Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 20 - Thiền Tông Trung Hoa 5
Tranh Thiền Tông 9 - Trở Về Nguồn Cội

Mục thứ 8 là một vòng tròn trắng không trâu không người chăn. Nếu ngang đây dừng thì rơi vào chìm lặng, không còn gì cả. Cho nên tới mục 9 vẽ một cội cây lá đang rụng xuống gốc, chim đang vỗ cánh bay về tổ. Tu qua trạng thái lặng lẽ thì mới trở về với thể chân thật. Về với Thể chân thật nhà thiền thường gọi là nhập Phật giới, tức là vào cảnh giới của Phật. 

Dẫn: 

Xưa nay thanh tịnh chẳng nhận mảy trần, xem có tướng phải chịu tươi khô, ở vô vi thì ngưng lặng. Chẳng đồng huyễn hóa đâu nhờ tu hành. Nước biếc non xanh ngồi xem thành bại. 

Giảng: 

Xưa nay thanh tịnh chẳng nhận mảy trần. Bản nguyên chân thật của mỗi người, xưa nay vốn là thanh tịnh không có một vật thì bụi trần làm sao dính được. 

Xem có tướng phải chịu tươi khô, ở vô vi thì ngưng lặng. Nếu là vật có hình tướng thì bị vô thường chi phối nên có tươi có khô, có sanh có diệt, luôn luôn biến đổi. Nếu là vô vi không hình tướng thì chìm trong vắng lặng. Vậy, pháp có tướng thì sanh diệt, pháp không tướng thì chìm trong trống lặng nên phải vượt qua. 

Chẳng đồng huyễn hóa đâu nhờ tu hành. Bản nguyên chân thật của mỗi người không phải là pháp hư dối huyễn hóa thì đâu phải nhờ dụng công tu hành mới được. Vì nó vốn sẵn có như vậy.

Nước biếc non xanh ngồi xem thành bại. Người hằng sống với bản nguyên chân thật nơi mình thì đối với các pháp thấy rõ bản vị của nó, tâm không mê muội dao động vướng mắc. Thiền sư Duy Tín nói: “Ba mươi năm trước, chưa gặp thiện tri thức thấy núi sông là núi sông. Khi gặp thiện tri thức chỉ dạy, thấy núi sông không phải là núi sông. Ba mươi năm sau, thấy núi sông là núi sông.” Giai đoạn thứ ba thấy núi sông là núi sông, là “nước biếc non xanh ngồi xem thành bại”. Đó là trở về nguồn, là phản bản hoàn nguyên. 

Tụng: 

(Phản bản hoàn nguyên dĩ phí công 

Tranh như trực hạ nhược manh lung 

Am trung bất biến am tiền vật 

Thủy tự mang mang hoa tự hồng.) 

Phản bản hoàn nguyên đã phí công 

Đâu bằng thắng đó tợ mù câm 

Trong am chẳng thấy ngoài vật khác 

Nước tự mênh mông hoa tự hồng.

Giảng:

Phản bản hoàn nguyên dĩ phí công. 

Phản bản là xoay lại gốc, hoàn nguyên là trở và nguồn, dĩ phí công là đã tốn công, nghĩa là trở về nguồn gốc quá tốn công. 

Tranh như trực hạ nhược manh lung. 

Tranh như là đâu bằng, trực hạ là ngay đó, nhược manh lung là như mù điếc, nghĩa là đâu bằng ngay đó như mù như điếc. 

Am trung bất kiến am tiền vật.

Am trung là trong am, bất kiến là chẳng thấy, am tiền vật là ngoài cái am, nghĩa là trong am chẳng thấy vật gì ở ngoài am. 

Thủy tự mang mang hoa tự hồng. 

Thủy tự mang mang là nước tự mênh mông, hoa tự hồng là bông tự nó màu hồng, nghĩa là nước tự mênh mông, hoa tự màu hồng. 

Cội nguồn là tâm thể chân thật vốn có sẵn nơi mỗi người, không cần phí công để tìm, không cần phí sức để trở lại. Chỉ cần mắt thấy sắc không phân biệt đẹp xấu, tai nghe tiếng không phân biệt hay dở, thấy nghe mà không phân biệt tốt xấu hay dở cũng giống như mù như điếc, nên nói mù câm.

Am là chỉ cho tâm thể; người tu tới đây chỉ có một tâm thể thênh thang trùm khắp, ngoài tâm thể không có một vật gì khác. Chừng đó mới tự tại thấy nước mênh mông, thấy hoa tự nở hồng nở tía, không bận tâm, không vướng mắc, gọi đó là Trở về nguồn cội hay Vào cảnh giới Phật. Khi vào cảnh giới Phật rồi mà không nghĩ đến chúng sanh khổ để khởi nguyện ra giáo hóa thì quá tiêu cực. Vì vậy mà phải phát nguyện độ sanh, cứu đời.

Mục Lục
Danh sách chương: