Thiền Tông Việt Nam
Câu Chuyện Đầu Đời
18. Trách Nhiệm đối với Tông Môn

 

Vừa qua, tại Tổ đình thiền viện Thường Chiếu, thầy trò chúng ta đã có một mùa tu học, gọi là An cư Kiết hạ. Đây là truyền thống có từ thời đức Thế Tôn còn tại thế. Bởi vì những tháng này ở Ấn Độ đang vào mùa mưa, côn trùng sinh trưởng rất nhiều. Đức Thế Tôn vì lòng đại từ không nỡ để hàng đệ tử của mình đi lại giẫm đạp lên sinh mạng của những loài côn trùng nhỏ, cho nên Ngài chế ra pháp Kiết hạ An cư, tu học trong ba tháng mùa hạ, còn gọi là ba tháng mùa mưa.

Tuy nhiên, không phải nói An cư mà tự nhiên chúng ta được một tuổi đạo, một tuổi Phật. Trước nhất, vào mùa hạ chúng ta phải hòa hợp, như pháp như luật làm lễ Kiết giới tại một địa điểm nào đó. Ngày xưa, giáo đoàn không trụ một chỗ nhất định, các ngài tùy cơ tùy duyên giáo hóa chúng sanh. Nơi nào đủ duyên có thể mở mang giáo hóa, làm lợi ích cho chúng sanh thì các ngài tới. Đến kỳ An cư, các ngài dừng việc du hóa, trở về một trú xứ, cấm túc tu học. Kế đó, về nội dung, chúng ta phải cố gắng tu học trang nghiêm, thanh tịnh, phải là những hành giả thật sự hưởng được pháp lạc từ lời dạy của đức Thế Tôn thì chúng ta mới xứng đáng. Nhờ nội dung như thế, cho nên vào cuối mùa an cư chúng ta hoan hỷ, cùng nhau dâng thành quả này lên các bậc Hiền thánh và tác lễ Tự tứ.

Chữ Tự tứ có nghĩa là tùy thỉnh, hoan hỷ. Tại sao hoan hỷ? Tại vì suốt một thời gian tu học chân chánh, có nội dung tốt, tu học trang nghiêm, thanh tịnh, hôm nay là mãn chương trình nên ai nấy đều hoan hỷ, đều tự thấy mình xứng đáng. Do vậy, câu tác bạch cuối cùng của mùa An cư này là “nếu thấy tội, nghe tội, nghi có tội, xin Đại đức từ bi chỉ bảo cho, nếu con thấy có tội sẽ như pháp mà sám hốt”. Lời trình bạch đó giống như gạn hỏi lại tất cả. Cho nên ngày Tự tứ là ngày hoan hỷ, chúng ta xứng đáng nhận một tuổi công đức, một tuổi đạo. Chúng ta có công đức mới nhận được tuổi công đức, đầy đủ đạo hạnh trí tuệ mới nhận được tuổi đạo. Trên bước đường tu học, đây chính là giai đoạn chúng ta thực hiện trọn vẹn một tuổi Phật.

Quý vị đã biết trong thời gian nào, ở giai đoạn nào chúng ta nhận được tuổi này rồi, phải không? Không phải vừa phát tâm xuất gia hay vừa thọ giới Sa-di mà chúng ta nhận được tuổi này đâu. Chỉ khi nào chúng ta đã thọ giới Cụ túc, đã học luật, có hành giới tu tập, đủ tư cách thay Phật tuyên dương chánh pháp, khi đó chúng ta mới nhận được một tuổi đạo, một tuổi công đức thật sự.

Thiệt ra trong đạo có gì vui đâu mà tổ chức mừng sinh nhật. Mừng Khánh tuế thì khả dĩ vì mình có tu học, nhưng mừng sinh nhật là mừng cái gì? Sự có mặt của mình trong cuộc đời này, có khi người ta nói “khổ quá, khổ quá”, phải vậy không? Hoặc nói giản dị hơn, có khi mình mong ước trăm điều nhưng thành tựu chưa tới một hai, đếm không ra đầu ngón tay nào nữa. Vậy thì sung sướng gì, vui gì mà mừng ngày mình có mặt ở đây. E rằng tổ chức này không khéo bị lây, bị lai ở đâu đó. Tuy nhiên, nếu những điều bị lây, bị lai đó là tốt thì chúng ta phát huy được tinh thần tu học, tu học tinh tấn và thực hiện trọn vẹn tâm nguyện tu hành của mình. Như thế khả dĩ chấp nhận được. Mong rằng lễ mừng sinh nhật của tôi hôm nay phải có ý nghĩa như vậy.

Bây giờ, tôi già bệnh rồi, cái chết gần kề. Hầu hết quý vị ở đây cũng đã niên cao lạp trưởng, phải mang gánh trọng trách thay Phật tuyên dương chánh pháp, chủ hóa một phương, vậy thì quý vị phải xứng đáng, phải làm tròn bổn phận của mình, làm sáng tỏ Phật pháp vì lợi ích chúng sanh. Trách nhiệm của chúng ta lớn như vậy cho nên không thể ngủ gà ngủ gật, không thể đi đông đi tây, tổ chức cái này cái khác. Không đúng ý nghĩa, không lợi lạc gì hết, có khi còn phí tổn tiền của đàn-na thí chủ nữa.

Chúng ta làm một việc không có công đức thì không có phước, chẳng những thế mà còn rơi vào những sự sai lầm. Những cái này không hiện ra liền đâu, nó ẩn ấn nhưng lại làm tổn hại đạo tâm, loãng đi tâm Bồ-đề khiến chúng ta hành đạo không có kết quả. Mình thấy y như tu giậm chân tại chỗ, không tiến bộ mà lại có khi bị thoái hóa. Những nguy cơ đó, chúng ta phải để tâm nghiên cứu, xét nét thật kỹ để chỉnh đốn kịp thời. Chúng ta không thể cưỡng cầu, nhân duyên như thế nào đó thì tùy, nhưng phải biết thương mình mà cố gắng tu. Không thể ấm ớ đẩy đưa, nói cho qua chuyện mà chúng ta phải thực sự quan tâm, bởi vì đó là việc bốn phận của mình.

Cuộc đời của tôi tu hành từ lúc còn bé thơ. Cha mất sớm, mẹ góa con côi, tôi trôi dạt khắp nơi. May mà có Phật pháp và các bậc thầy thương, bảo bọc, nuôi dạy. Riêng tôi cũng hết lòng phụng thờ và trung thành với sự chỉ giáo của các ngài. Có lẽ từ tấm lòng như vậy, tôi mới có ngày hôm nay.

Tôi thường nói với chư huynh đệ rằng y vào pháp lực, phúc trí của thầy tổ, của Hòa thượng Trúc Lâm mà thầy trò chúng ta được như hôm nay. Suốt bao nhiêu năm, tại Tổ đình thiền viện Thường Chiếu, từ thời gian đầu năm 74 - 75 cho tới những năm 85 - 86, khi Hòa thượng chính thức về đây, chấn tích trụ ở đây để hoằng hóa, chư huynh đệ chúng ta đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm. Bây giờ, thấy tôi như thế này nhưng quý vị đâu có ngờ khoảng năm 76 - 77, tôi là một ông thầy mặc quần khỏi đầu gối, ở trần đẩy xe đi xin phân heo, phân bò về làm ruộng. Chỉ một bề vâng lời Thầy, Thầy biểu mấy chú cạp đất mà sống thì tôi cạp đất mà sống. Anh em lúc đó khoảng 20 vị, không đông như bây giờ. Nếu đông như bây giờ thì chắc chết, cơm đâu mà ăn. Những năm đó như vậy. Tôi thương kính Thầy, Thầy đặc biệt đối với mình quá đi. Khó khăn như vậy mà mỗi tháng, rất nhiều lần Thầy từ trên núi về đây, đem theo từng khoản gạo, từng quà phẩm mà Phật tử đã dâng cúng cho Thầy, về cho mấy đứa đệ tử trẻ hâm mộ tu thiền, theo Thầy tu thiền. Thầy trò vui lắm. Những đêm trăng lặt đậu, những đêm trăng đi dưới hàng dương, thầy trò huynh đệ chúng tôi cùng vui vẻ. Vậy mà thoáng một cái, những người cùng thời với tôi thuở ấy, bây giờ nhìn lại chẳng còn là bao.

Chư huynh đệ được phúc duyên đến vào giai đoạn mà Hòa thượng đã ổn định mọi việc. Công đức hoằng hóa của ngài đã đầy đủ, uy nghi, trí tuệ vô lượng, cho nên thầy trò chúng ta được thừa tư công đức, vui vẻ, tinh tấn tu học. Từ sau năm 86, Hòa thượng yên lòng triển khai Phật pháp. Hoài bão của ngài là khôi phục Thiền tông Phật giáo Việt Nam đời Trần, khôi phục tinh thần Đại thừa Phật giáo. Tại sao nói khôi phục tinh thần Đại thừa Phật giáo? Bởi vì tinh thần Đại thừa Phật giáo đã bị người bàng quan cho là đạo Phật mê tín dị đoan. Trong bối cảnh đó, Hòa thượng vẫn cương quyết, đứng vững, nhìn phủng tới trước, quyết định khôi phục lại những giá trị bị khuất lấp của Phật giáo Đại thừa.

Có khi trước đây, người ta nói tu thiền điên nhưng Hòa thượng vẫn yên lòng dạy thiền, hướng dẫn thiền cho một số đệ tử ở trong núi. Sau khi ra núi, chương trình của Hòa thượng tiến hành, chư huynh đệ từ các nơi về viện tu học. Bây giờ, nhìn vào chư vị Tăng Ni hiện diện, là môn hạ đệ tử của Hòa thượng Trúc Lâm, quý vị thấy ơn pháp hóa của Thầy lớn lao vô cùng. Trong hoàn cảnh nào, quý vị cũng được giáo hóa, được hướng dẫn, dạy dỗ. Hòa thượng đã làm nên cho quý vị. Từ một người bình thường, chúng ta được Hòa thượng độ cho cạo tóc, xuất gia, truyền giới, trải qua các giới trường, quý vị chính thức trở thành một vị Tăng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày hôm nay. Con đường đó dài lắm, nhiêu khê lắm, chứ dễ dàng gì.

Nhớ cái ơn này, thọ cái ơn này, chúng ta phải làm sao? Phải cố gắng tu hành để đền trả. Đức Phật dạy muốn đền trả ơn Phật, cái ơn không thể đền trả, muốn báo đáp ơn thầy tổ, cái ơn không thể báo đáp, chỉ có tu hành đạt đạo mới đền trả được, mới báo đáp nổi. Chúng ta không bàn ơn nặng, ơn nhẹ, ơn to, ơn nhỏ gì mà chỉ quyết tâm tu học, cố gắng tu học, tinh tấn tu học, biết thương mình mà tu học, nguyện tu chừng nào thành Phật mới vừa lòng. Có như vậy, quý vị mới xứng với tâm nguyện tu học của mình và đồng thời có thể đền đáp phần nào công ơn của thầy tổ, của Phật pháp.

Tuy nhiên, tôi nói như vậy cũng không phải dễ dàng gì đâu. Rõ ràng hằng ngày mình sống là thọ dụng cơm ăn, áo mặc của đàn-na thí chủ. Sự an ninh, an ổn tu học cũng phải nhờ những người chịu trách nhiệm ở ngoài đầu sóng ngọn gió thay mình. Đó không phải là chuyện đơn giản. Những ơn nghĩa mình đang mang đây vô cùng lớn, thậm chí là những ơn nghĩa không thể đền đáp nổi. Tuy nhiên, như Phật đã dạy, mình tu học tốt thì có thể đền đáp. 

Bây giờ thầy trò chúng ta phải tập trung vào việc tu học tốt. Tu học tốt là như thế nào? Tại Tổ đình thiền viện Thường Chiếu, nhân duyên tôi đã bày ra, từ cảm nhận thời bé thơ của một chú tiểu lạc lõng trong lúc đất nước đang chiến tranh, cha mẹ gặp khó khăn thế này thế khác, mà bây giờ có ra La Vân Tuệ Uyển. Tôi dạy các tiểu La Vân Tuệ Uyển phải hoàn chỉnh. Hoàn chỉnh như thế nào, tu học như thế nào? Là trông cậy vào chư huynh đệ chịu trách nhiệm, phải không?

Tôi cũng thường nhắc rằng đây là trách nhiệm của tông môn. Dù bận việc bao nhiêu, quý vị cũng phải có trách nhiệm thương các em nhỏ của mình, hết lòng dạy dỗ dìu dẫn các em nhỏ, làm tròn nhiệm vụ của mình đối với tông môn. Như vậy, quý vị mới tương đối xứng đáng, làm được một chút việc với đàn em, với hậu duệ của mình. Có làm tốt, có dạy tốt, các em tu học tốt thì mai kia mốt nọ các tiểu mới có thể thành tựu đời tu, làm tốt các phận sự, các Phật sự lợi ích chúng sanh, xứng đáng là một thành viên trong giáo đoàn, trong đại Tăng, trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Việc này quan trọng như vậy.

Tôi bận việc, ít xuống đó nhưng không cô nghĩa là bỏ trôi hết các việc. Nếu tôi bỏ trôi hết thì e rằng thầy trò chúng ta không có cơm ăn đâu, đừng nói chuyện tiền đóng học phí. Tất cả nhà cửa, đồ dùng, phương tiện đều nhờ vào sự ủng hộ của đàn tín. Chư huynh đệ phải làm tốt. Đây là một pháp tu, một nhiệm vụ, một sự giao phó của tông môn, thầy tổ, chớ có xem thường. Cố gắng làm tốt, làm tròn thì mới xứng đáng là đàn anh của mấy chú bé đang giỡn, đang la, đang cười, đang hét đó. Việc này chúng ta phải trôi tròn trong lúc tu hành ở đây.

Hòa thượng Trúc Lâm chưa từng dạy chúng ta phải làm việc gì khiến mình hè hụi đi không nổi, đứng không yên, mà chỉ dạy chúng ta phát tâm vì Phật pháp, vì sự tu hành. Chúng ta biết thương mình cố gắng tu hành, đồng thời tùy duyên tùy phần đóng góp vào việc chung là làm lợi ích cho người sau, cho chúng sanh. Những việc đó huynh đệ có thể làm được, đâu có khó khăn gì. 

Chính bản thân tôi đã trải nghiệm rồi, mong chư huynh đệ đi theo hướng đó, thực sự trải nghiệm. Làm việc nào ra việc đó, đàng hoàng, có trách nhiệm chứ không phải làm rồi bỏ, không phải mình cứ ngồi đó còn các em ra sao thì mặc. Không nên như vậy. như thế thì mang tội lớn với Phật pháp, có lỗi với đàn-na thí chủ. Mình nói cho họ nghe về việc làm như thế, họ hướng về, họ ủng hộ thì mình phải làm cho đàng hoàng. Chư huynh đệ nhớ như vậy, cố gắng như vậy. 

Nhiều nơi một ông thầy có chừng vài ba đệ tử lóc nhóc đã mệt lả rồi, hà huống ở đây gần 170 chú, nặng nề nhiều thứ lắm. Nếu các vị lãnh trách nhiệm mà buông xuôi, phó mặc thì còn gì là đạo tràng, tương lai Phật pháp ở đâu? Như vậy Phật pháp của Hòa thượng trông cậy vào ai, từ ai mà có thể mở mang, có thể thành tựu, có thể đem lại lợi ích cho chúng sanh? Có phải từ chúng ta hay không? Mở mang được là từ sự chịu cực chịu khó làm bổn phận của mình. Chư huynh đệ cố gắng. 

Bây giờ tới một việc khác, tại Tổ đình thiền viện Thường Chiếu, chư huynh đệ được huấn luyện có bài bản, có giáo trình tu học đàng hoàng. Tam tạng thánh giáo, ngữ lục, lời dạy của các vị thiền sư, của Hòa thượng Trúc Lâm, quý vị đã được nghe giảng trực tiếp hoặc gián tiếp. Chính bản thân tôi trong nhiều năm qua cũng đã đem hết lòng để trình bày, hướng dẫn, dìu dắt quý vị. Hòa thượng đã chỉ dạy, qua tới đời của tôi cũng đã hết hơi hết sức, vậy mà quý vị nói ở đây không được học Phật pháp, không hiểu Phật pháp, rồi xin đi học nơi này nơi kia. Như vậy có phải bôi bác thầy tổ của mình hay không? Quý vị nói dốt mà e rằng không phải dốt, mà là quý vị quá khôn, quá thông minh, bị những thứ đó dẫn đi. Nếu thực sự ngu dốt những cái lăng xăng, những cái xanh đỏ gì gì bên ngoài đó, mà lỡ bây giờ có chết đi thì quý vị vẫn thành tựu Phật đạo, phải không? Ngu dốt như vậy lại giúp cho việc tu hành. Còn lăng xăng như khỉ vượn, điên đảo suốt ngày đêm không dừng được, đó là nhân tăm tối dẫn đi trong luân hồi sanh tử, không có lối thoát.

Hòa thượng Trúc Lâm từng dạy chúng ta phải điểm mặt những thứ đó, chính nó dẫn ta đi trong luân hồi sanh tử nhiều đời nhiều kiếp rồi, bây giờ ta không tin, không nghe theo nó nữa. Hòa thượng dạy mình xoay lại coi mình điên đảo cỡ nào, phải bỏ những cái điên đảo đó đi, bỏ thì sẽ hết. Như người mắc nợ, khi chủ nợ đến đòi, nếu chịu trả thì sẽ hết nợ, chắc chắn như vậy. Chỉ có mình không chịu trả mà còn gây thêm nợ khác nữa, trả 10 đồng mà gây thêm năm ba mươi đồng nữa thì trả hết đời này, trả luôn cả đời sau cũng không hết. Trả rồi gây thì chừng nào mới hết? Cho nên, Hòa thượng dạy người tu Phật phải tỉnh táo, sáng suốt, quyết định làm một việc duy nhất, ngày hôm nay chấp nhận ngu những cái điên đảo để sáng việc của mình, nhận ra tâm thể rỗng rang sáng suốt của mình. Cái đó mình có sẵn mà do mê nên không nhận được, bây giờ tỉnh lại, ngu cái kia để nhận lại cái này. Rõ ràng như vậy. 

Hòa thượng giảng dạy bao nhiêu năm, cuối cùng nói rõ với mình cái đó là chân tâm, chân tâm vô niệm. Tại sao nói chân tâm vô niệm? Bởi vì cái đó không sanh không diệt, không già không chết, không xấu không tốt, không điên đảo, không có vọng tưởng. Nó là như vậy, bất sanh bất diệt. Nhưng Hòa thượng nói cái gì mình lầm cái đấy, không vươn lên được, khổ là vậy. 

Bây giờ, tôi xin được nhắc nhở chư huynh đệ, các vị đã chủ hóa một phương, là trụ trì, phó trụ trì, trưởng ban trị sự, trưởng ban hoằng pháp, là những người lãnh đạo, những người có trách nhiệm, thì các vị phải cố gắng nhìn lại tông chỉ của thiền Phật giáo Việt Nam để thấy được cái giá trị, thấy được ông chủ của mình. Nhận ra được ông chủ, sống với ông chủ rồi thì sẽ không điên đảo, không mê chạy theo bên ngoài. 

Hòa thượng ví dụ, như từ trước mình không biết vàng giả nên khi ra chợ thấy người ta bán vàng giả là mê, vì nó bóng loáng quá. Bây giờ mình biết nó là đồ giả thì dù họ có đem cho mình, mình cũng không nhận. Việc tu hành cũng giản dị, bình thường như vậy, có gì khó khăn đâu. Chư huynh đệ phải cố gắng nhận ra chỗ cốt tủy mà Hòa thượng đã dạy, sống cho được với cái đó. Nhân dịp này tôi mới nói ra được lòng mình, chứ bao nhiêu năm qua, lên lớp nói hết hơi mà quý vị đâu có nhớ gì, thậm chí có vị còn không chịu lên lớp nữa. Muốn quý vị lên lớp đông đảo, chắc phải có bánh kẹo gì đó mới chịu lên, đâu phải dễ dàng. Như vậy tại ai? Tại lỗi của mình thôi. 

Có một đệ tử đến học thiền với một vị thiền sư, ông nói con theo thầy bao nhiêu năm rồi mà thầy không chỉ dạy Phật pháp cho con. Thiền sư nói bao nhiêu năm qua, ngươi đưa nước ta tiếp nước, ngươi mời cơm ta nhận cơm, ngươi xá lui ta gật đầu, có chỗ nào ta không hướng dẫn, không dạy dỗ Phật pháp cho ngươi? Ai nhận ra cái đó? Chỉ có các vị thiền sư tương lai đang ngồi đây mới nhận ra, nhận ra cái đó rồi thì sống, ăn cơm, uống nước, đi, đứng, nằm, ngồi, tiếp khách, nói chuyện, làm các việc trong chúng một cách bình thường. Đạo lý sống là như vậy. 

Đó là Phật pháp mà chúng ta được Hòa thượng Trúc Lâm đinh ninh chỉ vẽ, dạy dỗ từ bao nhiêu thập niên. Tôi nói như vậy không có sai đâu. Hòa thượng bắt đầu khai pháp từ năm 1970 tại thiền viện Chơn Không trên núi Tao Phùng đến bây giờ là năm 2014 rồi, 40 năm chứ đâu có ít. Ngoài ra trước năm 70, Hòa thượng đã là một vị pháp sư của Giáo hội, giảng dạy Phật pháp xuyên suốt một quãng thời gian, cho tới bây giờ bệnh yếu nghỉ ngơi. Thật xứng đáng.

Nói như vậy để huynh đệ biết thầy tổ của mình không dốt, tổ sư của chúng ta không dốt, tổ chức của thầy tổ bày ra không cổ hủ, không lỗi thời, không sai lầm. Chỉ đòi hỏi nơi mỗi chúng ta phải kiểm nghiệm lại, xét kỹ lại xem cái tâm tu học của mình như thế nào? Mình có nhớ, có giữ, có bảo vệ được cái tâm khi đến đây cúi đầu cầu thầy cho con được tu hay không, hay là vì những lý do gì đó mà mình đã quên mất tất cả.

Tâm ban đầu là tâm Bồ-đề, tâm cầu giác ngộ thành Phật, không phải tâm nào khác, cũng không phải cái gì khác đâu. Tôi còn nhớ rõ lắm, hầu hết các vị đến xin xuất gia học đạo, tu hành ở đây, lớn thì bảy tám mươi tuổi, nhỏ thì năm sáu tuổi cũng có. khoảng trung trung 20, 30, 40, 50, 60 thì nhiều, không có người nào tới nói với tôi rằng con tới đây cầu thầy dạy cho làm kỹ sư, hoặc làm gì cũng đúng, cũng có tiền. Không hề có. Nếu có tôn giả nào tới cầu tôi chỉ dạy cách làm ra tiền thì chắc tôi đóng thùng gửi đi xứ khác rồi. Ai cũng tha thiết thưa rằng đời nào đó con kết được chủng Phật, ngày nay gặp Hòa thượng, muốn cầu pháp, muốn được xuất gia, muốn làm người tu hành để được làm Phật. Những lời như vậy phát xuất từ cái tâm chân chính, từ tâm Bồ-đề, tâm giác ngộ sẵn có nơi mỗi người. 

Bây giờ, vâng lời Hòa thượng dạy, chúng ta khôi phục lại cái tâm đó, bảo vệ cái tâm đó, làm quen và hằng sống với cái tâm đó. Tâm đó là tâm gì? Là tánh giác, là giác tâm hay tâm Bồ-đề. Tánh giác, giác tâm hay tâm Bồ-đề thì không sanh diệt, không hình thức, làm sao bảo vệ, gìn giữ đây? Nó có tay, có chân, có đầu, có cổ thì mới nắm, mới giữ được, đằng này nó không có gì hết. Vậy thì phải làm sao? Chỉ có tỉnh giác, quên đi trần cảnh, trở về sống lại với nó mà thôi. Giác và mê không có biên cương cố định. Chạy theo vọng tưởng là mê, tỉnh lại là giác, cho nên Hòa thượng nói là tỉnh giác. Tu là tỉnh giác, chứ không phải tu là chạy theo, vì chạy theo là mê. Quý vị nhớ như vậy.

Cho nên xin được nhắc toàn thể chư huynh đệ có trách nhiệm, những vị đang trụ trì, đang hoằng pháp lợi sanh, chủ hóa một phương, quý vị phải xứng đáng, phải làm tròn bổn phận của mình để đừng bao giờ thẹn với lòng, đừng bao giờ thấy mình có quá nhiều sơ suất trong nhiệm vụ, trong công việc, trong sự nghiệp tu hành. Như vậy mới xứng đáng nhận một tuổi đạo, một tuổi công đức hay một tuổi Phật. 

Có nhiều vị nghĩ vừa mới tới cổng chùa là được tính một tuổi công đức, thế có chết không. Công đức gì ở đâu ngoài cổng đó? Lòng mình lăng xăng, điên đảo, ngược xuôi, tăm tối, dính mắc chuyện này chuyện khác, tâm đạo ở đâu, nhận tuổi Phật từ chỗ nào? Có một người tới đảnh lễ, trình với tôi rằng con theo thầy tu học, năm nay được tấn phong Thượng tọa. Với công đức tu hành, với niềm vui đó, con tới trình thầy chứng minh cho. Tôi hỏi vậy chứ xuất gia hồi nào, trong đợt nào, tôi quên rồi. Dạ, con xuất gia năm đó, năm đó. Tôi phải nín lại, hỏi lâu nay tu học ở đâu? Dạ, con đi học ở đó, rồi con có tham gia dạy một đạo tràng Phật tử tu thiền ở đó. Quá tốt. Nhưng tuổi đạo căn cứ đâu mà mới hơn 40 tuổi lại nhận giáo chỉ tấn phong Thượng tọa? Dạ, không biết. Thấy chưa! Cho nên, chư huynh đệ phải cố gắng.

Đại huynh của tôi là Hòa thượng Đắc Pháp, ông tu từ hồi còn nhỏ, là đệ tử đầu tiên của Hòa thượng. Năm nay, ngài theo Phật rồi. Ngài là Trưởng ban trị sự của một tỉnh, là Ủy viên Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cho nên ngài được tấn phong Hòa thượng. Khi giáo chỉ đến, ngài nói một câu nghe vui lắm: “Thôi thôi, tôi không dám nhận. Làm Hòa thượng ngồi trên cô đơn lắm”. Ông nói tụi nó xúm nhau đẩy mình làm Hòa thượng, ngồi trên kia là mình sắp ăn cơm cúng rồi. 

Một năm sau, khi giáo chỉ được tuyên bố, bấy giờ trên danh nghĩa là Trưởng ban trị sự Phật giáo tỉnh Vĩnh Long, ngài mới nhận người ta đến trình bạch là Hòa thượng, chứ thật sự khi vừa được tấn phong ngài không dám nhận. Điều này ngài nói với tôi vui vui vậy, vì năm đó tôi cũng được tấn phong Hòa thượng, nhưng tuổi của tôi nhỏ hơn ngài nhiều. Ngài đã có tuổi đạo, tuổi công đức vượt quá cái thủ tục tấn phong mà còn ngại ngùng như vậy.

Ngày xưa, có một lần hầu chuyện với Hòa thượng Trúc Lâm ở Chơn Không, Thầy dạy rằng: “Mấy chú đừng sợ mình tu hành ở trong núi, không ai mời làm gì hết, mình lên meo, lên mốc. Đừng có dại dột mà sợ như vậy. Mấy chú tu hành cho đàng hoàng, có đạo đức, đầy đủ trí tuệ đạo hạnh thì dù ở trong núi trong rừng, người ta cũng tới đánh lễ thỉnh ra. Chỉ sợ khi người ta tới thỉnh mình không đủ đạo hạnh, trí tuệ để làm Phật sự, chứ đừng sợ không ai dòm ngó tới, rồi ráng nhướng mình lên cao cho người ta thấy. Đừng như vậy”. Lúc đó, Hòa thượng đang nhốt chúng tôi trong núi ba năm, Hòa thượng cũng sợ mấy đứa đệ tử buồn, rồi kiếm đường xuống núi nên ngài dạy như vậy.

Lúc tôi còn học ở Học viện Huệ Nghiêm, có lần thây Thiên Ấn, khi đó đang là Khoa trưởng Phân khoa Khoa học Nhân Văn của Đại Học Vạn Hạnh, hướng dẫn một đoàn chư Tăng Nhật Bản đến thăm trường. Anh em ra đón đoàn mà cũng không biết ông nào là ông thầy, vì mấy ông Nhật Bản ông nào cũng mặc áo màu đen, vải có vẻ xù xì chứ không bóng loáng như các nơi khác, có ông còn mang theo một cái bị. Đoàn đi vào khu Tăng xá, một ông cầm theo cây bút lông, hí hoáy vẽ vào từng cuốn sổ cuốn tập cho anh em chúng tôi rồi ký tên ở dưới. Quay trở lại thì thấy đầu tổ sư Đạt Ma râu ria um xùm. Ông vẽ rất nhanh, đoàn đi tới đâu ông vẽ tới đó, đi qua phòng của chúng tôi rồi thì năm sáu đứa có hình cái đầu tổ sư như vậy. Phải nói là siêu. Lúc này, chúng tôi mới biết ông này là Tăng.

Tối hôm đó trường tổ chức trung thu, sau khi phát bánh trung thu xong, anh em chúng tôi đưa Hòa thượng xuống tàu đi Nhật Bản. Sau khi đi về, Hòa thượng kể lại lúc Thầy xuống tàu, tự nhiên thấy có ông cư sĩ ra tiếp chuyện vui vẻ, rồi dẫn Thầy lên boong, trên đó mát lắm. Thầy không biết là ai, chỉ thấy dáng người ốm ốm, mặc bộ đồ ngắn màu đen. Đến khi nghe giới thiệu, té ra là ông sư hồi sáng mình vừa tiếp ở trường. Mặc áo vô thì là ông sư mà cởi ra thì nhìn giống như cư sĩ vậy.

Ở bên đó, Phật giáo hòa lẫn vào trong nhân gian, tới mức có khi mình nhìn thấy một vị Tăng mà cũng không nhận ra nữa, cho nên gọi là Tân Tăng. Hầu hết những vị Tăng này đều có bằng tiến sĩ. Nói như vậy, không có nghĩa là Phật giáo mất. Phật giáo ở Nhật Bản vẫn tồn tại thịnh hành. Những bậc đạo cao đức trọng vẫn được Thiên hoàng hay Thủ tướng kính trọng. Họ ở những ngôi chùa trên núi. Khi quốc gia có đại lễ thì kiệu xuống chứng minh, xong rồi kiệu trở về. Người ta quý trọng những người có giới luật, có công đức tu hành như vậy đó. Thỉnh xuống chứng minh rồi đưa về núi, chứ không dám để ở dưới này. 

Bây giờ, chư Tăng ở xứ mình thì Giáo hội đang lo. Chư huynh đệ chớ có khởi niệm gì về những việc như thế, chúng ta không có quyền đâu. Chúng ta chỉ ở trong đạo tràng, ráng tu, ráng học Phật pháp, học lời dạy của chư vị thiền sư để tự làm nên cho mình. Tôi nhắc như vậy chư huynh đệ nhớ, không phải việc của mình thì chớ, phải ráng mà lo tu hành.

Hòa thượng Trúc Lâm dạy phải biết thương mình ráng tu, không có ỷ lại, không trông chờ ở đâu hết. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ bi vô lượng vô biên, thương tưởng chúng sanh cũng vô cùng vô tận nhưng có khi nào Ngài đưa cái chân xuống cho chúng ta ôm lấy rồi kéo về Niết-bàn đâu, phải không? Ngài ngồi co chân, ngó thẳng rồi cười thôi. Tu sao là tự mình, mình tu cho mình chứ không phải cho ai. Những việc gì xung quanh đó là việc của xã hội, việc của thời đại, chớ có mó vào, không nên. Phải nhớ như vậy, lo thúc thủ tu học.

Bây giờ, chúng ta được vinh dự là Hòa thượng Tôn sư vẫn sinh tiền. Tuy Thầy có bệnh nhưng vẫn sinh tiền. Chúng ta vẫn còn có cơ hội thấy bóng dáng của Thầy, còn những giờ được hầu Thầy, được gần gũi, thưa trình việc này việc khác. Niềm hạnh phúc này lớn lao lắm. Chúng ta phải bảo vệ nó, cố gắng tu hành xứng đáng. Hòa thượng dạy phước không đến hai ba lần. Mọi việc qua nhanh, sự chi phối của vô thường trùm phủ, nó mài giũa, chém phăng tất cả những cơ hội tốt, không để cho chúng ta có cơ hội thứ hai, thứ ba. Nhớ như vậy, biết như vậy cố gắng mà tu, cố gắng làm nên cho mình. Cho mình, chứ không phải cho ai hết.

Hôm nay, nơi đạo tràng này huynh đệ đông đảo, Tăng Ni tứ chúng hòa hợp tinh tấn tu học, mười phương các bậc Hiền thánh hỗ trợ, chư thiện hữu tri thức thương tưởng giúp đỡ, bá tánh bổn đạo hướng về phụng trì ủng hộ chúng ta. Chúng ta cố gắng nhìn lại mình, ráng tu, ráng học, xứng đáng là một vị đệ tử xuất gia của đức Phật, là con trai, con gái ngoan của Hòa thượng Tôn sư, để rồi mai kia chúng ta đủ duyên, đủ tư cách đem chánh pháp làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, làm tròn bổn phận, làm tròn tâm nguyện tu hành của chính mình. Tôi rất mong như vậy.

 

Khánh Tuế 27/07 Giáp Ngọ

2014.

Mục Lục