Thiền Tông Việt Nam
Khánh Thọ Bách Tuế Hòa Thượng Tôn Sư
Nét Đẹp Trong Văn Hóa Thiền Phái Trúc Lâm Hiện Nay - Tông Huyền

I. MỞ ĐẦU

Có thể nói, Phật giáo đời Trần là thời kỳ hưng thịnh nhất trong lịch sử Phật giáo Việt nam. Phật giáo được coi là Quốc giáo - Phật giáo Nhất tông - Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Nền văn hóa thời nhà Trần phù hợp với thuần phong mỹ tục của người dân chân chất hiền thục nước Việt. 

Với tư tưởng “Lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình” là lời nhắn nhủ của một vị Thiền sư “Quốc sư Trúc Lâm”, đã hằn sâu vào tâm khảm của ông vua “Thiền sư Trần Thái Tông”. Đây cũng chính là “Tâm từ bi” - tinh thần chủ đạo Thiền phái Trúc Lâm xuyên suốt từ xưa cho đến ngày nay. 

Thiền phái Trúc Lâm nhà Trần dần bị mai một. Cho đến cuối thế XX, Hòa thượng Thích Thanh Từ tu hành sáng đạo, khôi phục lại Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Từ đó đến nay, trải qua trên 54 năm (1968-2022), Thiền phái Trúc Lâm ngày càng phát triển. Mỗi người tự nhận ra hòn ngọc của chính mình!

Nét đẹp ban sơ không cần mài gọt, có sẵn từ bao giờ! Hành giả Trúc Lâm biết trở về với tánh sáng từ vô thủy, chỉ cần “trái mai đã chín” là đầy đủ gia tài của báu, không còn lang thang làm “chàng cùng tử”. Vượt lên đối đãi nhị nguyên, vượt lên không gian thời gian, mỗi người hãy nhận lấy hòn ngọc trong chéo áo chính mình.

Từ đây, hình thành nên nét đẹp trong chốn Thiền môn, nét đẹp văn hóa của hành giả Thiền phái Trúc Lâm!

Có thể nói, nét đẹp văn hóa Thiền phái Trúc Lâm rất phù hợp với người dân nước Việt, bởi đó là nét đẹp truyền thống. Mỗi người Phật tử có tâm Phật, có Phật trong tâm nên sống hòa thuận hạnh phúc. Sự ảnh hưởng của Văn hóa Phật giáo góp phần tạo nên một xã hội an lạc bền vững, đáng được tôn trọng trân quý.

II. NỘI DUNG 

1. Ban Quản trị Thiền phái

Trải qua bao biến động thăng trầm, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử rất hưng thịnh thời nhà Trần, Phật giáo là Quốc giáo. Theo quy luật tự nhiên thịnh rồi đến suy. Vào đầu thế kỷ XX, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử gần như mai một hoàn toàn.

Sau thời gian tu hành chứng đắc thiền định, Hòa thượng Thanh Từ đã phát tâm khôi phục lại Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử được khôi phục vào thập niên 1970. Từ đó đến nay, với tinh thần nhập thế, phù hợp xã hội Việt Nam, đã không ngừng phát triển về số lượng Tăng ni, Phật tử. Thiền viện được xây dựng khắp mọi miền. Hòa thượng thành lập ban Lãnh đạo, ban Quản trị Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, nhằm điều hành và lãnh đạo Thiền phái.

2. Tư tưởng

Trong sách “Ba vấn đề trọng đại trong đời tu của tôi” Hòa thượng Thanh Từ nói: “Suốt chiều dài lịch sử ngót 18 thế kỷ, Phật giáo Việt Nam trải qua lắm phen thăng trầm. Ngày nay, chúng ta phải chọn một chặng nào thích ứng với hoàn cảnh hiện tại, tinh thần khế lý khế cơ giúp Tăng ni và Phật tử Việt Nam dễ thấy lối đi, tu hành thoát khổ được vui. Qua nhiều năm ưu tư, chúng tôi khẳng định lấy Phật giáo đời Trần làm cái mốc để xây dựng Phật giáo Việt Nam hiện thời”.

a. Tức Tâm tức Phật 

Có thể nói tư tưởng “tức tâm tức Phật”, xuất phát từ Sơ tổ Bồ-đề-đạt-ma “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Cho đến Việt Nam, vào thời nhà Trần, trong “Thiền Tông Chỉ Nam” của Trần Thái Tông, ghi: Một hôm, vua quyết chí lui về chốn núi rừng, tìm học Phật pháp, đến gặp Quốc Sư Trúc Lâm trên núi Yên tử. Quốc sư bảo: “Trong núi vốn không có Phật, Phật vốn ở trong tâm. Tâm lặng mà biết gọi là chân Phật. Nay Bệ hạ nếu ngộ tâm này thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm bên ngoài”. 

Từ đây, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử lấy “Tâm” làm yếu chỉ tu hành. Sau này Sơ tổ Trúc Lâm Đại Đầu-đà Trần Nhân Tông, trong “Cư Trần Lạc Đạo Phú” có dạy: “Tịnh Độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương. Di-đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc”. 

Hòa thượng Thích Thanh Từ, với tâm Lão bà từ bi tha thiết, ngài đã trên 50 năm vì Phật tử, đã giảng dạy giáo lý Thiền tông khai mở cho biết bao nhiêu người thực hành giáo pháp đạt đến chốn hạnh phúc. Mỗi người hãy quay trở lại nhìn vào tâm mình, không nên nhìn ra bên ngoài “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” như lời Tuệ Trung Thượng sĩ từng dạy.

b. Thiền Giáo đồng hành

Trong lịch sử Thiền tông Trung Hoa, chư vị Thiền sư chủ yếu khai thị những công án, thiền ngữ súc tích, phương pháp “gậy bổng” giúp cho hành giả mở trí, khai tâm. Tuy nhiên, chủ trương của Thiền phái Trúc Lâm, ông tổ Việt Nam nhẹ nhàng thi vị hơn. Các Tổ sư đã kết hợp hài hòa giữa giáo và thiền, được Giáo thọ giảng dạy Kinh điển Đại thừa, các bộ ngữ lục cho người tu Thiền học hiểu. 

Có thể nói, thời khóa tọa thiền tại các Thiền viện thuộc Thiền phái rất quan trọng. Trong suốt thời gian công phu thiền tọa, mỗi hành giả phản quán chính mình.

Đầu tiên pháp quán sổ tức, hít vào thở ra đều biết rõ từng hơi thở, không lẫn lộn số đếm. Sau đó là tùy tức, là theo dõi hơi thở. Hơi thở nhanh chậm nặng nhẹ đều biết rõ ràng. Đây là phương pháp điều thân điều tức để bổ trợ cho hành thiền. Sau thời gian thuần thục, tiếp đến hành giả mới thực hành pháp môn căn bản trọng yếu của Thiền.

Hòa thượng Thanh Từ đã giảng dạy pháp Biết vọng không theo “Tri Vọng” và pháp môn Trực chỉ “Biết có Chân Tâm”, nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, rất phù hợp cho hành giả ngày nay.

Thời gian học giáo lý vào các buổi chiều trong tuần từ thứ 2 đến thứ 7. Tất cả tăng ni, Phật tử ở trong các Thiền viện đều học kinh điển. Với yếu chỉ Thiền giáo song hành, là nét đặc trưng của Thiền phái Trúc Lâm xưa nay so với Thiền tông Trung Hoa.

c. Tinh thần tùy duyên

Phật giáo với tinh thần “vô ngã vị tha”, lý tưởng tối thượng là từ bi cứu khổ. Từ khi mới thành đạo, đức Phật đã dạy các đệ tử: “Này các Tỳ-kheo, hãy lên đường vì hạnh phúc an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích hạnh phúc an lạc cho chư Thiên và loài Người”. Mỗi một hành giả Thiền phái Trúc Lâm xưa và nay với tinh thần tùy duyên nhập thế, hòa nhập vào cuộc sống của quần chúng tùy theo hoàn cảnh thực tế mà làm lợi ích cho mọi người, mọi loài.

Trong “Cư Trần Lạc Đạo Phú”, Sơ tổ Trần Nhân Tông có kệ: “Mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm... ", “dựng cầu đò giồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu”. Có nghĩa là công phu tu hành có được phải hòa nhập vào sự nghiệp vì đất nước xã tắc.

Trên tinh thần giác ngộ giải thoát cho chính mình khỏi sự mê muội khổ đau, cũng chính là bổn phận của người Phật tử Trúc Lâm đưa hạnh phúc an lạc đến cho tha nhân. Hòa thượng Thích Thanh Từ từng nói: “Nếu tôi không thể làm một viên linh đơn cứu tất cả bệnh của chúng sanh, ít ra cũng là một viên thuốc bổ giúp cho người bớt khổ”

Tùy duyên tu tập, tùy duyên sống đạo, hòa hạnh phúc của mình vào với hạnh phúc của tất cả mọi người. Hãy cùng một nhịp đập của trái tim nhân hậu thương yêu hết thảy, vì tất cả chúng ta ai cũng có quyền sống, có quyền hạnh phúc bình đẳng.

Sơ tổ Trúc Lâm dạy: 

“Ở đời vui đạo hãy tùy duyên, 

Đối đến thì ăn mệt ngủ liền. 

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm, 

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”

Mỗi người hãy tùy duyên tự tại, sống thiền an lạc trong từng phút giây, ngay bây giờ và tại đây. 

3. Pháp môn tu tập 

a. Tu tập Tọa thiền

Trong lời giới thiệu của bản “Thanh quy”, Hòa thượng Thanh Từ viết: “Phật dạy ba môn học là văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ... Nên biết, có văn, tư mà không tu thì chúng ta không khi nào hết khổ”.

Trọng tâm của các Thiền viện hiện nay là tu thiền. Tất cả Thiền sinh ở đây lấy Thiền làm mạng sống. Vì thế, trong bốn oai nghi Thiền sinh lúc nào cũng tỉnh giác, song thực hiện trọn vẹn hơn là những giờ tọa thiền.

Thời gian tọa thiền của đại chúng (Thiền sinh), các Thiền viện có sự linh hoạt, nhưng cơ bản là hai thời Công phu chính. Sáng từ 3h15 đến 5h. Tối từ 19h30 đến 21h. Có thể nói, đây là nét đẹp Văn hóa của người hành giả tu Thiền. Trong suốt thời khóa Tọa thiền, Hành giả ngồi yên lặng, hai chân xếp vào nhau (kiết già) mặt nhìn về phía trước, lưng thẳng tư thế nhẹ nhàng không cử động, dụng tâm theo phương pháp Hòa thượng đã chỉ dạy. Nên nhớ trong lúc ngồi thân, miệng, ý đều thanh tịnh vắng lặng.

b. Thời Sám hối sáu căn

Theo nghi khóa Thiền phái Trúc Lâm hiện nay, khóa lễ Sám hối sáu căn được thực hành vào buổi chiều tối, trong tất cả các Thiền viện. Hòa thượng Thanh Từ nói: “Mỗi người ai cũng có thể lầm lỗi, nhưng biết sám hối thì lầm lỗi đó sẽ hết. Sám hối có công dụng giúp chúng ta tiêu trừ những nghiệp cũ, làm sạch những nghiệp mới. Vì thế sám hối là một điều rất thiết yếu” (Khóa Hư Lục giảng giải).

Đến thời khóa tụng kinh 5h45, toàn chúng đều đắp Y hậu chỉnh tề. Thời tụng kinh (Sám hối sáu căn), thường lệ khoảng 1 giờ, nhằm giúp cho hành giả quay về với Chánh pháp, thanh tịnh. Cầu nguyện cho tất cả mọi loài đều được an vui hạnh phúc, giải thoát mọi khổ đau. 

c. Học tập Kinh, Luận

Thời gian đại chúng học tập kinh luận, thường vào buổi chiều từ thứ 2 - thứ 7 trong tuần, thời gian học từ 14h đến 16h. Chương trình học chủ yếu là các bộ Kinh điển Đại thừa, Luận Ngữ lục Thiền tông. “kinh Thủ-lăng-nghiêm; bộ kinh Hoa Nghiêm, bộ kinh Đại Bát-nhã”... Các bộ “luận Đại Trí Độ; luận Đại Thừa Khởi Tín; Pháp Bảo Đàn kinh, Khóa Hư Lục (vua Trần Thái Tông), các tác phẩm của Sơ tổ Trúc Lâm.” 

4. Đào tạo tăng tài, giảng kinh thuyết pháp

a. Đào tạo tăng tài 

Hiện nay, tại Tổ đình Thiền viện Thường Chiếu đã thành lập Trường Thiền thời khóa học 3 năm. Lớp Thiền này gồm các thiền sinh trẻ đã học xong Trung học phổ thông. Thiền sinh học tại trường hoàn toàn nội trú suốt 3 năm. Theo Hòa thượng Nhật Quang (Hiệu trưởng trường Trung cấp Phật học Đồng Nai), sau khi học xong khóa học tiếp tục học chương trình Cao đẳng Thiền học chuyên sâu (3 năm) tại Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức. Trừ những lý do đặc biệt như Cha mẹ mất, Thầy tổ viên tịch hoặc bị bệnh nặng Thiền sinh mới được phép ra ngoài...

b. Giảng kinh thuyết pháp

Phần giảng kinh thuyết pháp, chủ yếu là đề tài giáo lý căn bản, giúp Phật tử dễ dàng lãnh hội áp dụng trong tu tập hằng ngày. Đó là những bài pháp về “Tam quy Ngũ giới, Thập thiện, giáo lý Nhân quả Nghiệp báo. Cũng có những bài pháp nói lên giáo lý cốt tủy như “Tâm tức Phật, Phật tức tâm”. Với pháp môn tu tập phù hợp với mọi căn cơ của mọi người, đã giúp cho hành giả tu tập đạt được nhiều an lạc. Chỉ rõ con đường tu tập Bồ-tát hạnh, quả vị thánh hiền, giúp cho người Phật tử càng thêm tinh tấn.

Tóm lại, giảng kinh thuyết pháp giúp cho người nghe hiểu được giáo lý Phật dạy áp dụng thực hành, chính là đem lại hạnh phúc an vui cho chính mình và cho mọi người, mọi loài. Thiền giáo song hành là pháp tu căn bản của Thiền phái Trúc Lâm xưa cũng như nay, đem lại nhiều lợi ích tự lợi lợi tha.

5. Kiến trúc, thờ tự 

a. Kiến trúc

Tuy tiếp nhận về tư tưởng, pháp môn tu tập theo Thiền phái Trúc Lâm thời nhà Trần, song về mặt kiến trúc Thiền phái Trúc Lâm ngày nay có nhiều sự sai khác. Hầu hết các Thiền viện đều có khu ngoại viện và nội viện. Nội viện là nơi tu học sinh hoạt của Tăng chúng xuất gia. Khu Ngoại viện là nơi sinh hoạt của Phật tử, khách tham quan viếng cảnh chùa. 

Lối kiến trúc, kết hợp cổ kim tạo nên sự hài hòa trong văn hoá Việt, Chánh điện, Nhà tổ, Trai đường, Thiền đường theo lối trực diện trục chính.

Chánh điện, Nhà tổ là trung tâm của một ngôi Thiền viện, vì thế, ngôi Chánh điện được kiến thiết rộng lớn trang nghiêm. Ngôi Nhà tổ được kết nối với Chánh điện tạo nên một không gian thoáng rộng cho những buổi lễ lớn, như ngày lễ Giỗ tổ, lễ Khánh tuế của Hòa thượng Tôn sư. 

Thiền đường, là nơi thiền sinh tọa thiền hằng đêm, nên thường được bố trí sâu vào bên trong Nội viện, vắng vẻ yên tĩnh, thoáng mát rất thích nghi cho việc Tọa thiền của đại chúng. Hằng đêm, vào buổi tối muộn và sáng sớm, tất cả Thiền sinh trong viện đều tập trung lên Thiền đường để tọa thiền.

Trai đường hay nhà ăn của chư tăng, nơi thọ trai hằng ngày của quý Sư. Phật tử có chỗ ăn riêng gọi là Hương Nhũ đường hay khu hành lang Trai đường.

Nhà khách ngay trong cổng tam quan rất thuận lợi cho việc tiếp các đoàn Phật tử đến học pháp tu tập, viếng chùa. Nhà khách cũng là nơi tập tu sinh hoạt dành cho các vị Phật tử theo nếp sống Thiền môn.

Giảng đường khang trang rộng lớn có thể dung chứa đến 500 -700 người nghe pháp. Xung quanh Giảng đường là các dãy ghế dưới các tàng cây mát mẻ giúp người ngồi nghe pháp, khách tham quan có nơi yên tĩnh lắng tâm, tinh thần thanh thản...

Tất cả quần thể Tùng lâm Thiền viện tạo nên một sự hoàn hảo trong không gian yên tĩnh phù hợp cho một nơi lý tưởng Tu tâm. Tất cả những ai đến đây một lần là nhớ mãi, với những an nhiên tịch tĩnh thoát khỏi chốn bụi trần. 

b. Thờ tự 

Việc thờ tự trong các Thiền viện Thiền phái Trúc Lâm xưa và nay cũng có sự sai khác. Chùa Thiền xưa mang tính truyền thống: Bàn thờ giữa Chánh điện là Tam thế Phật (Phật A-di-đà, Phật Thích-ca, Phật Dược Sư). Các vị Bồ-tát thường thờ là Quan Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền; các vị Hộ pháp Phạm Thiên Đế Thích, Thiên Vương... 

Ngày nay, ngôi Chánh điện Thiền phái chỉ thờ tượng đức Phật Thích-ca Mâu-ni lớn tọa thiền kiết già “Niêm hoa vi tiếu” tay phải cầm hoa sen ngay tại gian giữa. Phía bên tay phải đức Phật thờ tượng Bồ-tát Phổ Hiền, bên trái thờ tượng Bồ-tát Văn-thù.

Nhà Tổ phái Thiền thường thờ các vị tổ sư Bồ-đề-đạt-ma... các vị Tổ thiền phái Trúc Lâm như Sơ tổ Trúc Lâm, Nhị tổ Pháp Loa, Tam tổ Huyền Quang. 

Ngoài ra, tùy theo nhân duyên của mỗi Thiền viện mà còn có thêm một số công trình, như Khu tháp Liên hoa và tháp Tỉnh Hương thờ tượng Bồ-tát Địa Tạng Vương, là vị Vương chủ cõi Địa ngục. Ngài luôn khởi lòng từ bi cứu khổ giải thoát cho mọi loại chúng sanh bị đọa lạc trong cảnh giới vô minh tăm tối. Hoặc Thập bát La-hán đường, Điện Văn-thù, Hương tháp Hòa thượng Viện chủ...

III. KẾT LUẬN 

Có thể nói, nền văn hóa của một đất nước là thước đo về văn minh bình đẳng, sự tự do dân chủ của một dân tộc. Đất nước có nền độc lập chủ quyền, kinh tế phát triển thì văn hóa chắc chắn đem lại nhiều an vui hạnh phúc cho người dân cả tinh thần lẫn vật chất.

Qua lịch sử, chúng ta thấy rất rõ thời đại nhà Trần, nền văn hóa Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm góp phần không nhỏ tạo nên những thành tựu trong văn hóa Đại Việt thời bấy giờ.

Ánh sáng Thiền Trúc Lâm một lần nữa được được thắp lên, chiếu khắp! 

Từ ngày Sư ông tuyên bố “đã về nhà, dòng Thiền khởi nguồn trên ánh Tương Kỳ - Chơn Không, đến Thường Chiếu, Phụng Hoàng vỗ cánh tung bay lên miền cao nguyên Đà Lạt, nguồn Thiền từ đây tuôn chảy. Trở về chốn Tổ Yên Tử chùa Đồng, “Niêm hoa vi tiếu” Tây Thiên vẫn còn in dấu. Ánh sáng Thiền “Phổ Chiếu” từ Bắc vào Nam, qua miền Trung Hàm Rồng”, “Bạch Mã”... trở về cội nguồn Thanh Nguyên với ánh sáng “Viên Chiếu, Trí Đức” linh diệu “Linh Chiếu”... Thiền tuệ là không tỳ vết, nét đẹp tinh khôi thanh tịnh.

Nét đẹp văn hóa Thiền phái Trúc Lâm ngày nay là sự tổng hòa trong sự tu học sinh hoạt, hòa nhập vào xã hội. Từ cơ cấu tổ chức, tư tưởng chủ đạo đến thời khóa tu tập. Đặc biệt là các buổi giảng kinh thuyết pháp... tất cả đều hài hòa trong nét đẹp của truyền thống dân tộc Việt Nam.

Trên tất cả, đó chính là người Phật tử Thiền phái có tấm lòng nhân hậu, có đạo đức, tình thương của một vị Bồ-tát, thương người như thương chính mình. Bởi trong tâm của mỗi người đều là Phật, sẽ thành Phật.

Văn hóa của Phật giáo Thiền phái Trúc Lâm, cũng là nét đẹp truyền thống của người con dân tộc Việt Nam yêu quê hương đất nước, yêu chuộng hòa bình. Thiết nghĩ, nếu được hòa nhập với sự kết hợp chọn lọc những điều tốt đẹp trong xã hội ngày nay, hy vọng sẽ là đưa đến cho mọi người mọi loài niềm an vui hạnh phúc, an lạc miên viễn.

Mục Lục
Danh sách chương: