Thiền Tông Việt Nam
Khánh Thọ Bách Tuế Hòa Thượng Tôn Sư
Bậc Tôn Sư Khả Kính - Thông Huệ

Nhớ lại những năm tháng thời niên thiếu, từ ngày chúng con được phát tâm xuất gia tu học tại Tổ đình Sắc Tứ Thiền Lâm - Ninh Thuận, trong mỗi thời kinh khuya, đều thuộc nằm lòng mấy câu trong bài Sám Quy Mạng: 

“.. Sanh phùng trung quốc

Trưởng ngộ minh sư

Chánh tín xuất gia

Đông chơn nhập đạo.

Lục căn thông lợi

Tam nghiệp thuần hòa

Bất nhiễm thế duyên

Thường tu phạm hạnh…”

Có lẽ do nhân duyên nhiều đời kết duyên lành với Tam bảo mà con đường xuất gia học đạo của chúng con luôn được may mắn gặp những bậc Thầy tôn kính, những bậc minh sư lỗi lạc dẫn đường chỉ lối theo đúng chánh pháp: Hòa thượng Bổn sư thượng Đỗng hạ Hải, Hòa thượng Luật sư thượng Đỗng hạ Minh - hai vị Thầy đã un đúc nền tảng sơ cơ căn bản cho chúng con những bước đầu chập chững vào đạo; và đặc biệt là thâm ân giáo dưỡng của Hòa thượng Tôn sư thượng Thanh hạ Từ, tông chủ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, người đã khai mở cho chúng con một tương lai mới trong tu học và hoằng pháp lợi sanh từ thuở ấy cho đến bây giờ. Trong niềm xúc cảm vô biên này, chúng con xin kính dâng lên Thầy - Hòa thượng Trúc Lâm đôi dòng bộc bạch tri ân sâu sắc.

Từ lúc còn tu học tại Tổ đình Thiền Lâm - Ninh Thuận, chúng con đã được nghe uy đức của Hòa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu thời bấy giờ, với thiền phong nghiêm tịnh, đạo tràng khai diễn, nên nuôi chí hằng mong được dự vào pháp hội Thiền gia. Được biết vào năm 1986, tại Thiền viện Thường Chiếu, Hòa thượng chính thức khai mở đạo tràng, trực tiếp hướng dẫn Tăng Ni, phật tử tu Thiền, khơi luồng sinh khí pháp nhũ lan tỏa mọi miền khắp chốn. Nhân duyên hội đủ, chúng con tác bạch xin phép Hòa thượng thượng Đông hạ Minh (cũng là vị Y Chỉ Sư của chúng con lúc bấy giờ) cho phép được nhập chúng tu học tại Thiền viện Thường Chiếu. Với thân tình pháp hữu Linh Sơn từ lâu, Hòa thượng rất hoan hỷ hứa khả, còn viết một bức thư gửi cho Hòa thượng Thường Chiếu (bấy giờ là Hòa thượng Trúc Lâm) để giới thiệu, gửi gắm chúng con được vào nhập chúng tu học Thiền như sở nguyện.

Giữa tháng 10 năm 1986, chúng con được thân mẫu dẫn đón tàu lửa đi từ Phan Rang vào Sài Gòn, sau đó bắt xe về Thường Chiếu. Cầm bức thư giới thiệu của Hòa thượng Luật sư trình lên Thầy, Thầy đọc xong, gật đầu, mỉm cười hoan hỷ thâu nhận con làm đệ tử Y Chỉ cầu pháp nhân duyên. Thầy nói: “Ở đây Thầy đặt pháp hiệu lấy chữ Thông, trùng hợp pháp tự của chú cũng chữ Thông, là Thông Huệ. Pháp tự đó thầy Bổn Sư của chú đặt hay rồi, có ý nghĩa lắm rồi, nên Thầy đặt lại thành pháp hiệu là Thông Huệ cho trùng tên luôn”. Gẫm lại, chúng con tự cảm thấy mình thật diễm phúc biết bao, như đã kết duyên thầy trò từ nhiều đời nhiều kiếp, nay được gặp lại bậc Tôn sư khả kính, lòng càng ngưỡng phục, như có sự khế hợp tâm truyền ngay buổi ban đầu. Trí tuệ của con nhờ lòng từ của Thầy mà được khai mở thông suốt. Từ dạo ấy, đường học đạo của chúng con bắt đầu chuyển sang một trang mới, một phương trời mới với hoài bão giác ngộ giải thoát, thượng cầu hạ hóa của một Thiền giả thực tu, thực học.

