Thiền Tông Việt Nam
Câu Chuyện Đầu Đời
21. Phải Cương Quyết Tu Hành

Tôi nhớ lại quãng thời gian Hòa thượng Trúc Lâm hướng dẫn cho lớp về lịch sử của đức Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni, giáo chủ của đạo Phật, cũng chính là vị đạo sư của chúng ta. Hòa thượng nói ở một giai đoạn nào đó, Bồ-tát Sĩ-đạt-ta đang vùi trong dục lạc thế gian. Nhưng nhờ một nhân duyên đặc biệt, khiến cho bốn cửa thành mở ra, Bồ-tát thấy được lẽ thật của cuộc đời là già, bệnh, chết.

Kể từ đó, Ngài trầm mình trong những suy tư, bức xúc, băn khoăn tìm một lối thoát. Những sự kiện đó bày ra khắp nơi mà không một ai thắc mắc hoặc nghĩ đến tìm cách gì để giải thoát. Riêng Bồ-tát Sĩ-đạt-ta sau khi chứng kiến những cảnh đó, Ngài quyết định phải đi tìm một lối thoát cho chính mình và nhân sinh. Đang đêm, Ngài vượt thành đến dòng A-nô-ma, cởi bỏ tất cả trang sức, vương bào quý giá, dấn thân vào rừng với mảnh vải của người thợ săn, làm người bỏ nhà, không nhà học đạo.

Đặc biệt, trong khoảng này chúng ta không hề nghe nói Bồ-tát Sĩ-đạt-ta có một thị giả hay một thị tỳ nào, cũng không có ai hầu hạ Ngài về ăn mặc, ngủ nghỉ cả, hoàn toàn không. Thực tế là như vậy. Ngày xưa, anh em chúng tôi nể nang cách hướng dẫn của Hòa thượng, nó thực tế làm sao. Từng đoạn, từng phần, từng câu, từng lời, Hòa thượng chỉ ra lẽ thực để dạy dỗ Tăng Ni tứ chúng. Bao nhiêu năm tu khổ hạnh, rồi sau đó Ngài đi tìm các bậc thầy đương thời để học hỏi, cũng là đi tìm một lối thoát cho chính mình và tất cả chúng sanh. Đến một lúc Ngài kiệt sức đi không nổi nữa. 

Trong kinh diễn tả, khi Ngài tu khổ hạnh, vì ăn quá ít nên thân thể gầy yếu, xương sống phô bày ra như một xâu xích, hai hố mắt lấp lánh như vì sao. Nhưng Ngài cương quyết, nhất định phải tìm cho ra con đường giải quyết những vấn đề quanh đây. Cho nên Ngài nhận bát sữa của nàng mục nữ Su-già-ta, rồi xuống tắm dưới dòng sông Ni-liên-thiền. Sau đó, Ngài đến cội bồ-đề, trải cỏ làm tòa ngồi, với một ý chí mãnh liệt, cương quyết rằng: “Nếu không thành tựu đạo quả Vô thượng Bồ-đề thì dù thịt nát xương tan cũng không rời khỏi chỗ ngồi này”. Ngài tuyên thệ dứt khoát, dõng dạc như vậy. Các bậc thiên thần, ma quân chấn động. Sau 49 ngày đêm, Bồ-tát Sĩ-đạt-ta chứng đắc đạo quả, tức thành tựu trí tuệ vô sư của mình. 

Khi thành tựu trí tuệ vô sư rồi, Ngài đứng lên nhìn tất cả rồi nói: “Lạ này! Mọi chúng sanh đều có đức tướng trí tuệ Như Lai mà tại sao ngu mê để rồi tạo nghiệp, bị trôi lăn trong vòng luẩn quẩn, khổ đau truyền kiếp không có lối thoát”. Lời nói đầu tiên của một vị Phật, một bậc Đại giác, một vị đã trải qua quá trình lọc luyện và thành tựu đạo quả, chứng đầy đủ trí tuệ vô sư là như vậy. Sau đó, Ngài tùy duyên đi khắp nơi, nơi nào chúng sanh cần thì Ngài đến hướng dẫn, giáo hóa, từ đó mới có Tăng đoàn, có Phật pháp cho tới ngày hôm nay.

Hành trình ấy có khó khăn không? Với một bậc phúc trí, công đức lớn lao, đã trải qua bao số kiếp, đã thực hiện tất cả những công đức tương đối đầy đủ như thế mà còn phải như vậy. Còn phải kiệt quệ, còn có những lúc thấy không cách gì tiến được nữa. Nhưng mà cách gì đây? Đạo chưa thành, hoằng pháp chưa rồi, lợi sanh chưa có, tìm một lối đi giải thoát cho mình và cho chúng sanh chưa xong, mà thân thể chỉ còn một xâu xích và hai hố mắt lấp lánh như vì sao. Vậy thì sức đâu, phương tiện nào, giải quyết ra sao đây? Cùng tột đến như vậy. 

Tuy nhiên Ngài không bỏ cuộc mà vươn lên thành tựu, mở ra. Từ đó có Tăng đoàn, có Phật pháp mãi tới thời của chúng ta. Phải nói rằng, bây giờ là quãng thời gian đất nước mình đã thống nhất, đã độc lập, đã tự chủ rồi. Mình xây dựng tốt hay không là do mình, tự mình. Chúng ta có quyền làm chủ vận mệnh của mình, của dân tộc mình. Trước kia thì khác lắm. Tôi nói như thế để chư huynh đệ thấy rằng không có một sự thành công hay thành quả nào có giá trị, mà không đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt cả. Đó là bài học mà chư huynh đệ cần phải nhớ. 

Qua tới đời của Hòa thượng, ngài đang làm công tác giáo dục, Hiệu trưởng Trường Phật học mà bị bệnh phổi phải vào bệnh viện. Bác sĩ phán một câu rằng từ đây không được nói chuyện nhiều. Thầy đành đi cất cốc để tu. Nhưng trong thời gian tu dưỡng, Thầy không yên lòng, vì chí cả, tâm nguyện, việc làm của mình chưa xong, Thầy chưa yên, những pháp hữu xung quanh mình cũng chưa yên. Do vậy, suốt thời gian đó Thầy kê cứu, nghiên tầm, tra xét, dịch thuật, soạn ra một giáo trình, chuẩn bị cho học viện kế thừa Phật học đường Nam Việt, đó là Học viện Huệ Nghiêm. Từ sau pháp nạn 63, có những lúc Thầy gặp thăng trầm gần như bỏ cuộc, nhưng nhờ ý chí vững chắc, cố gắng liên tục nên khi học viện mở Thầy có giáo trình để giảng dạy. Tâm nguyện của Thầy là như thế. 

Suốt thời gian đó, chúng tôi là những đứa con được gần gũi, học hỏi nơi Thầy. Thầy nói cái gì là làm cái nấy. Chư huynh đệ nên học đức tính này của Hòa thượng. Hòa thượng không bao giờ nói rồi thả nổi, nói là làm. Khi ra làm Phật sự, Thầy đâu được ủng hộ như chúng ta bây giờ, nhưng vẫn cương quyết làm. Như mở lớp đầu tiên ở Học viện Huệ Nghiêm, Hòa thượng phải vận động kinh phí từ những người quen và Phật tử ở Tổ đình Ấn Quang. Trước tiên, Thầy tính sơ chi phí đời sống, ăn mặc, cơm nước, học tập của một học tăng trong trường một năm là bao nhiêu, sau đó Thầy liên hệ các Phật tử xin hẳn học bổng đó. Có phương tiện trong tay rồi, Thầy mở lớp.

Những bậc lão túc trong lớp như cụ Phước Hảo, cụ Đồng Huy, cụ Thiện Phát, cụ Phước Định, các vị trung trung như thầy Quảng Hiển ở Vũng Tàu, thầy Pháp Chiếu ở Đà Lạt, thầy Tâm Thủy ở Phú Yên... Số còn lại ít lắm. Thầy Nhật Huệ ở Trà Vinh, nghe nói lúc này đi lại cũng khó khăn. Đến các vị đang lãnh đạo Giáo hội như Hòa thượng Minh Thông chịu trách nhiệm về Luật, Hòa thượng Thiện Nhơn Chủ tịch Phật giáo bây giờ, thực sự mà nói các vị này là lớp đàn em của chúng tôi. Ở trong trường, lớn nhất là chúng Mã Minh, tức anh em chúng tôi. Sau đó mới đến Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân, Huyền Trang, Vạn Hạnh, Nguyên Thiều, Liễu Quán... Trong những chúng nhỏ có Hòa thượng Trí Chơn đây, pháp hữu của tôi ở Học viện Huệ Nghiêm ngày xưa. 

Quý vị thấy việc gì ban đầu mà mình không cương quyết, không có ý chí, không sáng suốt để sắp đặt thì khó thành tựu lắm. Chúng ta ở đây cũng vậy, một việc tu hành này đâu có dễ dàng gì, nếu nói rồi mình thả nổi để ngày tháng trôi qua thì đâu làm gì được, phải không? Cho nên, chư huynh đệ phải chuẩn bị, phải làm nên, làm được trong lúc mình có mặt ở đây. Làm việc xứng đáng, không hổ thẹn để góp phần cúng dường Tam bảo, cúng dường Giáo hội và đền ơn Phật tử. Những người Phật tử đã dành dụm phương tiện hỗ trợ cho mình. 

Tôi còn nhớ năm 66, quý Hòa thượng xin nghỉ. Trong đó có Hòa thượng Trúc Lâm, Hòa thượng Bửu Huệ và Hòa thượng Thiền Tâm. Các ngài đều lui, giao việc trường lại cho tân ban giám đốc kế thừa. Hòa thượng Trúc Lâm chọn khu đất trên núi Tương Kỳ do Hòa thượng Tịnh Viên trụ trì Linh Sơn cổ tự hướng cúng, xây một cái thất lá trên đó. Đêm trung thu, anh em đưa Thầy về thất. Lúc đó, tôi vừa học xong ở Huệ Nghiêm và thi vào Đại học Vạn Hạnh. Hòa thượng cũng là giáo sư trong Đại học Vạn Hạnh.

Đêm đó, không có mấy người, thầy trò ngồi nói chuyện với nhau. Đêm thu, trăng sáng, núi non sương trắng mịt mùng. Đến lúc đi nghỉ, Thầy nói trong thất của Thầy chỉ có cái đơn với mùng mền của thầy thôi, ngoài ra không có gì hết. Trên núi muỗi rầm rộ lắm, anh em tự lấy y ra trùm. Tới khuya, muỗi đốt quá chịu không nổi, anh em không biết làm sao mới chui vô cái khung lưới Thầy để ngồi thiền. Hai ba đứa chui vô đó ngồi ngủ, nhưng gục trúng cái lưới thì muỗi lại đốt. Cứ thế, loay hoay mãi cho tới sáng.

Hôm sau, Thầy về lại Vạn Hạnh. Anh em chúng tôi vừa thi xong ở Đại học Vạn Hạnh, ngày đó họ công bố kết quả. Thầy nói Thầy phải về xem công bố kết quả có công bằng hay không. Thầy về thẳng Đại học Vạn Hạnh xem kết quả xong xuôi, Thầy vui lòng, sau đó mới về Huệ Nghiêm chuẩn bị về thất.

Nói như thế để chư huynh đệ thấy Hòa thượng đã vì đạo pháp, vì chúng sanh, ngài làm việc bổn phận của mình, làm hết lòng, hết tình hết nghĩa, phải không? Chuẩn bị vào núi kiết thất tu hành, nhưng nhớ còn một chút việc chưa xong, Thầy quay trở về xem coi những đứa học trò của mình thi cử thế nào và hội đồng tuyến sinh có công bằng hay không. Công đức, tấm lòng của các bậc thầy đi trước đặc biệt như thế. Chúng ta phải học, phải cố gắng nhiều.

Tôi đang sống, đang tu hành trên núi thì mấy vị huynh trưởng lui. Hòa thượng Đắc Pháp phải về lo cho ngoại ở Vĩnh Long, Hòa thượng Phước Hảo theo Thầy về núi tu chứ không lãnh thêm việc gì trong tông môn. Các huynh trưởng khác lo giữ Thiền viện Lãnh Quang với các nơi. Cho nên Thầy biểu tôi ra thất. Hồi đó, Thầy nói với tôi là chú ở đây với Thầy, ngoài 40 tuổi mới cho xuống núi. Năm này, tôi mới có 32 tuổi, nhưng Thầy kêu xuống núi rồi đưa về đây. 

Danh sách Thầy giao cho tôi gồm có 20 thiền sinh trẻ từ Chơn Không, Linh Quang và các nơi về tại Tổ đình này. Thầy nói chư Tăng Ni trẻ, ai ham tu thiền, hâm mộ thiền, theo Thầy tu thì về đây cạp đất mà sống, mà tu. Quả thật, lúc này tôi bối rối lắm. Trước nay mình đâu có biết làm gì, bây giờ phải chịu trách nhiệm ở chỗ mênh mông đồng khô, cỏ cháy thế này. Thêm nữa, danh sách có 20 huynh đệ, phải tổ chức cuộc sống thế nào đây? Thầy nói đừng lo, có Thầy. 

Hồi xuống đây, anh em còn trẻ lắm, khoảng hơn hai mươi mấy tuổi. Tôi thì khoảng ba mốt, ba hai tuổi. Đất đai cằn cỗi, rừng rú. Thầy Thiện Thanh về dưới Vĩnh Long làm một công lúa hơn 60 giạ, còn ở đây một mẫu ruộng có bốn năm chục giạ, phơi đã đời đem xay ra gạo nát nhừ, nấu cơm đen thui, không ăn uống gì được. Khó khổ như thế, làm sao anh em chịu nổi, nhất là những người ở vùng quê hương lúa gạo, đất đai phì nhiêu. 

Nhưng Hòa thượng biểu làm, biểu sống nên tôi yên lòng, nghe lời Thầy cứ sống, cứ tu tập, cứ làm việc, suốt một thời gian như vậy. Đâu phải lúc nào mình cũng hanh thông, vui vẻ, đầy đủ, được mọi người lễ bái hết đâu. Hồi này, có những người tới tìm tôi mà không biết tôi là ai, mặc cái quần khỏi đầu gối, ở trần đẩy xe đi kéo phân bò, hốt phân heo. Mấy huynh đệ ở đạo tràng Vạn Đức ra thăm, thấy tôi lam lũ quá, họ bật khóc. Ni trưởng Tịnh Giác với mấy Ni sư ra thấy cũng khóc. Hoàn cảnh lúc đó là thế. Nhưng có Thầy, có Phật pháp, có quyết tâm. Anh em phải nhớ điều này, học điều này, phát huy điều này thì mới làm nên được, chứ lề mề thì không làm được gì đâu. 

Đến năm 86, Hòa thượng chính thức về đây, bắt đầu khai pháp tại Tổ đình Thiền viện Thường Chiếu, Tăng Ni tứ chúng tập trung về tu học. Đầu tiên, Thầy nói chỉ mong thiền viện có chừng 5O vị tu học, sau đó tăng lên 100, rồi hơn 100, gần 200. Tới năm 94, có thêm Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, Thầy giao ở đây lại cho tôi. Ngày Thầy giao, quả thật là tôi khóc. Khóc thật sự chứ không phải làm mặt làm mày để quay phim, ghi hình gì đâu. Tại sao? Vì lúc trước khó khăn nhưng có Thầy, có huynh đệ đầy đủ. Hồi này mấy ông sư huynh còn khỏe mạnh, nhất là thầy Đạo Huệ, làm dữ tợn lắm, anh em gọi là Thiền sư bán dầu, đâu phải bở. Nhưng tới lúc Thầy giao lại thì anh em bệnh yếu, duyên sự ở ngoài xen vô nhiều quá.

Thậm chí có lần Thầy hỏi thăm về chuyện thời khóa tu học của viện. Tôi nói lập lờ, bấp bênh một hồi, Thầy quở: Tới bây giờ, giờ đánh kiểng, đánh bảng mà chú làm cũng không được nữa sao? Tệ vậy. Sao hồi đó giỏi, cái gì cũng làm được, mà bây giờ giữ cái kiểng, giữ chuông bảng, giữ thời khóa để động viên, nhắc nhở anh em tu hành cũng không xong. Thầy quở như vậy đó. Nhưng tôi rất hạnh phúc, vì còn có thầy bên cạnh.

Về Đà Lạt, Thầy cũng kêu theo, tôi lẽo đẽo theo sau. Đi một hồi Thầy ngó lại hỏi: Nhật Quang đâu rồi? Đi theo không kịp, thiệt là lề mề. Tại vì cái xương sống bị đau từ những năm mới lên núi. Hồi đó Thầy nói chết không sợ, mà sợ gì cái bệnh xương sống. Nhưng tới lúc nó bệnh thiệt thì mình lại sợ. Bấm, đốt đủ thứ chuyện hết.

Trên bước đường tu tập, có khi chúng ta gặp hoàn cảnh thuận lợi, nhưng cũng có lúc rất khó khăn. Những thứ này nó lẽo đẽo theo mình, anh em đừng mong ngồi đó đòi hỏi cái gì cũng phải tiện nghi. Nếu có quan niệm ấy thì chúng ta không làm được chuyện gì hết, vì đâu có chuyện nào dễ dàng hoàn toàn. Hồi đó, Sư bác Trí Chơn chịu trách nhiệm nấu cơm, có một lần cơm sôi rồi, ngài chất lửa lên nắp, rồi lấy tấm vải bố nhúng nước đậy lại. Cách nấu cơm như vậy. Không biết bữa đó trời xui đất khiến thế nào mà tấm vải phát cháy, suýt chút nữa cháy tiêu luôn cái nhà bếp. Ngày xưa, có những lúc khó khăn vậy đó, còn việc cơm nửa chín nửa sống, nửa khét, nửa nhão thì là chuyện bình thường, anh em nếm dài dài. Đâu phải như bây giờ, cơm canh đàng hoàng, dọn lên ngay ngắn, anh em chỉ việc y áo lên ngồi trì niệm, cúng dường, thọ nhận rồi hồi hướng công đức cho đàn-na thí chủ, đâu có dễ dàng như thế.

Cảm niệm, ghi nhận và nhớ lại những giai đoạn đã qua, cả một quá trình như thế, tôi nghiệm ra rằng chúng ta lúc nào cũng phải cẩn thận, cương quyết, nghiêm túc hành trì Phật pháp, mới đạt được kết quả xứng đáng. Có bao nhiêu công đức xin hướng về mười phương Tam bảo, chúc nguyện Hòa thượng Tôn sư sống lâu, trí tuệ viên mãn. Ngài là cồn đảo, là nơi nương tựa của tất cả chúng ta. Từ ngài, từ sự nương tựa này, chúng ta làm nên, tu hành thành tựu. Trân trọng.

 

Khánh Tuế 27/07 Bính Thân

2016.

Mục Lục