Thiền Tông Việt Nam
Câu Chuyện Đầu Đời
6. Vâng Lời Thầy Dạy

Trên bước đường tu học, có một thứ mà chúng ta muốn tháo gỡ, muốn vứt bỏ, muốn quăng nó đi thật xa để không vướng mắc với nó nữa nhưng nó cứ dính trên lưng chúng ta hoài, đó là phiền não. Phiền não làm tóc mau bạc, làm ánh mắt già đi, sâu hoắm, khiến thân thể ốm o, gầy gò, ăn không ngon, ngủ không yên và có khi nó còn làm cho người ta lãng quên dần rồi xa đạo. Tác hại của phiền não vô cùng lớn. Vì vậy, người tu Phật phải cố gắng đừng để chú phiền não này ngủ ngầm rồi tác quái thì mới yên ổn mà tu hành.

Người xưa giải thích, chữ phiền có bộ hỏa kề cái đầu cho nên phiền là một loại lửa, gọi là lửa phiền, lửa đó đốt trên đầu chúng ta, đầu mà bị lửa đốt thì rất khó chịu. Não là tâm bị vùi dập, xáo trộn, khi này ta không biết được tâm chúng ta đang ở đâu, là cái gì, nên đụng cái gì cũng thấy bức xúc, khó chịu, trái tai gai mắt. Trạng thái bức não này hợp tác với loại lửa đốt đầu ở trên khiến chúng ta đau đớn, khổ sở. Chúng ta phải tỉnh, biết những thứ làm chúng ta khổ, không chấp nhận nó, để gầy dựng cho mình một niềm vui. Nếu chúng ta có tâm sáng suốt, tỉnh táo, kiên quyết, tích cực trong việc học đạo thì không có một chút phiền não nào léng phéng khiến chúng ta bỏ giờ học, không lên lớp hoặc gây cho ta những trở ngại trong lúc học đạo.

Phiền não chẳng là gì nhưng nó làm chúng ta mau già, tóc mau trắng. Bằng chứng như bản thân tôi, hai bên mái đầu đã trắng nhiều, trên đầu cũng điểm trắng. Tôi không biết cái gì làm cho nó trắng nhưng những đêm vất vả, những công việc nhọc nhằn, những điều chưa vừa ý, tất cả những cái đó dường như có tác động mạnh làm cho tóc tôi bạc màu. Các đệ tử xung quanh nhìn cười nói: “Thầy già rồi”. Phải, tôi già rồi. Phương pháp Phật dạy thì nhiều, học hiểu, hành trì cũng nhiều, có thời gian thể nghiệm đầy đủ nhưng phiền não vẫn cứ phiền não. Phiền não có dữ dằn lắm không mà sao nó dính dai, mắc mứu nặng nề đến vậy, không buông được.

Chúng ta dễ phiền não quá, vừa nghe một lời hơi mếch lòng, thấy một cử chỉ gì không vừa ý là phiền não. Bất cứ thứ gì xung quanh cũng có thể làm ta phiền não. Trong chúng ta đây, ai đuổi được tất cả phiền não thì đó là người hạnh phúc nhất. Bồ-tát Di Lặc luôn hoan hỷ, vì ngài sạch hết phiền não cho nên ngài cười suốt như vậy. Còn chúng ta dễ cáu, dễ giận, bị phiền não nhập vô rồi nên gương mặt lúc nào cũng ngầu ngầu, xỉn xỉn. Có những điều chúng ta nghe chưa rõ ràng, chúng ta thấy chưa chín chắn mà cũng cứ khởi phiền não. Chúng ta dễ chấp nhận phiền não quá.

Hòa thượng nhắc: “Mấy chú chớ cho phiền não là mình. Phiền não không phải là tay chân hay đầu mặt gì của mấy chú, nó là loại cỏ rác, mấy chú lượm nó để vào trong bị, trong túi nên bây giờ nó làm mấy chú khổ. Ráng bỏ, ráng buông nó đi, đừng để nó tác động nữa”. Thầy dạy bỏ, dạy buông mà sao buông không được, bỏ không ưng, chỉ bỏ được chút chút thôi. Ví dụ năm rồi nghe ai nói gì đó trái tai, mình đùng đùng nổi giận mà mặt mày nhăn nhó, khó coi. Nó không tác động ra bên ngoài mà chạy dội vào bên trong, làm mặt chúng ta đỏ lên, má phình ra, cổ nổi gân guốc, tai hại vô cùng.