Phước duyên hy hữu cho chúng con, sau khi nhập chúng được nửa tháng, Thầy chính thức mở khóa III đào tạo Thiền học, quy tụ hơn 100 thiền sinh chư tăng từ các nơi tập trung về Thường Chiếu nhập chúng tu học theo chương trình đào tạo bài bản từ sơ đẳng đến các bộ kinh luận đại thừa. Thầy đứng ra trực tiếp giảng dạy các bộ kinh lớn như Duy-ma-cật, Thắng Man, Lăng-nghiêm, Pháp Hoa... Bên cạnh đó, còn có các vị giáo thọ trong tông môn tham gia giảng dạy như: HT. Phước Hảo, HT. Thiện Phát, HT. Nhật Quang, HT. Phước Tú... Khóa III Thiền học được đào tạo căn bản chính quy suốt năm năm không gián đoạn (từ năm 1986 đến năm 1991) như chương trình một trường Phật học thực thụ.

Bên cạnh đó, song song với việc trau giồi kiến thức nội điển, Thầy rất chú trọng đến sự công phu tu tập của các thiền sinh. Với phương châm “Thiền giáo song hành”, Thầy xây dựng cho các thiền sinh một môi trường thiền viện chuyên tu với nếp sống mẫu mực, giản dị tri túc, tỉnh giác trong mọi sinh hoạt hằng ngày, biến thiền học thành chất sống trong mỗi hành giả chứ không phải chỉ hiểu biết trên lý thuyết suông được học nơi giảng đường. Thầy thường nhắc nhở các thiền sinh lời dạy của Tổ Khánh Anh: “Tu mà không học là tu mù, học mà không tu là cái đãy đựng sách”. Thường Chiếu vào thời điểm đó, dưới sự hướng dẫn của Thầy được xem là một trong những trung tâm vừa tu vừa học uy tín bậc nhất, được chư tôn đức khắp mọi miền tin tưởng gửi đồ chúng về tham học rất đông đảo. 

Thầy thường ân cần nhắn nhủ cùng môn hạ: “Hoài bão của Thầy đều gởi gắm hết vào sự nỗ lực tu tập của tụi con. Tăng Ni tu có niềm vui, sáng được việc lớn, đó là biết thương tưởng đến Thầy. Bằng ngược lại thì thật là Thầy chưa đủ phước để được vui trước khi nhắm mắt. Bởi vì nguyện vọng khôi phục Thiền tông Việt Nam, đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần của Thầy chưa thành tựu”. Với tấm lòng từ bi của một người cha, Thầy luôn tạo điều kiện tốt nhất cho các học trò của mình tu hành tiến bộ. Sự tu hành tiến bộ của học trò chính là niềm vui của Thầy. Nghĩ đến hoài bão ấy mà huynh đệ chúng con lúc bấy giờ, tuy hoàn cảnh đời sống vật chất thiếu thốn mọi bề, nhưng ai ai cũng cố gắng nỗ lực công phu tu tập và học pháp để xứng đáng là những Thiền tăng tiếp bước thầy tổ.

Ngôi chánh điện Thiền viện Thường Chiếu lúc ấy khiêm tốn đơn sơ, mái lợp tôn, tường gạch thô, vừa làm nơi tụng kinh, vừa làm thiền đường cho chúng tọa thiền. Hằng ngày, ngoài những thời khóa học tập trên giảng đường, các buổi chấp tác “nông thiền”, thì vào buổi đêm, đầu hôm cuối hôm là thời gian công phu tu tập “phản quan tự kỷ” của các thiền sinh. Đích thân Thầy ra hướng dẫn các phương pháp tọa thiền và đi giám thiền cho đại chúng. Tọa thiền được xem là phương pháp điều phục thân tâm hữu hiệu nhất cho hành giả bước vào con đường của sự chứng đạt giác ngộ. Đức Phật cũng do ngồi thiền suốt 49 ngày đêm dưới cội cây Tất-bát-la, tự hàng phục nội ma ngoại chướng mà đạt được đạo quả Vô thượng Bồ đề. Người hành giả muốn sáng việc lớn thì trước tiên phải thể nhập thiền bằng trạng thái thân tâm hợp nhất, thực hành phương pháp tri vọng, làm chủ tâm hành thì mới khả dĩ đạt được kết quả viên mãn.

Một trong những nét đặc thù trong chương trình tu học của thiền viện do Thầy chủ trương đề ra, được xem là bản chất cốt lõi của thiền sinh là khoảng thời gian nhập thất chuyên tu, tự tâm quán chiếu, công phu hành trì để điều phục vọng tưởng, chuyển hóa thân tâm. Chính Thầy cũng nhờ thời gian nhập thất chuyên tu tại Thiền viện Chơn Không (núi Tương Kỳ - Vũng Tàu) mà liễu ngộ lý sắc không, từ đó truyền dòng pháp nhũ tuôn chảy khắp nơi, ngọn đèn thiền tông được chiếu sáng, từ Chơn Không đến Thường Chiếu, Viên Chiêu, Linh Chiếu, Huệ Chiếu, Phổ Chiếu... chảy ngược lên đỉnh núi Phụng Hoàng, rồi tìm về cội nguồn Trúc Lâm trên non thiêng Yên Tử, nơi phát xuất dòng thiền mang đậm bản sắc của đất nước và con người Việt Nam do Phật Hoàng Trần Nhân Tông sáng lập cách đây hơn 700 năm trước, chư vị Tổ sư tiếp nối hoằng truyền. Con đường Thầy đã đi, đã tìm thấy, trở về cội nguồn Yên Tử, như con đường của mỗi hành giả tự quán chiếu để tìm về với “bản lai diện mục” của chính mình bằng quá trình tu tập tự nội.

Bằng kinh nghiệm của người đi trước, những lần chúng con được Thầy khuyến khích cho vào nhập thất chuyên tu, Thầy đặc biệt quan tâm đến thời gian hành trì công phu của những thiền sinh này. Thầy chống gậy đến thăm từng khu thất, hỏi han sức khoẻ và phương pháp dụng công của chúng con có được an ổn và hỷ lạc không, chăn trâu có điều phục được không, có gì trở ngại ách tắc trong quá trình công phu không, hoặc có sáng thêm những kiến giải gì chăng...? Mỗi mỗi Thầy đều ân cần thăm hỏi để biết rõ mà điều chỉnh cho phù hợp hoặc sách tấn cho chúng con những khi nản lòng thối chí. Thật không khác gì tấm lòng từ mẫu, như gà mẹ cẩn thận ôm ấp, chăm chút từng quả trứng để chờ ngày gà con mở mắt chào đời. Mỗi hành giả ra thất với một trạng thái hoan hỷ, an lạc, có chút sở chứng nào, đó là niềm vui lớn nhất của người Thầy khi thấy những học trò của mình dụng công hành thiền có kết quả, nhờ đó mới có thể hoằng pháp lợi sanh bằng chính những kinh nghiệm tu tập. Bản thân Thầy có sự tu chứng nên sự truyền đạt của Thầy là sức sống rạt rào của Thiền phong, bằng sự thân hành của Thiền sư, chứ không phải chỉ là kiến giải bình thường mà có sức thuyết phục thính chúng đến như vậy.

Chúng con tự thấy thật có phước duyên khôn cùng khi được thấm nhuần ơn giáo dưỡng của Thầy. Nếu đời này không đủ duyên dự trong pháp hội của Thầy, có lẽ chúng con cũng chỉ là những gã cùng tử lang thang phiêu bạc khắp phố thị kinh kỳ, hoặc giong ruổi ngược xuôi theo những ngả đường mòn lối cũ, chỉ trở thành một học giả bình thường, hay ứng phú đạo tràng cho qua ngày đoạn tháng. Thầy đã đưa chúng con ra khỏi màn đêm tăm tối, biết rõ đâu là nẻo sáng để trở về, nhận lấy gia tài hằng có tự thuở nào. Chúng con được nương ngọn hải đăng của Thầy sáng rực, biết hướng tìm vào bến bờ an vui. Thầy đã chỉ dạy cho chúng con biết công phu tu tập, chuyển hóa bản thân, sống được với những gì mình đã học, vừa là học giả, vừa hành giả, đem sở học sở tu của mình giáo hóa tha nhân, lợi lạc quần sanh, làm tròn bản nguyện của bậc Như Lai Thích tử. Đó cũng chính là hoài bão của Thầy. Hoài bão ấy, Thầy đặt niềm tin tưởng vào chúng con, những người thừa tiếp Thầy, thắp sáng ngọn đèn Thiền tông mãi mãi sáng ngời trên quê hương đất Tổ, Ngọn hải đăng luôn thắp sáng dù muôn pháp biến đổi vô thường, làm bừng lên ngọn lửa trong tâm mỗi người hữu duyên, trực nhận ánh bình minh hằng hữu của chính mình. Càng nghĩ càng thương Thầy, chúng con lại càng hổ thẹn, không biết có đủ xứng đáng với sự kỳ vọng Thầy đặt vào huynh đệ chúng con hay không? Tự nhủ lòng, phải nỗ lực hết mình, tu học và phụng sự để hoài bão của Thầy được thành tựu viên mãn.

Sau ngày thống nhất, đất nước trong giai đoạn 1986 - 1991 vẫn còn nhiều khó khăn thiếu thốn. Các cơ sở tự viện gần như phải kinh tế tự túc để nuôi sống Tăng Ni. Với trách nhiệm người đứng đầu lãnh đạo các thiền viện, gánh nặng về sinh hoạt đời sống cho mấy trăm thiền sinh được an tâm tu học tại Thường Chiếu và các Chiếu Ni lúc bấy giờ, khiến Thầy phải thao thức ưu tư. Do đó, Thầy đã khéo léo ứng dụng tinh thần nông thiền (thiền trong lao động nông nghiệp) vào đời sống tu tập của Tăng Ni với phương châm: “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (Một ngày không làm, một ngày không ăn).

Tu, học và lao động trở thành ba yếu tố cần thiết quan trọng không thể thiếu của thiền sinh Thường Chiếu. Việc tu được Thầy cụ thể hóa như hơi thở, việc học như uống nước, lao động như ăn cơm. Sức sống ấy đã được các thiền sinh hăng hái chuyển tải từ trên đồng khô ruộng cạn, trên từng nhát cuốc đường cày, lúc đẩy xe kéo củi, khi đào giếng khoét mương... tạo nên một phương pháp tu tập thiền hiện thực trong lao động, cho tất cả thiền sinh thực tập cách “chăn trâu” trên ruộng rẫy.

Những gì Thầy dạy chúng con thì đích thân Thầy cũng đã làm gương, áp dụng phương châm ấy trước. Mỗi sáng Thầy đều đội nón, chống gậy ra đồng với huynh đệ chúng con, trực tiếp hướng dẫn chúng con cách cấy lúa, tỉa đậu, trồng rau... Thầy đi dạo thăm các ban làm việc (ban làm ruộng, ban làm vườn, ban trồng rau, ban trồng đậu, ban ép dầu, ban trồng nho, ban trồng tiêu, ban nhà trù...) động viên các ban nỗ lực để có đủ nguồn lương thực tự túc cho đời sống của chúng. Sự có mặt với nụ cười an nhiên, từ hòa của Thầy trong những thời lao tác như nguồn động lực vô biên cho đại chúng nỗ lực hăng say trong việc sản xuất kinh tế tự túc, đáp ứng cho đời sống của mấy trăm thiền sinh cùng tu học nơi ngôi Đại già lam Thường Chiếu thân thương thời bấy giờ, vốn còn rất khó khăn và thiếu thốn.

Lúc ấy, con được Thầy cho phép đem giống nho ở quê hương Ninh Thuận về trồng thí nghiệm tại đất Thường Chiếu. Tuy có khác biệt về thổ nhưỡng, khí hậu từng địa phương, song do chúng con có nghiên cứu về kỹ thuật trồng giống nho này nên đã đạt hiệu quả tốt, tạo nên một vườn nho (được xem là một trong những loại trái cây ngon, đặc sản tại Thường Chiếu ngày ấy, sau đó các Chiếu khác cũng đến xin để nhân giống và trồng ở các thiền viện Ni) tươi mát, sum suê bên cạnh khu thất của Thầy, tạo thêm sắc màu phong phú, đa dạng cho mảnh đất thiền trang Thường Chiếu thêm màu mỡ, xinh tươi. Những chùm nho chín đỏ mọng nước như những thành quả sau thời gian nỗ lực chăm bón được kính dâng lên trước tiên để cúng dường đức Phật và Thầy, Thầy đón nhận bằng niềm hoan hỷ và thân thương như thấu hiểu cho sự nỗ lực và tấm lòng hiếu kính của hàng đệ tử. 

Thời ấy gian nan mọi bề, mỗi ngày lao tác buổi sáng, chiều học, tối tụng kinh, công phu tọa thiền, nhưng đời sống tu hành của các thiền sinh rất siêng năng, tinh cần mãnh liệt. Huynh đệ yêu thương đùm bọc, sớt cơm chia áo, ham tu ham học, hăng say lao động dưới sự dìu dắt của Thầy. Khắp trong anh em huynh đệ đồng môn, đâu đâu cũng hùng hồn vang vọng như một hành khúc nhiệt huyết của Thiền tăng:

Một ngày không làm là một ngày không ăn 

Dắt trâu ra đồng vừa làm vừa chăn

Trâu đen rồi đây sẽ thành trâu trắng 

Chẳng phí đi kiếp người mới thật là Tăng...

Một ưu ái đặc biệt mà Thầy dành cho chúng con nữa, là Thầy đã chỉ định cho Sư huynh Thông Phương và con tiến hành nghiên cứu và dịch thuật các tác phẩm trong Thiền Học Đại Thành. Huynh đệ chúng con sau khi dịch từ Hán sang Việt, sau đó cầm lên thất trình Thầy, đọc lại để Thầy kiểm duyệt từng chữ, xem chỗ nào chưa đúng thì chỉnh lại. Trong thời gian đó, con đã dịch được hai tác phẩm là: Bá Trượng Ngữ Lục và Khô Nhai Mạn Lục, được đích thân Thầy chỉnh sửa và chứng nghĩa. Qua đó, chúng con mới thấy được sự làm việc nghiêm túc, cẩn trọng và tỉ mỉ của Thầy khi biên soạn, dịch thuật các tác phẩm của chư vị Tổ sư, Thiền sư để làm phương tiện hoằng truyền chánh pháp cho các thế hệ kế thừa mai sau nghiên cứu.

Năm 1995, Thầy chấp thuận theo lời thỉnh cầu của đạo tràng Thái Tuệ (đạo tràng tu Thiền đầu tiên tại Tp.Hồ Chí Minh; sau đó các đạo tràng Tuệ Tâm, Tâm Đức, Sen Xanh, Sen Hồng, Sen Trắng... lần lượt ra đời trên khắp các miền đất nước), sắp đặt cho chúng con về giảng dạy Thiền cho các đạo tràng trong tông môn. Năm 1997, theo lời thỉnh cầu của các Phật tử tại Nha Trang, Thầy hoan hỷ hứa khả cho chúng con được về hành đạo tại miền thùy dương cát trắng Nha Trang - Khánh Hòa, đem dòng Thiền Trúc Lâm mà Thầy đã dày công phục dựng về mở mang tại các tỉnh miền Nam Trung Bộ (Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận). Nhờ uy đức và sự giáo dưỡng mười một năm trường (từ năm 1986 đến 1997) của Thầy, ân cần miệt mài huấn dục mà chúng con có được chút ít vốn liếng tu tập nơi Tổ đình Thiền viện Thường Chiếu, mà giờ đây khi ra làm Phật sự, chúng con hiểu rõ đâu là đường lối tu hành chân chính, giảng dạy, hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử theo đúng chánh pháp và tông chỉ mà Thầy đã chủ trương, kiến lập đạo tràng, xây dựng thiền viện... được thành tựu sở nguyện.

Mỗi mỗi Phật sự chúng con làm, dường như đều có ánh mắt từ bi dõi theo của Thầy, luôn soi sáng, che chở như người mẹ hiền dõi theo đàn con bay vào khung trời tự lập với những chông gai thử thách và cạm bẫy phía trước. Dù thành tựu hay chướng duyên, chúng con đều về trình lên Thầy, đều được Thầy hoan hỷ ân cần hỏi thăm, ngợi khen cho những thành tựu, hoặc động viên, sách tấn, chỉ dạy thêm cho bước đường hành đạo tiếp theo. Thầy dạy: “Thế gian dành cho chúng ta khá nhiều điều bất như ý. Chúng ta phải khéo tu để vượt qua những bất hạnh này. Những thay đổi đau lòng luôn đến với ta, khi chúng đến ta nên cười chẳng nên khóc, vì đó là quy luật của thế gian.” Đời Thầy là cả một kho tàng kinh nghiệm sống, Thầy đã sử dụng kinh nghiệm tự thân để dẫn dắt chúng con trên bước đường tu học và hoằng pháp lợi sanh. Những phút giây được ngồi dưới chân Thầy, nghe Thầy chia sẻ những kinh nghiệm trong cuộc đời tu tập và hoằng hóa của Thầy là những giây phút an lạc, bình an và vững chãi nhất. Chúng con như được tiếp thêm một năng lượng tràn trề từ sức mạnh nội tâm của Thầy, củng cố tâm bồ đề của chúng con càng thêm kiên định.

Thầy từng dạy: “Cuộc sống không có những người nghịch ta, mà chỉ có những người chưa hiểu ta”. Không phải tự dưng chúng con có được sức mạnh tinh thần ấy. Sức mạnh phát khởi từ thẳm sâu tâm thức, khi chúng con nhớ lại công hạnh, đạo đức tỏa sáng nơi Thầy, tự nhủ thầm sẽ dõng mãnh vượt qua mọi chướng duyên, đứng dậy với một niềm tin mới để tiến bước một sức mạnh mới để vượt thắng mọi gian nan thử thách của cuộc đời và lòng người, để mang dòng pháp nhũ của Thầy lưu hóa muôn phương, thực hiện hoài bão mà Thầy đã dày công khôi phục Tổ đạo và đặt trách nhiệm kế thừa lên vai hàng môn hạ chúng con. Thành quả này, tâm niệm này đều từ công đức pháp hóa và sự gia tâm hộ trì của Thầy, Người đã một thời lái đò đưa khách sang sông, giờ đây Thầy lại lèo lái con thuyền Bát-nhã đưa Tăng Ni tứ chúng vượt sông mê hướng về bờ giác. Thâm ân ấy vô cùng vô tận, hàng môn hạ chúng con nguyện khắc ghi đáp đền trong muôn một. Hòa thượng Ân sư luôn ôm ấp một tâm niệm: “Nếu tôi không thể làm một viên linh đơn cứu tất cả bệnh của chúng sanh, ít ra cũng là một viên thuốc bổ giúp cho người bớt khổ”. Công việc Phật sự tuy đa đoan, giảng dạy, đào tạo Tăng Ni, kiến lập đạo tràng, mở mang Thiền tông trên khắp mọi miền đất nước và hải ngoại, nhưng lúc nào Thầy cũng luôn tươi cười, ung dung cao nhàn, hăng hái nhiệt tình, lắng nghe trầm tĩnh. Cách Sống khiêm tốn, hiền lành, giản dị của Thầy là bài học sống động về thân giáo cho hàng môn hạ chúng con hằng tham học. Giác ngộ muôn pháp đều “Huyễn”, nhận chân tính hư ảo của các pháp hữu vi đều là “Mộng”, Thầy sống và làm việc bằng tâm không dính mắc. Hành trạng của Thầy được gặp nhiều nhân duyên hy hữu, nhưng cũng không ít lần trở ngại do thời cuộc xoay vần, nhưng Thầy đều lấy đó làm thắng duyên vượt qua một cách bình ổn an nhiên, chưa một lần thối tâm Bồ-đề, lại càng tỏ rõ cái dũng của một Bậc Đại Sĩ, tùy duyên làm Phật sự như huyễn.

