|
Khánh Thọ Bách Tuế Hòa Thượng Tôn Sư
Kỷ Niệm Về Hòa Thượng Ân Sư - Hạnh Nhã
Nếu cuộc đời tôi không gặp được Ân sư, bậc đại thiện tri thức, không biết rồi sẽ đi về đâu, tới cõi nào và làm con gì!? Mỗi lần nghĩ tới, tôi không khỏi rùng mình, hướng về Hòa thượng Ân sư thầm thầm tri ân, đảnh lễ! Sau khi ra trường, đi dạy, tôi thường xuyên lui tới bệnh xá của chị ở Vũng Tàu, nhất là dịp hè. Thế là, tôi được Phật tử Diệu Thịnh lúc đó chưa xuất gia, hướng dẫn chị em chúng tôi đi nghe pháp Hòa thượng giảng ở Chơn Không. Có lần Hòa thượng giảng về “Thất xứ trưng tâm”, trong kinh Lăng-nghiêm. Kinh này quá cao so với Phật tử sơ cơ như tôi. Khi Hòa thượng đưa tay lên hỏi đại chúng: “Quý vị thấy gì? - Dạ! Thấy tay Thầy đưa lên” Hòa thượng lại rút tay về, hỏi: “Đại chúng thấy chăng! - Dạ! Không thấy!” Nhân đây Hòa thượng giảng về tánh thấy, tánh nghe, hằng hữu nơi mỗi chúng sinh. Tôi bị rúng động, cứ vẩn vơ trong lòng, dù chẳng hiểu gì sâu sắc, một chút xíu ánh sáng nội tâm, một chút hối hận vì đã đem vọng tưởng so đo nghĩ về những điều xấu xa cho người! Phật tâm của tôi bắt đầu khởi sắc! Năm 1974 Hòa thượng mở lớp giảng Thiền ở chùa Linh Quang và chúng tôi đã may mắn quy y Tam bảo và xin xuất gia với Hòa thượng. Tôi được vào nhập chúng Bát Nhã, nơi đây chỉ việc lo tu học; thời gian lao động dường như một vài tiếng cho có sức khoẻ. Khi đất nước sang trang, Hòa thượng dạy Thiền sinh trẻ chúng tôi xuống rừng canh tác làm ruộng! Chúng tôi hăng hái thêm phần mơ mộng qua các chư vị Tổ sư, tu hành ở rừng núi, ăn trái dẻ, uống nước suối, ngồi an nhiên thị tịch, tự tại muốn đi, ở tùy duyên!... Mới học kinh Kim Cang, kinh Bát-nhã, tứ đại giai không mà! Đã nghe lỏm bỏm kinh Lăng-nghiêm, hãy sống với chân tâm, không được vọng tưởng!!! Lần đầu tiên xuống miền rừng núi, từ lộ chính vào nông trại, không một bóng người, không một ngôi nhà... Vắng ngắt! Con đường mòn nhỏ phủ đầy lau lách! Đến nông trại, đấy là căn nhà nhỏ, không quá bốn mét rộng. Thế mà mười huynh đệ chúng tôi, vừa ngủ, vừa ăn, vừa làm chỗ nấu nướng, vừa tọa thiền! Thật đúng là nhà của ngài Duy-ma-cật! Như thế mà không một thiền sinh nào than phiền! Nông trại Viên Chiếu, nói cho oai, ngoài căn nhà không quá bốn thước vuông, toàn là tre gai, chằng chịt, phải đi theo đường mòn một đỗi xa mới tới đám ruộng, cỏ lúa mịt mù, sương rừng dày đặc! Những thiền sinh trẻ, tay chưa ráo mùi mực, nay phải xuống đồng ruộng. Chúng tôi chưa phân biệt được đâu là lúa, đâu là cỏ, cứ thấy cây nào ngoi cao cao là cắt, (chúng tôi làm cỏ bằng liềm, cắt trước, mọc lại sau, còn sum suê hơn trước). Hòa thượng xuống thăm, kiểm tra, thấy chúng tôi cắt lúa chừa cỏ (Vì có loại cỏ giống y hệt lúa, chúng tôi không thể nào phân biệt được). Hòa thượng lấy tay vạch gốc lúa chỉ dạy: “Các con hãy nhìn xem! Cây lúa có gốc trắng, lá xanh mềm; còn cỏ, lá cứng hơn, gốc có màu tím.” Nghe dạy, chúng tôi đứng lên xem. Ôi thôi! Chúng tôi đã cắt hết lúa, lại chừa cỏ !!!... Hòa thượng dạy tiếp: “Cũng vậy các con! Lúc chúng ta mới tu, không phân biệt đâu là vọng, đâu là chơn. Khi niệm khởi là vọng, khi không khởi niệm, tâm yên bình là chơn!” Bài học sơ cơ đầu tiên Người đã huấn thị cho chúng tôi. Chúng tôi từ đó, chuyên tâm thực hành, nên chẳng lầm lúa và cỏ nữa. Và cũng biết cách chăn trâu, không dám để chạy vào lúa mạ của người. Có lần Hòa thượng dạy chúng tôi bứng chuối ra trồng. Trước tiên Hòa thượng cầm thuổng, xắn xuống bốn phía cây chuối xong, nạy cây chuối lên, lấy thuổng xắn ngang cái đuôi (gốc). Tôi ngạc nhiên hỏi: “Thưa Thầy, chặt như thế, cây chuối sống được không, thưa Thầy?” - “Sao con dại thế! Chặt như thế, nó lại mau ra rễ, mau lên cây chứ! Cũng giống như, khi chúng con phát tâm xuất gia tu hành, phải chặt hết tất cả các duyên quá khứ, tất cả những ràng buộc, dây mơ rễ má, chặt hết không nên để nó lai vãng tới lui, nó sẽ làm chướng ngại việc tu tập của chúng con. Chỉ khi nào chúng con gan dạ buông bỏ tất cả, thì việc tu hành mới có kết quả tốt!” Lại bài học vỡ lòng cho hàng sơ cơ chúng tôi! Chúng tôi “Dạ!”, để rồi mỗi người tự tư duy mà thực hành! Thanh quy Hòa thượng chỉ cho một thiền sinh được ba bộ đồ vạt khách. Hai bộ thay đổi hằng ngày, một bộ để đi ra ngoài; một áo tràng ngồi thiền lễ Phật; một áo nhật bình đi đường và thọ thực (toàn bằng vải thô thường). Khi xuống nông trại, chưa đầy một tháng, áo quần chúng tôi phải vá nhiều lớp, hết mình mẹ, tới mình con, tới mình cháu, mình chắt! Ai cho vải vụn nào thì vá thứ ấy, do đó, giống như một đám tắc kè bông. Mỗi tuần Hòa thượng xuống dạy dỗ động viên chúng tôi. Sau dần dần thấy chúng tôi yên ổn Hòa thượng mới thưa bớt đi! Đấy! Bài học mà Hòa thượng dạy chúng tôi là những bài học thực tế, không trường lớp, nhưng nó tác động vào tâm thức và sự tu tập của chúng tôi biết bao! Huynh đệ chúng tôi, ban ngày vất vả với ruộng vườn, nhưng ban đêm, chị em cũng tích cực sám hối, tọa thiền không xao lãng. Dù vụng về mấy, đến lúc lúa cũng chín. Tôi lên trình Hòa thượng và xin cắt lúa. Hòa thượng dạy: “Ngày mai Thầy xuống!” Lúc Hòa thượng ra đồng, ôi thôi! Ruộng nước mênh mông! Hòa thượng dạy chúng tôi đem dao, rựa, phảng, dọn cỏ chung quanh, làm thành những đường rãnh thoát nước. Ruộng khô, mới có thể cắt được! Hòa thượng lại dạy: “Tu hành cũng vậy đó con! Phải biết cách dụng công thì mới có kết quả! Nếu không, lúc đầu hăng hái, sau rồi đâm ra chán nản, thối tâm Bồ-đề!” Những bài học thực tế, nho nhỏ như thế, chúng tôi chỉ biết im lặng cúi đầu, tư duy để thực hành. Hòa thượng thương chúng tôi, vất vả trong rừng sâu, nên chúng tôi thừa dịp mà nghêu ngao ca hát, Hòa thượng cũng không rầy! Chúng tôi cũng thương Thầy, vất vả vì các con, nên huynh đệ chúng tôi rất hòa thuận, chỉ biết tu học và lao động. Thầy dạy không biết chống trái. Mặc dù lúc ấy là chúng nhỏ trong thiền viện, bị làm Trưởng ruộng, vậy mà khi tôi cắt công tác, quý Sư cô đều phụ giúp, góp ý không hề có thái độ tự cao! Có lần, Hòa thượng nhắn chúng tôi về, tôi lo lắng, “không biết mình có làm bận lòng gì Hòa thượng không?” Về tới Tu viện Chơn Không, quý thầy chỉ cho tôi một mâm cỗ nói: - Thầy đợi cô từ trưa tới giờ và dạy chúng tôi chừa đồ ăn cho cô! - Hú vía! Chắc là không có việc gì? Dùng cơm xong, tôi mặc áo tràng lên thất Hòa thượng. Vừa thấy tôi Hòa thượng dạy: - Sao con về trễ vậy? - Bạch Thầy, con vừa chuẩn bị đi, thì có công an đến, nên tất cả chúng con phải có mặt để họ kiểm tra! - Thầy cho con số tiền này để về lo mướn nhân công làm ruộng. Phật tử nước ngoài mới gởi về cho Thầy thùng thuốc, Thầy dạy Phước Hảo đem đổi được bao nhiêu đó! Cầm lấy số tiền mà tôi muốn khóc, bao nhiêu Thầy cũng dành dụm cho các con. Trong thời buổi kinh tế khó khăn, trong vườn nhãn, mãng cầu, Thầy chăm bón, tới mùa, Thầy bán rồi gởi tiền về cho các chỗ thiếu thốn, còn lại trái vừa vừa Thầy gởi về các thiền viện dùng. Các thiền viện (nông trại), mỗi năm có hai thời vụ là lúa và đậu phộng. Tới mùa thu hoạch đậu phộng, Hòa thượng cũng xuống Thường Chiếu, hái trái, lặt phụ với các thiền sinh. Nói kỷ niệm về Hòa thượng, không bút nào kể hết, thật nhiều, nhiều lắm! Ân sư đã cho các con những bài học quý báu trong cuộc đời tu hành và làm Phật sự. Sau mười bốn năm, Viên Chiếu bắt đầu khởi sắc, Hòa thượng dạy chúng tôi về Trụ trì Huệ Chiếu. Lại là vấn đề cam go! Trước tôi, toàn là những đại tỷ, đạo lực thâm hậu, Hòa thượng dạy về làm Trụ trì mà không ai chịu ở Huệ Chiếu. Nay Hòa thượng dạy tôi về làm trụ trì Huệ Chiếu, trong khi đó tôi lại nhỏ hơn hai cộng sự với mình, là những vị kỳ cựu, có nhiều công lao với thiền viện trước rồi! Tôi khóc đến không thấy đường đi, mà không dám trái lệnh Thầy, khóc đến nỗi hai Hòa thượng Thường Chiếu và Hòa thượng Giác Thiên (lúc đó là Thượng tọa), ngước mặt lên trần nhà, mắt đỏ hoe, giấu đi những cảm xúc của mình! Thế ấy, mà Hòa thượng cũng không thay đổi ý định! Sau này, Phật tử xin tôi về xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm tại đảo Cái Bầu - Vân Đồn. Hòa thượng dạy tôi đi! Nhờ vâng lời Thầy, thắng duyên do những trải nghiệm trước, nhờ ân đức của Hòa thượng, nhờ Thiền phái Tông môn vững chắc, thương tưởng đến chúng con. Nhờ thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Chúng con làm được một chút xíu Phật sự nơi vùng xa xôi biên cương hải đảo này, cũng nhờ bóng mát của quý ngài và huynh đệ trong Thiền phái thương tưởng đến. Hoài bão chúng con là muốn hướng dẫn ni chúng và Phật tử tu tập theo đường lối của Thiền phái Trúc Lâm, tu tốt, học tập tốt, có niềm tin vững chắc với pháp môn và được an lạc nội tâm. Chúng con nguyện Thiền phái Trúc Lâm lâu dài, để không cô phụ công khôi phục của Hòa thượng Ân sư. Nguyện Hòa thượng Ân sư, sống lâu nơi đời, trí tuệ viên mãn, để tất cả hàng hậu học chúng con hướng về! Ngày nào còn thấy bóng của Thầy, chúng con thấy ấm áp, hòa hợp và tràn đầy niềm tin! Nguyện đời đời kiếp kiếp, chúng con được làm đệ tử Sư phụ, cho đến ngày viên mãn thành Phật mới thôi. Xin Sư phụ chứng minh cho chúng con! Mục Lục
|
Khánh Thọ Bách Tuế Hòa Thượng Tôn Sư
|