Do vậy, chúng ta nên bỏ phiền não. Phải tỉnh, phải sáng, đừng để nó dẫn đi nữa. Chúng ta không chấp nhận nó, không chạy theo nó, nó không đủ sức kéo lôi chúng ta thì mới buông được. Còn một chút gì lay động, bị nó kéo, nó sai suyển thì không buông được đâu. Có khi ở chỗ đông người mình buông được nhưng tối về nằm một mình, gác tay lên trán thì ôi thôi, đầy ắp cả một bụng phiền não. Chúng ta nên nghe lời Phật dạy, cố gắng bỏ để làm chậm bớt những sự cọ xát khiến chúng ta còm cõi, già nua. Thắng được một phiền não thì sự cọ xát bớt một phần tác dụng, mình sẽ trẻ hơn.

Trong kinh Đại thừa, các vị đại Bồ-tát được gọi là Đồng tử, Đồng chơn, là những đứa bé đồng nam đồng nữ còn trẻ măng, xinh xắn. Trên thế giới này ở đâu đó cũng có những con người không có phiền não nên nhìn họ rất trẻ. Họ biết cách trị được phiền não, rất tiếc là chúng ta không được gặp. Ở đây, Hòa thượng Tôn sư dạy chúng ta buông bỏ phiền não, chúng ta cố gắng buông để được yên, được tươi, được ngủ ngon và làm tròn những công việc mà chúng ta đang chịu trách nhiệm.

Kế đó, chúng ta phải giữ giới. Có những lần tôi được hầu Hòa thượng ở đây, ở thiền viện Chơn Không hoặc ở các nơi khác, cứ mỗi khi Hòa thượng làm Lễ quy y cho Phật tử thì Hòa thượng đều nhắc: “Các Phật tử giữ được những điều giới mà hôm nay quý vị hứa thọ là quý vị đang tu và biết tu đúng chánh pháp”. Do đó, tôi xin đề nghị chư huynh đệ, các pháp hữu phải thật thà, tự biết mình và giữ cho tròn những điều giới mà mình đã hứa thọ. Bên Tăng có 250 giới, bên Ni có 348 giới. Ngoài ra, càng lớn lên, có sự gặp gỡ, quen biết, tiếp cận với cuộc sống xung quanh thì lại càng có thêm nhiều điều giới khác mà người xuất gia phải giữ cho tròn.

Nhớ hồi xưa, chùa Xá Lợi đem quả chuông đặt gần cổng tam quan, gióng được một thời gian thì bị người dân xung quanh thưa kiện. Hội hữu Hội Phật học phải đi hầu tòa. Tưởng chuyện gì, hóa ra là mấy ông gióng chuông sớm quá, người ta ngủ không được. Họ nói: “Mấy thầy tu thì tu, chứ làm gì mà ồn ào quá”. Họ không chịu. Cho nên, mình phải làm sao để thích ứng, hòa hợp, vui vẻ với người ta mà mình vẫn tu được. Chứ không phải hòa hợp, thích ứng rồi mình cũng như họ. Tiếng chuông thâm trầm, vi diệu, cao quý, cảnh tỉnh con người vẫn được gióng lên mà không có tác động ai, không bị tác động bởi cái gì hay ở đâu hết. Cái này khó chứ không phải dễ.

Như mấy người ở gần chùa mà không chịu kiểu của mấy thầy, thấy mấy thầy chạy xe ra cổng nhanh một chút thì họ nói: “Thầy chùa vậy đó nghen”, thấy mấy thầy đón xe mà đứng không nghiêm trang thì nói: “Thầy chùa mà vậy đó”. Tóm lại, ngoài những giới điều căn bản mà chúng ta đã được thọ ở giới trường, còn có trăm ngàn các điều giới khác nữa, làm sao giữ cho tròn? Do vậy, bước ra ngoài là bị chửi, bị chửi riết rồi quen, có khi lì đi. Nhưng rồi từ những sự tiếp cận, cảm nhận đó, chúng ta phải xoay lại để tìm ra cách trị những cái khuyết, bỏ những cái dở để rồi chúng ta làm tròn, vui vẻ với tất cả.