Đối với sự nghiệp phục hưng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử vốn bị mai một tại Việt Nam, Thầy để nhiều tâm huyết cho tâm nguyện tiếp nối ngọn đuốc Thiền của chư Tổ Việt Nam. Trải qua hơn 700 năm dâu bể, từ khi Sơ tổ Trúc Lâm Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông khai sáng, Tổ Tổ trao đèn nối đuốc, dòng Thiền ấy được hồi sinh mạnh mẽ và tuôn chảy khắp nơi trên thế giới, dưới sự ra đời và chấn hưng của Thầy. Thiền viện và các đạo tràng tu thiền có mặt nhiều nơi trên khắp mọi miền đất nước và ở hải ngoại. Thầy từng nói với môn đệ: “Mình là con cháu, phải tiếp nối bước đi của các bậc tiền nhân. Thiền tông Việt Nam là cội nguồn của Phật giáo Việt Nam. Chúng tôi không nỡ để cho sự nghiệp của tổ tiên bị mai một, không đành lòng nhìn thấy người con Phật bối rối quờ quạng không tìm được lối đi trên con đường giải thoát, nên tôi cố gắng cho ra đời những thiền viện, là chỗ đầy đủ thiện duyên cho những người quyết tâm tu hành cầu giải thoát.” Trong hơn 30 năm, từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ngài đã không quản ngại tứ đại khiếm an, phương trời cách trở, lần lượt thành lập các thiền viện trên ba miền Bắc - Trung - Nam và cả ở hải ngoại, để mạch nguồn Thiền tông Trúc Lâm Việt Nam ngày càng rạng rỡ, làm nơi nương tựa tu tập cho Tăng Ni, Phật tử biết đâu là nguồn cội trở về, nhận chân “Phật tâm” sẵn đủ nơi mỗi chúng sanh.

Công đức của bậc Ân sư vô cùng to lớn, tâm nguyện lại càng to lớn hơn. Chúng con được hưởng phước tái sinh trên đạo lộ giác ngộ giải thoát, được sống trong pháp hội của Người, từng phút từng giây hít thở hương thiền. Hình ảnh vị Thiền sư ung dung, thanh thoát mà giản dị, đầy ắp từ tâm đã in sâu vào tâm thức, chan hòa trong nếp sống tu hành của từng tu sĩ xuất gia hay cư sĩ tại gia trong pháp hội Trúc Lâm. Huynh đệ chúng con nguyện cùng nhau nỗ lực tu học, thừa tiếp bước đường Thầy đã dày công vun đắp, không để cho đạo nghiệp của thầy tổ bị mai một. Dòng thiền nước Việt có còn hay không là ở thế hệ chúng con, những pháp tử, pháp tôn hàng môn hạ của Thầy hôm nay và mai sau, nguyền xứng đáng là một hành giả trong tông môn Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Kính bạch Thầy - bậc Tôn Sư khả kính!

“Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ”. Pháp thân thường trụ không đến không đi, thì có gì là sinh diệt còn mất? Dẫu mai này cơn vô thường chợt đến, Thầy xả bỏ báo thân về cảnh Niết bàn, thì dung nghi giải thoát, nụ cười an nhiên của Thầy vẫn luôn hiện diện ở khắp mọi nơi. Thầy có mặt trong từng chiếc lá cành hoa, trong từng đám mây tia nắng. Thầy có mặt trong mỗi chúng con, từng giòng máu, hơi thở luân lưu trong cơ thể mỗi Thiền sinh, trong từng Phật sự mà sau này chúng con phải thay Thầy gánh vác trọng trách cho tiền đồ Thiền tông Việt Nam. Thân chúng con là sự tiếp nối, kế thừa của thân Thầy; và tâm chúng con, khi tĩnh lặng mà thường biết, vẫn cùng tâm "Thầy tương ưng, có bao giờ vắng thiếu. Mỗi ý nghĩ, lời nói của chúng con đều có Thầy chứng minh, mỗi Phật sự chúng con làm đều có Thầy hộ trì, mỗi bước đi trên lộ trình tâm linh nhiều chông gai thử thách, chúng con đều có Thầy động viên sách tấn. Và dưới sự hiện diện chứng minh miên viễn của Thầy, chúng con nguyện sẽ tự đứng lên thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ vô sư, bước đi bằng đôi chân của chính mình, luôn noi gương Thầy một đời cống hiến cho Đạo pháp và quần sanh không mệt mỏi, phục hưng dòng Thiền mang đậm bản sắc văn hóa ngàn đời của dân tộc Việt Nam.

Dù có ca ngợi Thầy trong muôn vàn lời hoa mỹ, vẫn không thể diễn bày hết ân đức Thầy đã dành cho chúng con, cho Phật pháp và nhân sinh. Chúng con nguyện đời đời được kết duyên gặp lại bậc Minh Sư tôn kính, được dự trong pháp hội của Thầy, được Thầy dìu dắt, cùng học cùng tu cho đến ngày giác ngộ, viên thành đạo quả.

Ngưỡng mong trên Thầy từ bi chứng minh cho tấm lòng thành kính của chúng con!

Mục Lục
Khánh Thọ Bách Tuế Hòa Thượng Tôn Sư
Danh sách chương: