Thiền Tông Việt Nam
Khánh Thọ Bách Tuế Hòa Thượng Tôn Sư
Gặp Thầy - Thuần Giới

Khi còn ở thiền viện Linh Chiếu, có lần chúng tôi được theo Thầy về Phước Hậu - Trà Ôn để dự lễ khánh thành chùa. Sau một ngày nhọc nhằn bận rộn giảng pháp, tiếp khách, buổi tối Thầy dạo ra bờ sông. Chúng tôi ráp theo cả đám đông ngồi vây quanh Thầy để nghe kể chuyện “ngày xưa”. Thầy ngả người trên ghế bố nhìn ra dòng sông ban đêm nước đen ngòm, trầm ngâm trở lui về quá khứ rồi bắt đầu: “Ngày xưa Thầy chèo đò trên sông, lúc đó Thầy còn trẻ...” Chúng tôi xích lại gần ngồi nghe say sưa, cảm động.

Các buổi chiều, Thầy từ Thường Chiếu chống gậy qua Linh Chiếu ngồi võng uống bột và chúng tôi được gần gũi bên võng Thầy. Đây là những lúc vui vẻ cởi mở mà ít ai trong chúng tôi bỏ qua. Thầy nghe chúng tôi kể lể hoặc thưa hỏi và Thầy tùy theo đó giảng dạy. Thời gian và những kỷ niệm thật khó quên. Năm tháng đầu được ở bên Thầy, nếu gặp duyên cớ bên ngoài, Thầy phải tiếp khách lâu, tôi cứ có cảm tưởng mình bị người khác giành mất Thầy. Nghĩ lại, thật là trẻ con.

Sau khoảng tám năm ở Linh Chiếu, tôi xin lên Trúc Lâm Đà Lạt. Thiền viện này được xây cất chu đáo và bên trong tổ chức chặt chẽ trang nghiêm hơn các thiền viện khác. Ngoài số thiền sinh ham tu ở các thiền viện nhà, Thầy còn tạo điều kiện cho các chùa, viện khác. Bất cứ ai hâm mộ Thiền tông, kham được điều kiện trong Thanh quy và được bổn sư gởi tới, Thầy đều thâu nhận. Do đó khi tôi được chuyển lên nhập chúng ở Thiền viện Trúc Lâm Ni Đà Lạt thì Đại chúng đã có đủ sắc màu: Thiền, Tịnh, Nguyên thủy, Khất sĩ. Tôi có thêm nhiều bạn đồng tu mới. Thầy cũng thường ân cần thăm hỏi các đệ tử mới nhập môn.

Thời gian này Thầy đi ra nước ngoài liên tục: châu Mỹ, châu Âu, châu Úc, các nước Đông Nam Á... Chúng tôi ở nhà lao đầu vào các thời khóa tu. Những chuyện đón chào và gần Thầy để thưa hỏi không còn làm tôi nôn hóng như trước nữa. 

Năm tháng trôi nhanh, kết thúc mười năm chuyên tu. Nhiều huynh đệ “xuống núi”, nhất là các thiền sinh từ các chùa viện bạn chia tay với chúng tôi vì các vị bổn sư ở xa nóng ruột trông mong đệ tử trở về. Tôi cũng được Hòa thượng Ân sư dạy ra thiền viện Trúc Lâm Yên Tử ở Quảng Ninh. Tại đây tôi làm tri khách bên Nhà khách nữ để tiếp đón chư ni và Phật tử nữ, Tôi vẫn tiếp tục cuộc đời tu hành: tọa thiền, nhập thất... Thỉnh thoảng có những đoàn Phật tử tham quan đông đúc hoặc chư ni từ xa đến hay ở nước ngoài về xin trú ngụ; nhưng chủ yếu là các Phật tử đến đây để học đạo, tu thiền. Từ các học sinh chín, mười tuổi cho đến các bà ngoài sáu mươi vẫn hăng hái tới thiền viện. Ngoài việc giảng dạy những điều căn bản của Phật pháp, hướng dẫn tọa thiền, tôi hay khuyến khích Phật tứ đặt câu hỏi.

