Thiền Tông Việt Nam
Câu Chuyện Đầu Đời
1. Những Vị Thầy Đầu Tiên

Đêm nay, nhân dịp tôi tròn 61 tuổi, là tuổi thọ của một đời người, quý vị có mặt đông đủ ở đây mừng tuổi cho tôi. Với niềm vui của tất cả pháp hữu, chư huynh đệ, đại chúng tại Tổ đình, cùng toàn thể quý Phật tử khiến chúng tôi cũng vui lây. Nhưng niềm vui đó phải trong khuôn khổ, nếu có làm việc gì quá bổn phận thì chắc không khỏi bị khiển trách.

Quý vị biết không, bản thân tôi vào chùa rất sớm, từ những năm còn bé thơ. Vào những năm 1940, thời Pháp thuộc, đất nước đang trong cảnh điêu linh, dân tộc Việt Nam chịu nhiều đau khổ, cay đắng. Đây là những năm có thể nói là sôi động với tinh thần quật khởi của đồng bào Việt Nam chúng ta.

Tôi sinh ra trong quãng này, không biết nhân duyên kiếp trước hay túc duyên Phật pháp thế nào mà được sinh ra trong gia đình có cha mẹ, cô bác thấm nhuần Phật pháp. Cha mẹ có hứa nguyện đến 7 tuổi sẽ cho xuất gia. Nhưng bất hạnh, khi tôi chưa tròn 3 tuổi thì cụ thân sinh của tôi đã mất. Sau đó, theo sự sắp đặt của cha mẹ, dù cha đã mất rồi nhưng còn mẹ, còn những người thân, tôi được vào chùa xuất gia. Tôi còn nhớ khi đó là ngày Rằm tháng 10 năm 1949, lúc này tôi vừa tròn 7 tuổi. Ở độ tuổi vừa rời tay mẹ thôi, có biết gì đâu mà tu, nhưng do lời nguyện của cha mẹ cho nên tôi được vào chùa. Chắc chắn rằng những chú điệu cỡ chừng bảy tám tuổi bây giờ, chưa có điệu nào phải trải qua một cuộc sống như tôi vào khoảng thời gian đó, cho nên tôi rất cảm thông với những điệu nhỏ. Tôi rất thương các chú. Nhớ lại thân phận của mình, nhớ lại mình mà thương người đằng sau mình.

Đến năm tôi 10 tuổi, mẹ trở về quê ngoại, tức là quê gốc của mẹ. Tôi cũng theo mẹ về ở ngôi chùa bên họ ngoại, đó là ngôi chùa Từ Lâm cổ tự. Quãng này tôi là một ông điệu gan lì nhưng cũng ngoan lắm, chẳng những tôi biết tụng kinh mà còn tụng rất hay, do vậy được những vị Phật tử có điều kiện mời tụng cầu an cầu siêu. Tuy chưa đi học ở trường nhưng tôi đọc và viết chữ Việt được, cũng viết cả chữ Hán. Tôi biết ghi phủ ý, nghĩa là ghi họ tên gia đình Phật tử để cầu an, cầu siêu, biết làm sớ, làm điệp. Ông thầy con mà biết làm mấy cái này, nên đôi khi đi đám cũng có ba đồng năm đồng ăn bánh tráng.

Khi ấy tôi còn để chóp, mặc quần đùi, chứ không có quần áo lượt là như bây giờ. Tôi có một cái quần đùi may bằng vải kaki vàng của quân đội, đi theo cuộc đời tôi suốt 4 năm mới sờn rách. Chùa quê không vách, tối ngủ thì phủi chân nằm trên bộ phản, gặp đêm lạnh thì lấy đệm quấn lại, còn không thì cứ nằm khoanh ngủ bất cứ chỗ nào.

Đến lúc tôi được chừng 12 - 13 tuổi, vị Hòa thượng Trụ trì ngôi Từ Lâm cổ tự được sơn môn tấn phong Hòa thượng và tổ chức một đại lễ Chúc thọ Giới đàn. Chư sơn thiền đức, Phật tử các nơi về rất đông, tổ chức rất long trọng. Trưởng ban tổ chức là Sư bác của tôi hồi đó, tức là Hòa thượng Trụ trì Tổ đình Phước Lưu ở chợ Trảng Bàng bây giờ. Ngoài ra, còn có một số vị Hòa thượng ở Trảng Bàng, Gò Dầu - Tây Ninh, Bà Hom, Chợ Lớn, Cần Giuộc. Khi đó, tôi là giới tử điệu, theo hầu Hòa thượng đàn đầu. Có vị thầy gốc người Trảng Bàng nhưng đi học và cất chùa trên Sài Gòn. Thấy tôi để chóp, thầy thương, gọi tôi đến nhờ mua giùm ít đồ rồi hỏi:

- Chú có muốn đi xuống Sài Gòn học không?

Tôi trả lời:

- Dạ bạch Thầy, con cũng muốn nhưng con không biết Sài Gòn ở đâu.

Thầy nói:

- Thầy là người ở Sài Gòn, chú muốn đi thì chú chuẩn bị. Thầy sẽ đón đi.

Tôi thưa:

- Dạ, con muốn đi lắm.

Giới đàn xong, thầy về lại thành phố. Độ chừng hơn nửa tháng hay một tháng sau, người thân của thầy đến gặp bà thân tôi. Hôm đó, bà đang làm củ kiệu chuẩn bị tết thì có người đến tìm. Bà không biết người đó là ai, nhưng tôi thấy người đó đến là tôi mừng rồi. Tôi tưởng thầy nói chơi thôi, nhưng té ra người đó là ông thân của thầy. Gặp tôi, ông nói:

- Mày có hứa với ông thầy ở Sài Gòn đó, hôm nay tao đến nói chuyện với má mày, nếu đi thì sửa soạn đi với ông.

Tôi nói:

- Con đi.

Ông đến nói chuyện với má tôi. Ngay chiều hôm đó, tôi ôm gói giấy dầu, trong có một cái quần thâm, một cái áo trắng, một cái khăn nhỏ để đội, hành trang về thành phố của tôi chỉ có chừng đó. Rồi tôi trở thành một chú tiểu ở thành phố, ở vùng Sài Gòn.

Thời gian ở thành phố, tôi đi tụng kinh cầu an cầu siêu nhiều, tụng riết bị tắt tiếng luôn, tụng hết ra hơi. Ông thầy thương, nói mày ráng đi đám để có tiền. Tôi cũng không biết có tiền để làm gì, thầy biểu đi thì phải đi. Có khi sáng khai kinh chỗ này, trưa phải đi cúng ngọ chỗ kia. Khai kinh, cúng ngọ, hoàn kinh, cúng vong, làm sớ, làm điệp, cúng sao, coi tay tôi biết hết, làm được hết. Không bao lâu, thầy bị bệnh gan rồi tịch, tôi là người chịu trách nhiệm giữ ngôi chùa. Có người trong thân tộc của thầy bảo:

- Mày còn nhỏ lắm, mày giữ chùa này không được, thôi giao lại.

Tôi nói:

- Dạ, con chỉ muốn đi tu, đi học, chứ giữ chùa thì con không muốn.

Cũng trong những năm này, tôi có duyên được gặp Hòa thượng Vạn Đức, tức là Hòa thượng Chủ tịch Phật giáo bây giờ. Có thể nói đây là vị thầy khai tâm cho tôi biết rõ người tu phải có học, có đủ trí tuệ, đạo hạnh mới có thể hoằng pháp lợi sanh, mới có thể tự tu cho mình và góp phần vào sứ mệnh hoằng truyền chánh pháp.

Hồi đó, ở chùa Vạn Đức có hội Cực Lạc Liên Hữu, thầy của tôi ở thành phố là hội hữu của hội này. Đây là hội Tịnh độ, chuyên niệm Phật A Mi Đà cầu sanh về thế giới Cực Lạc. Mỗi lần thầy đi họp trên hội thì tôi được sắp đặt đi theo hầu thầy. Trên chùa có bà Hộ Hiền là người hỗ trợ cho Hòa thượng Vạn Đức, đi học trường Báo Quốc ở ngoài Huế. Thấy tôi, tự nhiên bà hỏi:

- Con có muốn lên trên này tu không?

Tôi nói:

- Con muốn.

Rồi tôi hỏi:

- Thưa bà, bây giờ con muốn đi tu trên này thì con phải làm sao?

Bà nói:

- Chỉ có cách con trốn đi chứ làm sao.

Năm đó tôi còn nhỏ, dễ gì thầy tôi cho đi. Vì tuy còn nhỏ mà đi đám, cúng sao, làm sớ, làm điệp, có người bị đau đầu, đau mắt vào gặp thầy, thầy bảo mở sách ra coi, rồi viết bài vị cho người ta cúng, coi giá thú, xây dựng nhà cửa… mấy thứ này tôi làm được hết, nên xin đi dễ gì mà thầy cho. Chỉ còn cách là trốn đi. Thầy biết không cho, tôi cũng trốn nên thầy phải cho. Thế là tôi được nhập trường Hương đầu tiên tại chùa Vạn Đức.

Trường Hương này do chư tôn Hòa thượng hợp tác mở ra. Trong đó, có Hòa thượng Đông Hưng tức Hòa thượng Hành Trụ, Hòa thượng Thiện Tường tức Hòa thượng Trụ trì chùa Vạn Thọ, Hòa thượng Vạn Đức, Hòa thượng Phước Cần ở Phật Quang (nằm trên đường Đào Duy Từ - thành phố Hồ Chí Minh bây giờ), đây là những vị đại hòa thượng cùng một thời, các ngài hợp tác với nhau mở trường Hương. Gọi là trường Hương vì trong trường có những hành sự theo xưa, chứ không theo bây giờ. Mùa hạ năm đó là mùa hạ kỷ niệm trong đời tu của tôi. Ở đó, người ta thu nhận thấp nhất là Sa-di, còn Tỳ-kheo cả một trăm sáu mươi mấy chúng cả Tăng và Ni, riêng tôi là một ông điệu được nhận vào trường hạ đó.

Trong trường, tôi ở chung phòng với 12, 13 chú khác. Tụi tôi làm thị giả cho mấy thầy lớn. Khoảng giữa mùa An cư, tôi được thọ giới Sa-di. Tính từ năm xuất gia đến năm chính thức thọ giới Sa-di là đúng 10 năm. Mùa hạ năm đó, tôi phát nguyện đốt một liều hương để cúng dường. Học chung Phật pháp, có những chú lớn hơn tôi mà không biết chữ Hán ngồi gần tôi, tôi hướng dẫn. Tôi có thể nghe được Kinh Pháp Hoa Thông Nghĩa do Hòa thượng Chủ tịch Phật giáo giảng bản chữ Hán trong suốt mùa An cư. Tuy còn làm điệu nhưng tôi cũng được dự vào lớp học như các thầy lớn khác. Huynh đệ chung quanh hỗ trợ cho tôi học và đồng thời họ cũng hỏi ý kiến tôi về việc này việc nọ. Tôi chánh thức là một ông thầy rồi.

Sau mùa hạ đó, tôi xin theo Hòa thượng Chủ tịch Phật giáo ra ngoài núi Kỳ Vân ở Long Hải, làm ông thầy núi để được tiếp tục tu học. Khoảng những năm 60, đất nước đang có chiến tranh, Hòa thượng cho tụi tôi về dự tuyển ở Phật học đường Nam Việt. Tôi trúng tuyển, được đưa về Phật học viện Phước Hòa ở Vĩnh Bình. Tôi học ở đây 3 năm.

Từ những năm ở Vĩnh Bình, tôi mới được gặp Hòa thượng Trúc Lâm. Ngày xưa, Hòa thượng là một vị giáo thọ của trường, ngoài ra Thầy còn làm hiệu trưởng. Hòa thượng Từ Thông cũng là giáo thọ ở dưới đó. Đây là những năm tôi được học Phật pháp, rồi sau đó theo Thầy về Huệ Nghiêm. Tốt nghiệp ở Huệ Nghiêm xong thì Thầy hướng dẫn lên Đại học Vạn Hạnh.

Tôi được đi chỗ này chỗ kia một chút, nhưng thật ra cái học của tôi chả ra sao hết, học mà không sử dụng được gì. Tôi nói lời này rất chân thành, vì khi nghe Hòa thượng dạy “Con phải buông hết”, thì tôi phải tụng kinh gì để buông được đây? Không có kinh gì tụng để buông được. Chỉ có cách là đem hết sinh mạng, những cái cay cú, dính mắc, tăm tối, gai góc, khó chịu nhiều đời nhiều kiếp, tụng kinh đó và buông cái đó thì mới được yên ổn.

Tôi chính thức theo Thầy từ thập niên 70 cho tới bây giờ, chỉ làm một việc duy nhất là buông những thứ gai góc đó mà chưa xong. Cho nên, đứng trước chư huynh đệ, các pháp hữu, trong đây có những vị là đệ tử của tôi, nói lên những lời này tôi rất hổ thẹn. Vì là đệ tử của Hòa thượng, học thiền với Hòa thượng, pháp buông của Hòa thượng dạy, pháp biết vọng Hòa thượng nói cho nghe hồi thập niên 70 cho tới bây giờ là năm hai ngàn lẻ mấy rồi mà chưa buông được, còn bị vọng tưởng dẫn. Năm nay tôi đã 61 tuổi, không biết tới khi gặp Diêm vương, quỷ sứ, tôi có đủ tư cách để đối chất với các vị này không? Rất khó.

Khi gác tất cả việc lại để nghỉ ngơi, Hòa thượng dạy các chú phải nỗ lực, phải tu, giữ tâm đạo để tu, xứng đáng là một người trong tông môn của Thầy, phải tự mình hưởng được lợi ích thiết thực của đạo, là những người trong đội ngũ khôi phục Thiền tông của Hòa thượng, phải như vậy mới xứng đáng. Anh em hiện tại đây gần 150 vị, luôn cả những vị tịnh nhân, đều cùng một chí hướng, cùng một hạnh, cùng một pháp tu, cùng một thầy tổ. Dù chưa thực hiện trọn vẹn lời giáo huấn của Hòa thượng Tôn sư, nhưng tất cả anh em pháp hữu, chư huynh đệ chúng ta cùng một lời nguyện rằng trên con đường Phật đạo này, chúng ta đi đến cùng, tu đến khi nào thành Phật, bằng Phật mới vừa lòng. Chúng ta là một người xứng đáng trong tông môn, trong đội ngũ hoằng truyền Phật pháp Thiền tông của Phật giáo Việt Nam, góp phần trong công cuộc khôi phục Thiền tông của Hòa thượng Tôn sư. Tâm nguyện của chúng ta là như vậy.

Hôm nay, trong niềm vui tôi được mạnh khỏe, từ công đức của Hòa thượng, của mẹ tôi, của mười phương các bậc pháp hữu, nhất là sự hộ trì của Tam bảo, tới năm 61 tuổi này, tuy bệnh hoạn liên miên nhưng tâm tu hành cũng như chí nguyện luôn được sự hun đúc của Hòa thượng Tôn sư. Do vậy, tôi rất vui khi thấy những pháp lữ xung quanh đồng hạnh, đồng tu, đồng tiến, đồng vui. Tôi hy vọng tất cả huynh đệ sẽ làm thành, làm nên, là người sẽ thành tựu những mong mỏi của Hòa thượng Tôn sư. Đó là nguyện lành tu hành của chúng ta.

 

Khánh Tuế 27/07 Quý Mùi

2003.

Mục Lục