|
Khánh Thọ Bách Tuế Hòa Thượng Tôn Sư
Thiền Viện Trong Tôi - Như Đức
Khi tôi về tới cổng thiền viện đã bảy giờ tối. Đại chúng vừa xong thời sám hối, những bóng y vàng thoáng đi về liêu phòng, khoác theo bên mình một chút tĩnh mặc. Tôi hít thở nhẹ, buông xuống tất cả xôn xao của đoạn đường giong ruổi. Nằm nghỉ một chút xíu, tiếng chuông báo hiệu thời tọa thiền, mọi người im lặng đem bồ đoàn tọa cụ lên thiền đường. Khung cảnh ban đêm của thiền viện có một chút tự do vì không bị làm việc gấp. Đó là thời khắc tĩnh tọa rất cần thiết để nạp năng lượng. Tôi rất quý trọng giờ tọa thiền buổi tối, buổi khuya. Hiểu rằng chư Phật chư Tổ thiết lập giờ giấc của đêm có lý do xua tan buồn ngủ, để trí yên lắng trong khuôn khổ thời khóa. Tiếng hô thiền ngân vang: Canh một nghiêm trang ngồi tịnh tu Tinh thần tịch chiếu đồng thái hư. Bài hô canh một, bản dịch của Hòa thượng theo Thiếu Thất Lục Môn, đưa về một thời Tổ sư nghiêm hùng như núi. Ánh mắt chiếu soi dữ dội, không nhân nhượng từ bi. Để làm gì? Anh hãy buông xuống những do dự vẩn vơ làm mệt nhoài một đời. Bài kệ của ngài Tịch Thiên cũng nói: Khi không - có hết khởi lên Trong tâm vắng lặng một miền bao la Không còn duyên pháp gần xa Chứng nên cảnh giới rất là tịch nhiên. Hai câu tiếp theo hơi nhanh, nhắc nhở ngừng lặng mọi tìm kiếm: Muôn kiếp đến nay chẳng sanh diệt Đâu cần sanh diệt, diệt gì ư? Chuông đổ hồi chấm dứt một đoạn kệ. Trong sanh diệt tiếp nối có tính lắng nghe thường trụ. Đêm đã xuống trong vùng quê không đèn vàng mờ ảo, không rộn ràng xa mã. Chòm cây đêm hơi phất phơ gió nhẹ, hương ngọc lan thoảng như một lời thì thầm. Chim cũng im bặt, giấu mình trong vòm lá kín. Chút cỏ rối bao ngày dịu dàng phủ xanh miền đất. Gẫm xem các pháp đều như huyễn Bản tánh tự không đâu dụng trừ. Giọng hô thiền tiếp tục, vừa ngân theo nhịp chuông trước chậm, sau mau rồi dứt. Tôi có thể đoán ra hôm nay ai hô chuông, bao năm ở trong chúng vẫn hằng nghe quen. Có người vừa hô kệ vừa đánh chuông nhịp nhàng, có người phải mượn phụ tá đánh giùm hồi chuông cho phù hợp với dòng kệ và tiếng ngân. Có thể giọng hô đã dứt mà chuông vẫn điểm dài. Vì lớn tuổi, dùi chuông thì nặng, đã cố gắng lên giọng thì không đủ sức đổ chuông cho đẹp. May là có mic và loa tiếp sức để âm thanh vang xa. Không gian tĩnh mịch nhuộm đầy âm thanh thiền. Các pháp như huyễn mộng, có lao xao đi qua đi lại rồi cũng rơi rụng, mất hút. Nếu biết tâm tánh không tướng mạo Lặng yên chẳng động tự như như. Một hồi chuông kết thúc, như thường lệ, tiếng niệm Phật cung kính, tiếng đáp đồng vang lên từ thiền đường “Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni”. Tôi luôn luôn yêu thích ba hồi niệm Phật, dị khẩu đồng âm. Tất cả đại chúng đang ngồi rất yên. Đêm phủ xuống màu đen thẳm. Không gian rất tĩnh, rất từ bi với từng dáng ngồi ngay thẳng, trầm mặc, tự mỗi người trở về với chính mình. Trước tiên là không động thân khẩu, tay chân xếp đúng mực trên bồ đoàn. Tâm sẽ lang thang vòng vo, có thể bay bổng trời phương ngoại, hay đôi lúc mơ hồ ngủ quên. Hôn trầm, vọng tưởng là hai bệnh thường xuyên. Nhưng được ngồi yên với chính mình cũng là nhân duyên lớn. Buổi đầu tập ngồi với thân tâm, con đường tu thiền là ngồi yên, đến một lúc mình và cảnh tự như. Ban đêm là thời khắc nguy hiểm, mọi thứ chung quanh đen như mực. Có những hoạt động mờ ám rình rập. Sẽ có những sa sút lạc lối, tâm hoang đàng như khỉ vượn tha hồ hoạt động. Phải có sự canh chừng, tỉnh thức, sợi dây thiền tọa làm khuôn phép mẫu mực, mấy tên khỉ con có leo trèo thế nào đi nữa cũng không ra khỏi vòng rào kiểm soát. Lời huấn thị của Hòa thượng, ngữ lục, sách tấn của Tổ sư luôn đưa chúng tôi về. Con đường được soi sáng, tự tâm mình phải thắp lên, xuyên thấu vọng tưởng, tự điều chỉnh. Như lời thiền sư Cư Hối, “Một đời chỉ dạy chỉ để sửa tay chân cho ngay ngắn”. Theo Hòa thượng học rất nhiều, bao năm cần mẫn bên Thầy, cũng chỉ để tay chân xếp nghiêm chỉnh trong giờ thiền. Được như vậy tâm sẽ ngoan phần nào. Từng giờ ngồi thiền đi qua, chiều tối, sớm khuya cố gắng với chính mình. Nghiệm xét câu: Phong đình ba thượng dũng Lý hiện niệm du xâm. Gió dừng, sóng chưa yên Lý hiện, niệm vẫn đấy. Vọng tưởng đến và đi như trò đùa, có một người biết ngồi tỉnh. Thời đầu khi chúng tôi lên núi học thiền, đặt tên cho Chơn Không là vùng đất hứa. Tuổi trẻ mê truyện Kim Dung, nói lén với nhau Thầy là thiên hạ võ công đệ nhất. Tìm mọi cách thi vị hóa một cõi thiền đã mở ra con đường sống. Ngồi trên xe đò đi Vũng Tàu đã thấy lòng hân hoan. Bước theo con đường dẫn lên tu viện, đặt xuống gánh nặng ưu tư. Cho đến bây giờ mỗi khi đi lại con đường bắt đầu lên dốc, trong tôi vẫn đầy cảm xúc. Các bộ sách thiền, sách Krishnamurti, sách triết hiện đại dẫn chúng tôi đầu quân về với Thầy. Nhưng bước vào cổng tu viện, đừng hòng mang theo một cuốn nhỏ. Chỉ có những giờ học với Thầy, theo chương trình kinh, luận, sử thiền. Thầy giảng dạy với trọn vẹn tấm lòng, dẫn người về quê cũ, trong âm thanh có nắng ấm, trong tiếng cười có sự khinh khoái, xem mọi việc vốn nhẹ như không. Con đường từ hang Ông Hổ dẫn lên cổng tu viện, qua một đoạn dốc hơi cao, hai bên trồng khuynh diệp, lá thuôn dài chao động nhẹ. Gió núi thì lúc nào cũng đầy. Chúng tôi đặt tên là “con đường trăng khuyết”. Vào những ngày có trăng bóng lá in mỏng manh trên đường dốc. Đường lên tu viện trong sáng, mát lạnh và hơi mờ ảo - như thơ: Cửa động Đầu non Đường lối cũ Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi. (Tản Đà) Hàng tràm hai bên thiền đường, cũng lá khuyết nửa chừng, nhưng chúng tôi không dám vọng tưởng đặt tên vớ vẩn. Nơi đây vừa uy nghiêm, vừa đơn sơ, lặng thinh, hùng lực đến từng gốc cây bờ đá. Vào những ngày Thầy dạy, thính chúng ngồi quanh thiền đường, hoặc ngồi dưới các tán lá tràm chăm chú lắng nghe. Không thể có sự xao lãng, ai cũng sợ tâm tư mình vụt bay nửa chừng. Bài pháp nghe lần đầu rất mới lạ. Những bộ kinh luận có thể chúng tôi từng học ở trường, nhưng lời giảng của Thầy có sự khích lệ tin tưởng, trang kinh bỗng trở nên mới. Như hoa từng nở, lá từng thay mầm chồi, mà một hôm thiền sư thấy hoa nở nhận lại chính mình: Ba chục năm qua tìm kiếm khách Bao phen lá rụng lại thay chồi. Từ khi chợt thấy hoa đào nở Rõ ràng hiện tại chẳng nghi ngờ. (Thiền sư Linh Vân) Cần lột sạch vọng tưởng che mờ để mắt thấy tai nghe rõ ràng. Thầy dẫn chúng tôi bước vào cửa thiền qua thơ kệ Tổ sư, quen dần các sự tích thi vị. Nhìn Chơn Không bằng con mắt thích thú, nơi nào cũng bay bổng, có thể vì vui nên đôi khi quá đà. Những bông hoa sứ trắng rụng bên đường nhà khách, đám lá điều bời bời ngổn ngang quanh sân, nét u tịch thanh nhã không làm bận lòng khách đang nằm phơi râu tóc ngủ. Hoa lạc gia đồng vị tảo Điều đề sơn khách du miên. Hoa rụng, trẻ nhà chưa quét Chim kêu, khách ngủ còn say. Thơ thiền Lý Trần đâu thiếu những hình ảnh thi vị. Giá như mình được làm tiểu đồng ở đây. Một thời Chơn Không trôi qua như mộng. Có một cõi cũng đất núi cây rừng, nhưng hình như ở đâu đó trên mây. Không có nhiều kỳ hoa dị thảo, chỉ khi gần tết mấy cây đào rừng nở vương vãi, mây tím chầm chậm trôi qua. Ở bên Thầy, chúng tôi thưa thỉnh những điều vụn vặt. Không biết rằng giờ phút này rất quý. Chỉ vì đám bụi hư vọng thích đùa cợt kẻ sơ cơ. Một dấu ấn trong đời khó phai. Sau này khi Chơn Không được trả lại đất, Thầy rất vui xây dựng lại, và dạy chúng tôi về Bát Nhã, làm mấy cái thất để về già có chỗ nghỉ dưỡng. Khí hậu Viên Chiếu không bằng miền biển. Thấy không nói nhiều nhưng chúng tôi hiểu, lòng Thầy luôn quan tâm thương. Nhưng nếu Thầy còn ở Chơn Không, chúng tôi sẽ bon chen về núi, đi lên đi xuống những đoạn đường dốc quanh co, không ngại gì cất tiếng cười vang như thuở nào. Chúng tôi học bài học mới khi về Viên Chiếu, nếu tính ra thời gian lâu hơn rất nhiều khi ở Bát Nhã. Thầy dạy cách dọn rừng. Đứng trước những gốc cây to sừng sững, cành nhánh chằng chịt, không phải một lúc nhổ lên dễ dàng. Tỉa bớt cành nhánh, đào chặt rễ bàng, mỗi ngày một ít. Coi chừng mầm chồi mới mọc, hễ thấy cành non phải lặt liền. Thầy lấy đầu gậy khẻ một cái chồi non gần tầm tay, “Đó thấy không! Nó rớt liền. Nếu không để ý, lâu ngày khó dọn dẹp.” Chúng tôi nghĩ tới những mầm chồi trong tâm, không biết mặt để canh chừng sẽ có ngày biết tay nhau. Đứa nào cũng hừng hực khí thế, dán chữ tử lên trán, ngữ lục cơ phong viết đầy tập. Vui làm ruộng rẫy vì có Thầy. Mùa lúa đầu tiên, Thầy đi thăm ruộng, chỉ cho chúng tôi thấy nhành lúa cong gọi là cong trái me, sắp chín. Khi lúa chín, những hạt già bắt đầu cúi xuống, gọi là lúa đỏ đuôi, chúng tôi trầm trồ trước bài học về ruộng đồng. Ngày gặt, Thầy đến rất sớm, chúng tôi sắp hàng theo Thầy ra ruộng. Thầy một tay cầm liềm, một tay đỡ những cọng lúa chín, chỉ cách gặt gọn gàng nhanh nhẹn. Ruộng lúa mùa, bông lúa nằm ngả nghiêng không thứ lớp, phải biết lựa chiều của cây lúa để cầm, lưỡi liềm hướng vào thân mình, coi chừng đừng cắt nhầm tay. Mùi lúa, rạ thơm vương vấn, áo Thầy luôn đẫm mồ hôi. Bao giờ thị giả cũng chuẩn bị áo để Thầy thay đổi. Thành quả đầu tiên của những ngày xuống đồng, Thầy còn phải nhắc lời Tổ sư, “Ngày này đều gặt hái, giờ giờ kho lẫm không”. Luôn làm việc, thâu hoạch, phát huy tác dụng nhưng không cất chứa. Bài học của mùa vụ cũng là bài học của đời tu. Giờ nghỉ giải lao, Thầy ngồi trên chiếc võng cột giữa hai cây rừng, chúng tôi lót guốc dép ngồi quanh. Một bầy vịt trời đi đâu về, tắm táp rỉa lông huyên thuyên dưới con suối nước đỏ quạch. Chúng tôi cũng huyên thuyên kể chuyện mùa màng, ít khi để Thầy được thong thả nghỉ ngơi. Thầy lại đọc cho nghe thơ kệ thiền sư, một bài học ngắn: Một năm xuân trọn một năm xuân Cỏ nội hoa đồng mấy độ tươi. Trời sáng không do chuông trống động Trăng soi đâu bởi khách đi đêm. (Thiền sư Bổn ở Vân Cái) Thầy thong thả giải thích. Với người thấy mùa xuân thì đâu đâu cũng là xuân, dù hoa đồng cỏ nội có nở có tàn. (Chúng tôi nhìn quanh rừng Viên Chiếu, cỏ gai và lau sậy rất hoang vu, nhưng không một chút ngán sợ vì có Thầy ngồi kia. Chúng tôi an ổn bên Thầy như có mùa xuân.) Đừng vội đem bản ngã của mình gán vào sự vật, tiếng trống tiếng chuông không phải làm cho trời sáng, trăng sáng tự sáng không phải soi đường cho người đi đêm. Giọng Thầy an nhiên như không có gì quan trọng, dạy học trên núi, dạy học giữa rừng như nhau. Ngày đó, chúng tôi ghi chép biết bao nhiêu thơ kệ, đêm xuống còn ngồi bên đèn dầu, ghi nhớ lời Thầy để nhận ra phút giây này không dễ gì có trong đời. Thầy vẫn nói mình như người đi trong rừng, giữa những lối ngang dọc rậm rạp, bất chợt khám phá ra con đường thoát khỏi nguy hiểm. Thấy đường rồi, đáng lẽ một mình trở về nhà nhanh hơn, nhưng thương những người còn loanh quanh chưa biết lối đi, nên trở lại nắm tay để chỉ đường. Ngày tháng trôi qua như mộng. Gần nửa thế kỷ ở một nơi này. Viên Chiếu thay đổi như mơ, người đến người đi khen tấm tắc, chụp hình góc nào cũng đẹp. Những con chim cu đất, mắt đen loáng nước, thong thả gật gù đi bên chúng tôi khi vắng khách. Đó là người bạn không mời thỉnh. Ban rẫy than phiền là gieo hai đợt bắp giống, đều bị lũ chim mổ ăn hết. Nó không sợ gì mình, kể cả khi bị mấy cô cầm trên tay, buông xuống nó lại mổ hạt tiếp. Có biết rằng ân lớn của Hòa thượng bao trùm trên từng tấc đất, nuôi dưỡng lòng thương đến muôn loài. Những đợt cải lên xanh tốt, nhà bếp ăn không kịp, mấy cô gọi điện cho bạn hàng ngoài chợ. “Có bao nhiêu cô cứ gửi cho con, rau chùa trồng người ta thích mua, đem ra là hết liền.” Thiết lập mối thân tình quanh hàng xóm, các em thiếu nhi tụ họp mỗi chủ nhật ca hát giỡn cười. Có biết trong ly sữa, cái bánh của các em có sự chăm nom của Hòa thượng từ những ngày đầu khai sinh Thiền viện Viên Chiếu. Thế hệ chúng tôi đã già, lớp đệ tử sau chợt thấy có người mang kiếng lão. Ủa! Mới ngày nào còn thanh niên trẻ mạnh, thế sao tóc chợt đổi màu nhanh vậy? Trong biến thiên có thường tại, vẫn y nhiên tọa thiền dù mưa nắng qua nhanh. Sự tỉnh thức Hòa thượng ân cần trao gởi, chúng tôi nuôi dưỡng cho sự nghiệp chính mình. Mục Lục
|
Khánh Thọ Bách Tuế Hòa Thượng Tôn Sư
|