Đôi khi có chút thì giờ rỗi tôi ngồi suy gẫm: Tất cả những khó khăn, trăn trở của Phật tử tôi chưa từng gặp, cũng chưa nghe ai giải đáp. Trong kinh Phật không ghi, lời Thầy dạy không có, nhưng tôi cứ nhấn nha dẫn dắt Phật tử không bỏ sót câu nào và hầu như tất cả đều mãn nguyện. Sự hiểu biết này ở đâu ra? Có phải chư Phật, Bồ-tát và Thầy ở đâu đó trên tôi hay gần bên tôi. Hằng ngày tôi không có ngóng vọng Thầy như hồi xưa. Nhưng mỗi cử chỉ việc làm của tôi như có ý chỉ của Thầy trong đó.

Tôi cứ yên tu và sinh hoạt với các huynh đệ và Phật tử ở thiền viện Trúc Lâm Yên Tử trên đất Bắc như vậy, quên mất thời gian. Chợt một hôm tôi nhận ra chân mình bước đi hơi yếu, mắt mình chập choạng hơi mờ, cái già đến tự lúc nào không hay. Nhẩm tính lại, đã hơn mười hai năm trôi qua rồi còn gì! Tôi lại xin trở về Trúc Lâm Đà Lạt. Núi đồi cao nguyên vẫn im vắng, khí hậu vẫn mát lạnh như ngày nào. Những lời thơ xưa còn văng vẳng đâu đây:

"Non cao gió lạnh mưa bay 

Gậy thiền dạo khắp đông tây Phụng Hoàng.”

Đồi Phụng Hoàng vẫn mưa bay, gió lạnh nhưng “Gậy trúc thiền sư” đâu còn gõ vang trên lối cũ. Các gốc thông chưa thành cổ thụ, nhưng “Lão sư” đang an ổn trên ghế dưỡng già.

Thời gian này Thầy đang ở Thường Chiếu, tôi tiếp tục ở Trúc Lâm Đà Lạt. Không nhìn thấy cũng không vọng ngóng trông Thầy, sợ mất Thầy như ngày xưa. Vì trong tôi đã thấm sâu những dòng sữa pháp ngọt ngào. Đã nếm được ít nhiều hương vị thiền vi diệu. Không phải riêng tôi mà các huynh đệ tôi trong hàng tăng ni, kể cả một số Phật tử gần xa cũng đã thể hiện ra điều ấy. Chúng tôi đã có được dưỡng tố để nuôi thân huệ mạng, không những đời này mà cả những đời sau. 

Thỉnh thoảng tôi mới có dịp đi thăm Thầy. Thầy ngồi lặng lẽ trên ghế nhìn ra, da mồi chân yếu của tuổi gần “bách niên”, nhưng đôi mắt vẫn an tường, hiền hậu nhìn đoàn tử tôn đông đúc. Có khi chúng tôi đứng chắp tay nhìn Thầy ngồi trên xe đẩy đi qua. Tất cả không ai nói năng kể lể ríu rít như ngày xưa, nhưng tôi vẫn cảm thấy mình rất gần Thầy. Tôi muốn thưa thầm với Thầy: “Thầy ạ, cho đến ngày nào xác thân tứ đại của Thầy, của con đều tan rã thành tro bụi và cả đời sau không gặp nhau trong cùng một quốc độ, con cũng cảm nhận rằng con vẫn gặp Thầy và gần Thầy mãi mãi.”

ÂN THẦY 

Xa rồi bao kiếp lang thang,

Gót chân phiêu lãng lạnh băng cuối trời.

Chợt nghe hương ấm ngàn nơi,

Mắt Thầy tỏa xuống ngát đời thiền sinh.

Con nhanh chân, bước đăng trình,

Khoác y hoại sắc tập thiền sớm khuya.

Đệ huynh từng bữa sớt chia,

Những bài kinh kệ xa xưa lạ lùng.

Thầy dìu từng bước chân non

Vạch màn sanh tử không còn lầm mê.

Chúng con biết lối quay về,

Quê nhà bổn xứ gần kề ngay đây.

Mở bày mắt tuệ xưa nay,

Dù chưa rốt ráo vẫn đầy niềm tin.

Trời thiền mở sáng quang minh,

Cạn lời không đủ nói lên ân Thầy.

Mục Lục
Danh sách chương: