của mình bị động bởi việc này việc khác thì phải chấn chỉnh liền. Chư huynh đệ phải tự ý thức nhân duyên, phúc báo của mình, ý thức những công tác Phật sự chúng ta đang chịu trách nhiệm để không đánh mất mình, để lo tu, để tin tâm mình và thành tựu được tâm nguyện tu hành. Chúng ta cố gắng như vậy. 

Trên bước đường tu hành, bất cứ việc gì cũng căn cứ từ trí tuệ và duyên lành của mình. Tôi nhớ hồi tôi chỉ là một chú tiểu trong quê, ở trần, mặc quần đùi, đi học ở trường đình thôi. Hồi đó, hầu hết những đứa trẻ cỡ tuổi tôi đều được học ở trường đình. Tại chùa mấy thầy lớn cũng mở một lớp dạy trẻ em. Lớp học này đông lắm. Ngoài ra, một số vị giống như thầy đồ tới dạy thêm thứ này thứ kia. Cho nên, tuy nói trong quê nhưng phát triển rất rầm rộ đa diện.

Tôi nhớ hồi đó, có một ông thầy ốm nhom, quê Bình Định, đến ở trong chùa. Chiều chiều, ông mở lớp dạy võ. Cái món này mấy anh thanh niên khoái lắm, cả mấy cô gái cũng mê nữa, nhưng ông nói tôi không dạy con gái, chỉ dạy cho mấy anh thanh niên thôi. Chiều nào, sau giờ tụng kinh, thầy trò cũng ra sân múa võ vù vù.

Kế đó lại có ông thầy tới dạy chữ Nho, dạy nhân nghĩa. Hòa thượng trong chùa nói nhân, nghĩa, lễ, trí, tín là cái gốc của dân tộc Việt Nam, gốc của đạo dân tộc tức là đạo Phật. Dù ở Tây Ninh đạo Cao Đài phổ biến hơn, nhưng đạo Phật vẫn là cái nền tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Tôi vừa học ở chùa, vừa học chạy ở đình, học hoài học mãi vẫn là đứa nhỏ quê mùa.

Năm 13 tuổi tôi về Sài Gòn, lúc đó mới chính thức được đi học. Rõ ràng làm sao biết trước được nhân duyên của mình thế nào, từ nhân duyên đối với Phật pháp, với Tam bảo dẫn đến như thế. Hòa thượng Trúc Lâm nói mình tu không khéo thì bị nghiệp dẫn, ở đây mình có duyên với Phật nên được trí dẫn. Mình không bỏ đạo mà từng bước được học ở các trường lớp. Đến năm 15 tuổi, tôi bắt đầu có suy nghĩ, biết mình là đứa nhỏ ở quê xuống, nghèo khó, thiếu thốn, không bà con dòng tộc gì cho nên ráng học. Phật tử thương họ giúp đỡ, rồi thầy trong chùa cũng thương cho đi học. Tôi ráng học, học ngày học đêm. Công việc chùa xong rồi thì học, không đợi thầy nhắc, học cho kịp với tuổi tác của mình.

Đến năm 16 tuổi, tôi lên đạo tràng Vạn Đức. Từ đạo tràng Vạn Đức, Hòa thượng Chủ tịch ký giấy gửi đi học Phật học đường. Mấy năm đó tôi học cùng lúc hai chương trình, vừa Phật pháp vừa thế pháp. Tốt nghiệp ở Học viện Phước Hòa, cũng giống như các vị tốt nghiệp Trung cấp bây giờ, bấy giờ tôi cũng tốt nghiệp luôn chương trình phổ thông bên ngoài. Trong khóa đó, anh em chúng tôi có trên 40 đứa, nhưng thư ký xét lại thì những người đã tốt nghiệp lớp 9 chỉ khoảng chừng hai phần ba, còn lại chưa học xong lớp 9. Những vị chưa tốt nghiệp đa số từ các miền quê ở xa tới, lớn tuổi, có đạo hạnh, có công đức, nhưng học vị thì không bì được mấy đứa nhỏ.

Học chung với nhau, tôi thấy rõ hai phần ba anh em học rất đều, nhưng khoảng chừng một phần ba các vị lớn tuổi cố gắng nhiều lắm. Rất đáng nể. Nhớ năm đó, không biết là tôi được lãnh phần thưởng gì mà có một cuốn từ điển Đào Duy Anh. Hồi đó chưa có tự điển Thiều Chửu. Trong lớp, một anh người Quảng Ngãi lớn tuổi hơn tôi nhiều, cũng muốn có một cuốn. Mấy anh em nói anh ráng học đi, cuối năm học có khi Phật tử mua thưởng cho. Anh nghe vậy, cố gắng học. Cố gắng lắm. Quả thật cuối năm đó anh được phần thưởng. Có những anh em tuy không sáng sủa lắm nhưng cố gắng, cương quyết, dứt khoát thì nhất định học tiến học thành. Phật tử biết nhu cầu của học tăng trong trường cần từ điển, cho nên họ tập trung sắm cúng dường.

Tôi nói lên điều này để nhắc nhở chư huynh đệ, người tu phải cương quyết, dứt khoát, quyết tâm như vậy thì nhất định thành công. Như người huynh đệ trong lớp học của tôi ngày xưa ở Học viện Phước Hòa đã thành công như thế. Ngày lãnh từ điển anh mừng lắm, thật sự là rất mừng. Chúng tôi xúm lại vỗ tay chúc mừng. Huynh đệ đùm bọc tương trợ nhau trong cuộc sống, trong tu học.

Nếu chúng ta có duyên lành với Phật pháp, thì dù ở ngoài đời cũng sẽ có duyên lành hỗ trợ, ở trong đạo cũng có duyên trong đạo, hoặc gặp được các bậc thầy tổ, các thiện hữu tri thức. Năm đó gần mãn chương trình, tới ngày nghỉ một số anh em ở miền trung muốn về thăm quê, mà không có tiền. Phải làm sao? Ai có cây viết hay đồng hồ gì đem ra đấu giá. Như anh kia nói đồng hồ này 50, anh khác trả 60, rồi có anh nói để tôi 70, cuối cùng tăng lên 75, 80 gì đó thì bán. Lấy tiền đó ủng hộ cho mấy anh em ở quê xa. Chúng tôi phải tìm cách tương trợ nhau như thế.

Bây giờ, chư huynh đệ có Tam bảo, có các bậc Hiền thánh gia bị, có Hòa thượng Tôn sư, có Phật pháp, có tất cả những duyên tốt để tu hành, chúng ta thương đùm bọc nhau. Linh Sơn cốt nhục như thế thì con đường Phật đạo nhất định thành tựu, việc tu học nhất định thành công. Chư huynh đệ phải cương quyết, cùng hỗ trợ động viên, ai nấy đều tỉnh giác đi thắng một con đường, làm tốt tất cả các Phật sự, để viên thành Phật đạo.

Nhìn lại chư huynh đệ mỗi người có nhân duyên riêng, một số vị đã có tuổi rồi. Mấy thầy thuốc đông y Việt Nam hay nói người Việt Nam ngoài 40 tuổi đều có bệnh, đa số là đau nhức thấp khớp. Lời này gần như là chân lý đó nghe. Tôi nói như thế vì hồi xưa tôi có học ngành y ba năm. Tôi có thử thuốc, biết vị thuốc, viết được các vị thuốc bằng chữ Hán và cũng có học một chút về chẩn mạch. Người Việt Nam chúng ta đa phần làm nông, công việc nặng nhọc, phải dãi nắng dầm mưa, cho nên chừng hơn 30 tuổi là nghe cái xương sống rêm rêm. Chúng ta phải biết bảo vệ, điều tiết như thế nào đó để có sức khỏe mà tu. Phải có sức khỏe mới tu tốt, làm tốt các Phật sự.

Hòa thượng Tôn sư khi mới lập giáo có nhiều khó khăn lắm. Nội việc Thầy quyết tâm khôi phục Thiền tông cũng là đã trái với sự sắp đặt của Hòa thượng Sư tổ rồi. Việc tu học không hề đơn giản, chúng ta phải cương quyết, đầy đủ duyên lành, khéo léo gìn giữ, bảo vệ thì mới thành tựu được. Chư huynh đệ ai nấy đều có cái khéo, có nhận định chín chắn thì tôi nghĩ nhất định chúng ta sẽ thành công.

Bây giờ tôi bệnh hoạn, lưng đau rồi. Đó là điềm báo lão tử. Mình chuẩn bị cho cái ngày ấy, xem coi đã tự tại chưa? Hòa thượng Trúc Lâm thường hỏi mấy chú làm chủ được chưa, trong cái đêm 30 tăm tối có đủ sức đối đáp với Diêm vương không? Biết chưa đủ sức thì phải ráng, không thể lúc đó cầu thầy khai thị hay nhờ huynh đệ hộ niệm được. Huynh đệ ở xa, bận việc, đợi mấy ông từ ngoài Bắc, ngoài Trung tới đây hộ niệm thì chết mất rồi, phải không? Tự mình gắng lên, nhớ thâm ơn Phật pháp, ơn pháp hóa của thầy tổ mà ráng làm tròn bổn phận. Mọi người cùng chung lưng đấu cật để bảo vệ, gầy dựng và giữ vững tông môn, làm lợi ích chúng sanh.

Đêm nay, chư huynh đệ đã có duyên ngồi lại với nhau, nói lên được những điều trong lòng mình, về Phật pháp và các Phật sự của mình. Bây giờ với tư cách là thầy, tôi nhắc nhở những gì chúng ta nói được thì phải làm được. Đó là cái chất của người con Phật, là tư cách của người tu hành, bổn phận của một người xuất gia đệ tử đức Thế Tôn, là học trò môn hạ của Sư cụ Trúc Lâm.

Hòa thượng dạy biết thương mình ráng tu và tu thành Phật mới ưng. Một câu nói nghe giản dị nhưng thực hiện không phải dễ. Thành Phật như thế nào, đó mới là vấn đề. Mình không chạy theo vọng tưởng, không bị vọng tưởng dẫn, định tuệ hiện tiền, sống được với ông chủ, đó là nhân thành Phật. Con đường Phật đạo dài lâu, tu vô lượng vô biên kiếp, đức Thế Tôn cũng nói Ngài trải qua ba vô số kiếp, một vô số kiếp đâu ai biết được là bao lâu phải không? Đâu phải dễ dàng. 

Tôi nhắc lại, chúng ta không bị vọng tưởng dẫn, không chạy theo vọng tưởng, sống được với ông chủ, định tuệ hiện tiền. Sống được với trí tuệ vô sư, điều này chúng ta làm được. Mong toàn thể chư huynh đệ hoan hỷ, cố gắng. Đó là lời gửi gắm chân thành của tôi. 

 

Khánh Tuế 27/07 Kỷ Hợi

2019.

Mục Lục