Những điều chúng ta đã thọ, đã hứa trước mọi người, trước Tam bảo, trước Phật thì chúng ta phải gìn giữ, đừng bao giờ có một chút gì không thật thà ở chỗ này. Ví dụ như trong luật có nói một vị Tăng không được vừa đi vừa chạy, luật không cho phép như vậy thì dù cho bị nước ngập, bị lửa đốt… còn có thể giữ được oai nghi thì cố gắng giữ, đi như trâu, nhìn như cọp. Con trâu đi thì bước từng bước chắc chắn, con cọp nhìn thì nhìn sững, chứ không láo liên như khỉ vượn.

Đó là những điều hết sức thông thường nhưng có khi chúng ta quên, không giữ được. Bởi giữ không tròn cho nên giữa mình và mọi người xung quanh không vui. Không vui thì mình mau già, những Phật tử, bạn đạo, bà con láng giềng xung quanh chùa cũng mau già. Tội nghiệp cho họ lắm. Có ai muốn mau già đâu. Ai cũng chải chuốt, sửa soạn, muốn mình trẻ mãi, chứ không ai muốn mỗi lần soi gương lại thấy mình nhăn nhó, mắt ngầu lên, miệng lệch một bên.

Ngày xưa, có một quãng Hòa thượng dạy: “Sao chú không học thuộc lòng mấy bài ngâm, mấy bài ca, để khi nào ngồi một mình hoặc có dịp gì đó thì ngâm lên, đọc lên những bài ca đó. Những bài ấy có đạo vị, có thể kích dương, khiến người ta hướng về Tam bảo. Nhớ những bản nhạc gì đó ở ngoài đời để làm gì, trong đạo của mình có bao nhiêu lời hay”. Lúc đó, tôi mang Chứng Đạo Ca ra học, rồi học đến Tín Tâm Minh cùng một loạt những câu kệ trong kinh Thủ Lăng Nghiêm và kinh Hoa Nghiêm. Học riết rồi bù đầu bù óc, nhớ lộn xộn kinh nọ qua kinh kia, Chứng Đạo Ca rồi Tín Tâm Minh gì đó loạn xà ngầu.

Thời gian sau, tôi được Hòa thượng cho nhập thất lần đầu tiên. Hồi đó, ba người chúng tôi gồm có đại huynh Phước Hảo, đại huynh Đắc Pháp và tôi, được Hòa thượng sắp đặt cho luân phiên nhập thất ba tháng. Trong khoảng thời gian đó, có một lần tôi bị mất ngủ, gần như muốn khùng. Cứ giăng mùng lên, nhắm mắt lại mà không ngủ được, một tháng dài như vậy. Hòa thượng lo hết sức, chống gậy đi lên đi xuống thăm. Mấy huynh đệ dưới nhà bếp đưa hết thuốc này đến thuốc kia lên, uống hoài cũng ngủ không được. Hòa thượng biết, chỉ mấy quyển kinh trong kệ thờ, hỏi:

- Chú có đọc sách gì không?

Tôi thưa:

Dạ, bạc Thầy, con không dám đọc, con mất ngủ.

Thật ra đâu có dám nói với Thầy rằng ba cái thứ trong Tín Tâm Minh, Hoa Nghiêm, Thủ Lăng Nghiêm nó cứ nhào trong này. Nhắm mắt, mở mắt gì cũng thấy hết. Mà không biết tại sao, cứ nằm xuống nhắm mắt thì nhớ lại chỗ đó, thấy hay quá rồi bắt đầu kéo ra. Cứ như thế, ngày cũng như đêm. Cuối cùng, Thầy lên thăm, dặn:

- Thôi, bây giờ chú đừng ngồi thiền nữa, cứ đóng cửa nghỉ đi.

Qua chừng đâu hơn một tháng, bữa đó mới ăn cơm trưa xong, đang ngồi bình thường, bỗng như nhận ra cái gì đó, thế là tôi dẹp hết, nằm xuống, chợp mắt được một lúc. Mừng quá. Đến chiều, Thầy lên thăm, Thầy hỏi:

- Sao rồi, ngủ được không?

Tôi thưa:

- Dạ, bạch Thầy, hồi trưa này con thiếp được một chút.

Thầy nói:

- Ờ, được rồi, như vậy là nó sẽ hết. Đừng có lo gì hết.

Nói rồi Thầy xuống. Đúng là tối hôm đó nghỉ được một chút. Ngày hôm sau, cứ tiếp tục như vậy, tăng dần lên, nghỉ được gần hai tiếng đồng hồ, rồi lấy lại bình thường. Cái đó đâu có gì lạ, cái đó là thần kinh. Cho nên người ta nói tu thiền dễ điên là vậy. Điên vì mình không có nghe lời Thầy, mình ẩu. Thầy dạy đừng có đọc sách mà mình cứ đọc, chẳng những đọc mà còn cố đọc cho thuộc. Mình cứ đọc, cứ nhớ, cứ ngồi đó mà suy ngẫm câu này hay, câu kia giảng thế này thế nọ, riết rồi mình khùng. Học Phật pháp, đọc kinh của Phật mà không đúng chỗ, không đúng thời cũng có khi bị khùng, chứ không phải đợi tu tà ma ngoại đạo gì mới khùng.

Quãng đó tôi bướng lên, tự ý bày đặt, muốn học cho thuộc những bài Chứng Đạo Ca, Tín Tâm Minh và một lô những bài kệ, bài tán, bài châm, bài minh ở trong nhà thiền cho nên bị phát khùng một thời gian, cũng may khùng ít ít còn quay lại được, chớ khùng quá quên đường về nhà luôn thì thành ba trợn ba trạo. Tu mà không theo sự hướng dẫn, không có phương pháp thì không chỉ tu thiền mà tu pháp nào cũng điên. Cho nên tu là phải giữ giới, trước hết là phải nghe lời Thầy. Đời tu rất dài, đâu phải chỉ tu một đời này mà thành Phật được. Hòa thượng nói phát nguyện nhất định trong đời này thành Phật, nhưng Phật đó là Phật nhân. Chúng ta biết mình có khả năng đó, rồi cố gắng tu. Đời này chưa được, đời sau mở con mắt ra nỗ lực tu tiếp, trải qua vô số kiếp thì nhất định thành. Trong đời này, ráng gầy dựng cho mình một niềm tin đối với Tam bảo, với tâm mình, làm chủ được vấn đề sanh tử là quý lắm rồi.

Từ đây cho tới lúc chết mà mình không ngán gì cái chết. Các thiền sư nói chết như cởi chiếc áo hạ nóng bức, nhơ nhớp. Mình chưa được như vậy nhưng mình thấy đây là một sự thay đổi, mình đã chuẩn bị tốt cho sự thay đổi đó, vậy thì có gì để lo, để sợ. Biết chắc sau lần thay đổi này mình sẽ thăng hoa hơn, đặc biệt hơn thì có gì phải lo. Tin chắc được điều đó cũng là một bước tiến vượt bậc, là một thành công đáng kể trên bước đường tu học của chúng ta. Muốn được như vậy, chúng ta phải tuân thủ theo lời Thầy dạy. Những giáo pháp mà chúng ta học được, chúng ta phải hành. Phần kiến giải có rồi, bây giờ phải hành trì, phải thể nghiệm, phải sống thì mới biết được, mới nhận được giá trị thiết thực của Phật pháp, còn không chỉ là nói suông mà thôi.

Cuối cùng, chúng ta phải chuyển hóa thân tâm. Như trong chúng đây, có những huynh đệ khi còn làm cư sĩ công quả ở nhà khách, họ làm việc rất khỏe, ăn ngon, ngủ ngon. Nhưng trải qua một thời gian huấn luyện, được xuất gia tấn liêu làm thiền sinh rồi thì bắt đầu bệnh, bệnh thôi là bệnh. Bệnh riết rồi không đi tụng kinh nổi, không ngồi thiền nổi, ăn cũng không được. Không biết là bệnh gì nhưng thấy xanh xao. Đi khám bác sĩ thì nói là ruột yếu, rối loạn tiền đình đủ thứ hết. Mà sao hồi cư sĩ cách đó không lâu thì không có bệnh chi cả, vừa xuất gia làm Tăng rồi lại bệnh.

Cái nhân tố ở ngay chỗ này là do chúng ta chưa chuyển hóa được phần tâm của chúng ta. Có khi chúng ta chuyển hóa được phần thân, nghĩa là vào được nề nếp, vào trong cái khung của tổ chức, sống như vậy, tu như vậy, làm việc như vậy nhưng tâm chúng ta chưa chuyển hóa nổi. Bởi chưa chuyển hóa nên bây giờ nó gây hấn, nó làm cho chúng ta mỏi mệt. Quý vị có biết bệnh đến chừng nào không? Bệnh đến khi mình thua cuộc, mình nói: “Ôi thôi, bây giờ cứ bệnh đi, không tu nữa”, thì có lẽ chừng đó gặp được thầy, gặp được thuốc, hết bệnh. Nhưng hết bệnh rồi thành người lớ xớ, không còn tu nữa thì hết bệnh để làm gì? Đây là chỗ khó khăn. Thực tế đã có người như vậy và có khi chính mình cũng vướng vào những tình huống na ná như thế.

Hồi xưa, gặp những bệnh thông thường mình uống chừng một hai viên thuốc là thấy khá lên, bây giờ một ngày uống ba lần, sáng một lần, loay hoay trưa một lần, rồi chiều một lần nữa, chừng bảy tám viên thuốc mà chưa hết bệnh. Đi đâu đó, thị giả cũng mang theo một mớ thuốc. Cái bệnh có gì đâu mà uống thuốc hoài không hết. Tôi nhớ hồi còn nhỏ, có lần bị sốt nặng lắm. Mấy ông bà lớn tuổi, nhai rau răm, rau húng, mấy thứ rau cay cay rồi phun đại trên đầu, trên cổ, tự nhiên hết bệnh. Giống như bị ma ốp, ông phun rồi ma nó nhả ra, hết bệnh. Đâu cần uống thuốc gì. Ở dưới quê có những người bệnh bù đầu bù óc, nấu một nồi cơm thật ngon, đâm một cối muối tiêu cho cay, ăn cơm với muối tiêu một hai bữa là hết bệnh. Thuốc đó là thuốc gì?

Tóm lại, điều tôi muốn nói là do mình chuyển hóa thân tâm chưa rồi. Có khi mình chuyển được thân, nghĩa là điều hòa được cái thân, nhưng cái tâm chưa chuyển được nên nó mắc mứu, máng bên này, dính bên kia. Bây giờ, mình cố gắng làm sao chuyển hóa được cả thân và tâm. Chuyển hóa được thì chúng ta sẽ yên tu, sẽ giảm thiểu được tất cả những bệnh tật, lo lắng. Ví dụ ai có bệnh xanh xanh mét mét, ăn không được, ngủ không được, đi siêu âm bác sĩ bảo là trong bụng có khối u gì đó đang hình thành thì chắc là thôi rồi, kinh sách gì cũng cất hết, từ giã bạn bè, đời này kể như xong, không làm gì nữa. Cũng có thể dễ dàng đi đến tình trạng như vậy.

Cho nên chúng ta phải cố gắng chuyển hóa, làm chủ thân này, làm chủ tất cả những dấy niệm, những loạn tưởng điên đảo, những vọng động, chuyển hóa được tâm mình. Cứ cố gắng, chúng ta sẽ làm được, không có gì khó khăn cả. Làm chủ được thân, chuyển hóa được tâm thì thân tâm sẽ yên ổn, công phu tu hành sẽ tiến rất nhanh. Cuối cùng, mong tất cả chúng ta đều kết được chủng Phật, chủng giác ngộ giải thoát. Con đường trở về quê hương, nhanh hay chậm là tùy mình. Chúng ta cố gắng gầy dựng, bảo vệ và phát huy cái chủng đó thì nhất định tu hành sẽ thành Phật.

Tôi nêu ra mấy điều để tự nhắc nhở mình và cũng để kích dương chư huynh đệ. Tất cả chúng ta phải phấn phát, nỗ lực tu hành xứng đáng như lời Hòa thượng dạy, hiểu và làm thích ứng nhau thì sự tu hành sẽ có kết quả, được lợi lạc.

 

Tâm Thức

Nguồn tâm nếu chưa sạch,

Dòng sanh tử khó dừng,

Tâm tư xuôi ngược ấy,

Là manh mối trầm luân.

 

Khánh Tuế 27/07 Bính Tuất

2006.

Mục Lục