TRẤN CHÂU LÂM TẾ HUỆ CHIẾU THIỀN SƯ NGỮ LỤC
Đệ tử nối pháp Huệ Nhiên
viện Tam Thánh biên tập
THƯỢNG ĐƯỜNG
Phủ chủ Vương thường thị cùng các quan thỉnh Sư thăng tòa. Sư thượng đường, nói:
- Sơn tăng ngày nay sự bất đắc dĩ chiều theo nhân tình mới lên tòa này. Nếu nhắm vào tông môn của Tổ sư xưng dương việc lớn thì ngay đó mở miệng chẳng được, không có chỗ các ông để chân. Sơn tăng ngày nay do Thường thị cố thỉnh thì đâu có thể ẩn cương tông, trong hội này có người nào là chiến tướng tác gia thì hãy xổ cờ bày trận, đối chúng chứng cứ xem?
Thăng tòa là lên tòa để thuyết pháp. Xưng dương việc lớn tức chỗ chí yếu trong tông môn, thì không có phương tiện mở miệng được và không có chỗ gá chân.
Vì Vương thường thị cố thỉnh cho nên ngài không thể giấu giếm được, buộc lòng phải nói. Trong nhà thiền những buổi tham vấn thầy trò như hai vị tướng xổ cờ ra trận, nên nói tác gia chiến tướng.
Có vị tăng bước ra thưa hỏi:
- Thế nào là đại ý Phật pháp?
Sư liền hét, tăng lễ bái. Sư bảo:
- Ông thầy này lại nên bàn luận.
Tăng hỏi:
- Thầy xướng gia khúc tông phong ai và nối pháp người nào?
Sư bảo:
- Ta ở chỗ Hoàng Bá ba phen thưa hỏi ba lần bị đánh.
Vị tăng suy nghĩ, Sư bèn hét, tiếp theo đánh, nói:
- Không thể nhắm trong hư không mà đóng đinh được.
Ông tăng rút lui, đó là một bại tướng rồi! Buổi thuyết pháp không giống ngồi nghiêm chỉnh như chúng ta ngày nay.
Có Tọa chủ hỏi:
- Ba thừa, mười hai phần giáo đâu chẳng chỉ rõ phật tánh?
Sư bảo:
- Cỏ hoang chưa từng cày.
Tọa chủ nói:
- Phật đâu có lừa người?
Sư bảo:
- Phật ở chỗ nào?
Tọa chủ đáp không được. Sư nói:
- Ở trước mặt Thường thị, ông muốn lừa lão tăng sao? Lui mau! Lui mau! Làm chướng ngại người khác thưa hỏi.
Tọa chủ là trụ trì bây giờ. Ý hỏi: Thưa ngài, mười hai phần kinh điển của ba thừa, cốt để chỉ rõ Phật tánh phải chăng? Ngài trả lời: Cỏ hoang chưa từng cày. Là sao? Đó là những câu trả lời bí hiểm, những câu này có ý vị, người khéo một chút có thể thấy được.
Ngài nói cỏ hoang chưa từng cày, tọa chủ tức quá nói Phật đâu có dối người, ngài liền hỏi Phật ở chỗ nào? Tọa chủ không đáp được, ngài nói: Ông muốn làm mờ mắt lão tăng sao? Tức là một bại tướng nữa rút lui.
Sư lại nói:
- Ngày nay pháp hội vì một đại sự, lại có người nào thưa hỏi chăng? Mau ra hỏi. Các ông vừa mới mở miệng thì sớm đã không có dính dáng. Tại sao như vậy? Các ông đâu không thấy đức Thế Tôn bảo rằng: “Pháp lìa văn tự không thuộc về nhân mà cũng không ở nơi duyên.” Vì các ông tin không đến, do đó ngày nay mới nói dây dưa, e làm ngại cho Thường thị cùng các quan viên lầm Phật tánh, chì bằng hãy thối lui.
Sư hét lên một tiếng, nói:
- Người gốc tin kém cỏi, trọn không có ngày xong. Đứng lâu. Trân trọng!
Ngài nói hội thuyết pháp này là một đại sự, lại có người nào hỏi nữa chăng, hãy ra hỏi mau. Ngài lại nói: Các ông vừa mới mở miệng thì sớm đã không có dính dáng gì. Bảo hỏi mà nói mở miệng là không đúng rồi.
Pháp đức Phật truyền cho tổ Ca-diếp gọi là Niết-bàn diệu tâm, pháp đó không mắc kẹt trong văn tự, cũng không thuộc nhân cũng không ở nơi duyên. Ngài nói rằng vì các ông tin không được pháp đó buộc lòng ngày nay phải nói tới nói lui, dùng những phương tiện tạm may ra các ông nhận được, còn chỗ chí yếu không có văn tự, không thuộc nhân duyên.
Một vị thiền sư lên tòa, cho phép ai muốn hỏi gì thì hỏi, ngài trả lời hoặc đánh hoặc nạt hoặc làm hành động gì đó. Tham thiền lúc xưa là vậy, còn ngày nay giờ ngồi yên lặng là giờ tham thiền. Tham nghĩa là tham vấn, không phải tham là ngồi yên. Nghe nói tham thì phải ngồi yên rồi cho là tham thiền. Tôi giảng mà không giảng, chỉ nhắc lại lời của tổ Lâm Tế để chúng ta thấy rõ bản ý của Tổ dạy mà tu. Phật tổ muốn dạy mình cái chính mình có, chính mình đầy đủ mà không chịu tin, buộc lòng Phật tổ phải nói cách này cách kia để mình nhận cho ra.
Một hôm ngài tới phủ Hà Bắc, Thường thị mời ngài thăng tòa. Khi ấy Ma Cốc bước ra hỏi:
- Đức Đại Bi có ngàn tay ngàn mắt, mắt nào là mắt chánh?
Sư bảo:
- Đức Đại Bi ngàn tay ngàn mắt thì mắt nào là mắt chánh? Nói mau! Nói mau!
Ma Cốc kéo Sư xuống tòa, rồi chiếm tòa ngồi. Sư đến gần, nói:
- Chẳng rõ.
Ma Cốc vừa suy nghĩ, Sư kéo xuống rồi lên tòa ngồi. Ma Cốc đi ra, Sư liền xuống tòa.
Phủ Hà Bắc nơi Vương thường thị làm tri phủ. Ma Cốc là huynh đệ với tổ Bá Trượng, hỏi Bồ-tát Quán Thế Âm có ngàn tay ngàn mắt, mắt nào là mắt chánh? Ngài không đáp mà lặp lại câu hỏi bảo Ma Cốc phải nói.
Khi Ma Cốc bỏ đi thì ngài bước xuống tòa. Vậy là hết buổi tham thiền, coi như đùa chơi, nhưng cả một đạo lý đầy tràn trong đó. Ma Cốc là đồ đệ lớn của Mã Tổ không phải nhân vật thường. Hỏi Bồ-tát Đại Bi có ngàn tay ngàn mắt, mắt nào là mắt chánh? Nói mắt nào cũng mắc kẹt hết, đó là thuật của thiền sư. Những tay chiến tướng bày trận, cái bẫy đã gài, trả lời là mắc kẹt trong trận mạc rồi, tức là bị hãm trận. Trả lời mắt trên đầu hay mắt dưới chân là chánh... đều bị lọt bẫy của các ngài, tức là thua trận.
Tổ Lâm Tế là tay đặc biệt, nghe nói vậy liền nhắc câu hỏi rồi bảo: Nói mau! Nói mau! Ngài Ma Cốc biết chú này không bị lừa rồi, không còn cách nào hơn kéo xuống tòa, kéo xuống tòa tức là coi như ông biết tôi, rồi ngài Ma Cốc lên tòa ngồi, là hai người cân xứng. Nhưng ngài Lâm Tế bày trận lại, bằng cách đến gần nói: Chẳng rõ! Bên kia tính suy nghĩ đáp, liền bị kéo xuống tòa, lúc đó ngài Ma Cốc thấy rằng đây là tay đối thủ xứng đáng nên bỏ ra đi, ngài Lâm Tế cũng xuống tòa, tức là huề. Đó là tác gia chiến tướng gặp nhau không thắng không bại, chính trong đó tràn đầy đạo lý, nghĩa là cảm thông nhau, chỉ người nào khéo mới thấy được, còn không khéo thì thấy như một trò đùa.
Sư thượng đường nói:
- Trên khối thịt đỏ có một Vô vị chân nhân, thường ra vào trên mặt các ông. Người chưa chứng cứ hãy xem! Xem!
Có vị tăng ra hỏi:
- Thế nào là Vô vị chân nhân?
Sư bước xuống tòa nắm đứng bảo:
- Nói! Nói!
Vị tăng ấy suy nghĩ. Sư buông ra nói:
- Vô vị chân nhân là que cứt khô gì!
Sư liền về phương trượng.
Ông già này thiệt là ông già phi thường. Khi thăng tòa nói: Trên khối thịt đỏ có một Vô vị chân nhân. Cục thịt đỏ nào? Tức là một khối thịt này, trong cái khối thịt này có một chân nhân, chân nhân tức là người chân thật mà không có ngôi vị, ngôi vị tức là chỗ nơi, thường ra vào trên mặt các ông. Người nào chưa chứng cứ được hãy xem! Xem!
Khi đó có vị tăng bước ra hỏi: Thế nào là Vô vị chân nhân? Mới vừa hỏi thế nào là Vô vị chân nhân, ngài liền bước xuống tòa, nắm hai bả vai đứng lại, bảo Nói mau! Nói mau! Vị tăng kia mới vừa suy nghĩ, ngài xô ra cửa nói: Vô vị chân nhân là cái que cứt khô gì? Rồi trở về phương trượng. Nói vậy ai hiểu gì? Trong nhà thiền các ngài không cần lựa những lời văn chương tao nhã, cần nói gì thì nói, nhiều khi rất là thô, rất là thường, mà chính những cái đó còn hoài không mất. Tổ Lâm Tế lúc chưa ngộ đạo là người nghiêm chỉnh nhất, oai nghi nhất, nhưng khi ngộ rồi thì được gọi là phong điên, nghĩa là làm nhiều điều lạ thường. Như ngài muốn chỉ cho thấy cái chân thật của mình ngay trong con người mình, ngay ở trên mặt mình, ngay chung quanh mình, nhưng vừa chỉ ra mà người nào hỏi thì không trả lời. Tăng hỏi ngài lại không trả lời, chỉ nắm đứng bắt nói mau, nói mau. Không trả lời mà bắt nói, biết nói gì? Nên vị tăng suy nghĩ tìm lời nói thì bị xô ra cửa, nói: Vô vị chân nhân là que cứt khô gì? Những câu nói vừa mở vừa úp, vừa bày vừa dẹp của các ngài không cho mắc kẹt. Các ngài nói thẳng thì sợ mình coi thường, mà không nói e mình không biết, nên vừa hé ra muốn chỉ rồi liền tìm cách giấu mất, người nào lanh trí sáng suốt nhận ra mới thấy cái kỳ lạ, đó là sự khéo léo. Thiền đường của các Tổ ngày xưa tham thiền rất đặc biệt.
Sư thượng đường, có vị tăng ra lễ bái. Sư liền hét. Tăng nói:
- Lão hòa thượng chớ có dò xét.
Sư nói:
- Lời ông nói rơi tại chỗ nào? Tăng liền hét.
Cuộc tham vấn này chỉ là một hình ảnh. Ngài bước lên tòa, một người ra lễ bái không hỏi câu nào hết, ngài liền hét. Tăng nói Lão hòa thượng chớ có dò xét, ngài liền nói lời ông nói rơi tại chỗ nào? Tăng hét một cái rồi thôi. Như vậy cả hai vị đều biết vừa mở miệng đã lạc vào vọng tưởng, nên không dùng ngôn ngữ, nếu có dùng thì cũng là nói mà không nói.
Có một vị tăng hỏi:
- Thế nào là đại ý Phật pháp?
Sư liền hét. Tăng lễ bái. Sư bảo:
- Ngươi nói nên hét hay không?
Tăng nói:
- Giặc cỏ đại bại.
- Lỗi tại chỗ nào?
- Tái phạm không tha.
Sư bèn hét.
Tăng hỏi câu lúc xưa ngài hỏi tổ Hoàng Bá, thế nào là đại ý Phật pháp? Tổ Hoàng Bá liền cho ăn một gậy. Bây giờ người khác hỏi, ngài bèn hét một tiếng, thay vì gậy thì hét. Vị tăng đó lễ bái, ngài nói Ngươi nói nên hét hay không? Người ta lễ bái thôi mà hỏi hét hay không? Tăng nói giặc cỏ đại bại, tức là Thầy thua rồi. Ngài nói: Tôi thua chỗ nào? Tôi có lỗi gì? Tăng nói: Tái phạm, không tha! Thầy đã thua rồi còn hỏi thêm lần nữa là tái phạm không tha. Như vậy để thấy ý nghĩa trong buổi tham vấn đều nhắm chỗ vô ngôn, vừa mở lời là sai.
Hôm đó hai vị thủ tọa của hai tăng đường gặp nhau, đồng thời cùng hét. Tăng hỏi Sư:
- Như vậy có chủ khách hay không?
Sư bảo:
- Chủ khách rõ ràng.
Sư lại nói:
- Đại chúng muốn biết câu “chủ khách” của Lâm Tế thì nên hỏi hai vị thủ tọa trong chúng.
Nói xong xuống tòa.
Hai vị thủ tọa gặp nhau đồng thời hét, thì biết ai chủ ai khách! Ngài trả lời: Chủ khách rõ ràng. Ngài lại nói thêm, nếu muốn biết chủ khách thì nên hỏi hai Thầy đồng thời hét đó.
Trong buổi tham thiền có những hình ảnh lạ thấy như khó hiểu, đoạn sau ngài giải thích.
Sư thượng đường. Có vị tăng hỏi:
- Thế nào là đại ý Phật pháp?
Sư dựng cây phất tử lên. Tăng liền hét, Sư liền đánh.
Lại có một vị tăng hỏi:
- Thế nào là đại ý Phật pháp?
Sư cũng dựng đứng cây phất tử lên. Tăng bèn hét, Sư cũng hét. Tăng suy nghĩ, Sư liền đánh.
Sư nói:
- Này đại chúng! Phàm người vì pháp thì không tránh tan thân mất mạng. Ta hai mươi năm ở chỗ tiên sư Hoàng Bá, ba phen hỏi đại ý Phật pháp, ba lần nhờ ơn ngài ban cho gậy, giống như cây chổi quét vậy. Nay muốn ăn một trận gậy, ai là người vì ta làm được việc này?
Lúc đó vị tăng bước ra khỏi chúng nói:
- Con làm được.
Sư liền đưa gậy cho vị tăng. Vị tăng toan nắm gậy, Sư liền đánh.
Ngài thấy lúc xưa tổ Hoàng Bá đánh ba gậy là một cái ơn lớn vô cùng, nhờ đánh ba gậy sạch hết bụi. Như vậy để thấy ăn gậy là một diệu thuật. Lúc xưa tổ Hoàng Bá đánh thì ngài sạch bụi, bây giờ đánh chúng ta thì sao? Càng đánh càng dấy bụi, nổi sân lên thì bụi nhiều hơn!
Sư thượng đường. Có vị tăng ra hỏi:
- Thế nào là việc trên kiếm bén?
Sư nói:
- Việc họa! Việc họa!
Tăng suy nghĩ, Sư liền đánh.
Có vị tăng hỏi:
- Chỉ như hành giả Thạch Thất đạp chày quên giở chân thì đi về đâu?
Sư bảo:
- Chìm đắm suối sâu.
Sư lại nói:
- Chỉ có người đến mà không có thiếu sót y, thảy đều biết chỗ y đến. Nếu đến như thế thì in tuồng như mất đi, nếu chẳng đến như thế thì không dây mà tự trói. Trong tất cả thời chớ thêm bớt loạn xạ, hội cùng không hội đều là lầm, nói rõ ràng như thế, mặc cho thiên hạ bác bỏ. Đứng lâu, trân trọng.
Hành giả Thạch Thất đạp cối giã gạo, chân hạ xuống thì đầu cần giở lên, chân giở lên thì đầu cần hạ xuống, bây giờ đạp mà quên giở chân, hỏi vậy khi đó đi về đâu? Tức là giã gạo mà quên dời chân thì cái chày có giã không? Đâu có giã! Ý hỏi người đã tới chỗ bất động thì lúc đó ra sao? Ngài trả lời chìm đắm suối sâu. Nếu chỉ lặng im mà không có trí tuệ thì như chìm ở suối sâu.
Ngài nói thêm, chỉ có người đến mà không thiếu sót y, thảy đều biết chỗ y đến. Đó là chỗ đặc biệt, bí hiểm mà người tu thường mắc kẹt. Đại đa số người tham thiền nghe Phật tổ dạy không tâm là đạo, hay bặt vọng tưởng là định, rồi để tâm rỗng không hoặc bặt vọng tưởng, cho đó là đạo là định; nhưng phải hay chưa? Ngài Lâm Tế nói đó là chìm ở suối sâu.
Ở đây chúng ta cũng ngồi yên, không tâm và không theo vọng tưởng thì có lỗi gì? Có phải chìm suối sâu hay không? Đó là chỗ phải lưu tâm cho kỹ càng, không khéo thì bị lầm. Ngài nói, chỉ có người đến mà không khiếm thiếu y, nghĩa là tới chỗ lặng lẽ mà không thiếu y, y là ai? Đây là chỗ quan trọng. Lặng lẽ mà không thấy mặt y thì lặng lẽ đó là chìm. Thấy mặt y thì lặng lẽ đó là phải, cho nên nói rằng thảy biết chỗ y đến.
Ngài nói, nếu đến như thế, in tuồng mất đi, còn không đến như thế là không dây tự trói. Trong tất cả thời chớ có thêm bớt loạn xạ, hội cùng không hội đều là lầm, nói rõ ràng như thế, mặc tình cho tất cả người trong thiên hạ bác bỏ. Như vậy trong tất cả thời không nên suy xét cho là ngộ hay không ngộ, hai cái đó đều lầm, mà chỉ thấy cho thật rõ ràng y thì mới được.
Sư thượng đường nói:
- Một người trên đảnh núi cao vót không lối xuống, một người nơi ngã tư đường không biết đi ngõ nào. Người nào trước, người nào sau? Không được làm Duy-ma-cật, không được làm Phó đại sĩ. Trân trọng.
Một người ở trên đảnh núi cao vót, một người ở ngã tư đường, cả hai đều không có lối ra. Ai ở trước, ai ở sau? Không được làm thinh như Duy-ma-cật, mà cũng không được giảng nói như Phó đại sĩ, lúc đó làm sao? Nhưng vừa nghĩ nên làm sao cũng sai luôn. Đó là một lối nói bí hiểm khiến cho không còn cách nào đối đáp được.
Sư thượng đường nói:
- Có một người muôn kiếp ở giữa đường không lìa nhà, có một người lìa nhà mà không ở giữa đường, thì người nào nên thọ trời người cúng dường?
Sư hạ tòa.
Ở giữa đường mà không lìa nhà, lìa nhà mà không ở giữa đường. Hai hạng người đó, hạng nào trời người nên cúng dường?
Thiền tông có lối nói cho nghe mà không cho suy nghĩ. Các ngài khéo dùng những câu nói mà không động lưỡi, nói mà như không nói. Người nào hội được cũng có thể đáp lại, đáp cũng không động môi. Lối đối đáp này mới thật là thiền. Còn chúng ta nói ra có ý nghĩa để suy nghĩ, suy nghĩ kỹ càng rồi đáp lại, đều là nói trong vọng tưởng, nói của lưỡi của môi. Nhưng càng suy nghĩ thì càng xa. Vừa suy nghĩ là ăn đòn, đó là chỗ lạ trong nhà thiền.
Sư thượng đường, tăng hỏi:
- Thế nào là đệ nhất cú?
Sư đáp:
Ấn tam yếu mở bên chấm son,
Chưa cho nghĩ nghị chủ khách phân.
(Tam yếu ấn khai chu điểm trắc,
Vị dung nghĩ nghị chủ tân phân.)
Hỏi:
- Thế nào là câu thứ hai?
Sư đáp:
Diệu giải đâu cho Vô Trước hỏi,
Bọt tan nào dễ chặn dòng sông.
(Diệu giải khởi dung Vô Trước vấn,
(Âu hoà tranh phụ tiệt lưu cơ.)
Hỏi:
- Thế nào là câu thứ ba?
Sư đáp:
Chỉ xem tượng gỗ đùa trên gác,
Dẫn dắt toàn nhờ người ẩn trong.
(Khán thủ bằng đâu lộng khôi lỗi,
Trừu khiên đô tạ lý đầu nhân.)
Sư lại nói:
- Một câu phải đủ ba huyền môn, một huyền môn phải đủ ba yếu, có quyền có dụng. Hết thảy các ông làm sao hiểu?
Sư xuống tòa.
Hỏi thế nào là câu thứ nhất, ngài nói khi ấn tam yếu vừa mở ra thì đã có những điểm son hiện, lúc đó chưa cho khởi nghĩ phân chủ khách. Nếu có chủ khách thì có đối đãi, vừa có đối đãi là nằm trong nghĩ suy. Câu thứ nhất là lúc chưa khởi nghĩ, chưa có chủ khách đối đãi.
Hỏi thế nào là câu thứ hai, ngài nói: Diệu giải đâu cho Vô Trước hỏi, bọt tan nào dễ chặn dòng sông. Câu thứ nhất là nói về thể, câu thứ hai là nói về dụng. Thể thì không có chủ khách, không có nghĩ nghị. Nếu người đạt đến chỗ xuyên suốt rồi thì diệu dụng như dòng sông chảy, bao nhiêu trở ngại giả dối đều không ngăn chặn được, cũng như những hòn bọt tan không chặn được dòng sông. Người đạt đạo được thể rồi thì khả năng diệu dụng của họ không gì ngăn trở được.
Hỏi thế nào là câu thứ ba, ngài đáp: Chỉ xem tượng gỗ đùa trên gác, dẫn dắt toàn nhờ người ẩn trong. Người gỗ do đâu mà múa may được? Do có người ẩn bên trong giật dây. Chúng ta thấy người gỗ tự đứng tự đi tự múa may, không ngờ chính trong đó có sợi dây do người điều động.
Đoạn sau ngài nói người nào ngộ câu thứ nhất cùng Phật tổ làm thầy, người nào ngộ câu thứ hai được nhân thiên cúng dường, người nào ngộ câu thứ ba tự cứu cũng không xong. Câu thứ ba là để chỉ người mắc kẹt trong hình thức giả dối không nhận chân được lẽ thật.
Ngộ câu thứ nhất là ngộ ngay bản tâm chưa dấy động, thấy được bản tâm bất sanh bất diệt, nên nói tam yếu vừa ấn khai thì đã có điểm son hiện, chưa cho suy nghĩ phân chủ khách. Ngộ câu thứ hai là đã thấy được pháp đối đãi không thật, khả dĩ tiến tu được. Đến câu thứ ba tự mình không nhận được chân và giả nên đây dùng thí dụ con rối múa may, mình tưởng lầm đó là thật, chứ không ngờ trong đó có người giật dây, để chỉ cho cái lầm của mình.
Ngài lại nói một câu cần đủ ba huyền môn, mỗi huyền môn phải đủ ba yếu nghĩa, có quyền, có dụng cả thảy làm thế nào mà hội? Khi hỏi tới ba huyền môn và ba yếu nghĩa, ngài trả lời bằng cách khó khăn như vậy để cho mỗi người tự khéo nhận ra. Ngữ lục của các thiền sư thường là vậy.
Tham vấn buổi chiều, Sư dạy chúng:
- Có khi đoạt nhân chẳng đoạt cảnh, có khi đoạt cảnh chẳng đoạt nhân, có khi nhân cảnh đều đoạt, có khi nhân cảnh đều chẳng đoạt.
Đây là Tứ liệu giản, là bốn phương pháp tu của tổ Lâm Tế, trong quyển Vạn Pháp Quy Tâm Lục của ngài Tổ Nguyên có giảng qua, đây không cần lặp lại.
Khi ấy có vị tăng hỏi:
- Thế nào là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh?
Sư bảo:
(Hú nhật phát sinh phô địa cẩm,
Anh hài thùy phát bạch như ty.)
Ngày ấm nảy sinh gấm trải đất,
Hài nhi rủ tóc bạc như tơ.
Tăng thưa:
- Thế nào là đoạt cảnh chẳng đoạt nhân?
Sư bảo:
(Vương lệnh dĩ hành thiên hạ biến,
Tướng quân tái ngoại tuyệt yên trần.)
Lệnh vua vừa ban khắp thiên hạ,
Tướng quân biên ải dứt khói mù.
- Thế nào là nhân cảnh đều đoạt?
- Bặt tin tịnh phần, ở riêng một cõi (Tịnh phần tuyệt tín độc xử nhất phương).
- Thế nào là nhân cảnh đều chẳng đoạt?
- Vua lên điện báu, dân quê hát ca (Vương đăng bảo điện dã lão âu ca).
Tăng hỏi: Thế nào là đoạt nhân mà không đoạt cảnh? Ngài đáp: Ngày ấm nảy sinh gấm trải đất, hài nhi rủ tóc bạc như tơ. Mặt trời mùa xuân ấm áp vừa lên thì nhìn thấy đất như trải gấm, bé con rủ tóc bạc như tơ. Đó là lối nói để trả lời đoạt nhân không đoạt cảnh. Cảnh vẫn nguyên vẹn, rất đẹp đẽ, đây chỉ dẹp người.
Tăng lại hỏi: Thế nào là đoạt cảnh mà không đoạt nhân? Ngài đáp: Lệnh vua vừa ban khắp thiên hạ, tướng quân biên ải dứt khói mù. Lệnh vua ban ra khắp thiên hạ, tướng quân ở ngoài biên cương bặt dứt khói bụi là bặt dứt chiến tranh. Đây là giai đoạn đoạt cảnh mà không đoạt nhân.
Đến câu thứ ba, Tăng hỏi: Thế nào là nhân cảnh cả hai đều đoạt? Ngài đáp: Bặt tin tịnh phần, ở riêng một cõi. Tịnh phần để chỉ nơi chốn quê hương cha mẹ mình, tuyệt tín tức là không còn tin tức. Quê hương không còn tin tức thì riêng ở một chỗ gọi là độc xử nhất phương.
Câu thứ tư, tăng hỏi: Thế nào là nhân cảnh đều chẳng đoạt? Ngài đáp: Vua lên điện báu, dân quê hát ca. Vua vừa lên điện báu, các ông già ở quê cùng hòa hát với nhau, không có gì mà lo sợ nữa, để chỉ thời thái bình thịnh trị. Nhân cảnh đều không đoạt. Tại sao? Khi vua lên ngồi trên điện báu, dân chúng đều âu ca, đó là lúc rảnh rang nhàn hạ nhất, bốn phương đều thái bình. Thiền sư Duy Tín đời Tống có nói: Ba mươi năm trước thấy núi sông là núi sông, khi gặp thiện hữu tri thức chỉ dạy thấy núi sông không phải là núi sông nữa, ba mươi năm sau thấy núi sông vẫn là núi sông. Đó là nhân cảnh đều chẳng đoạt.
Nói lại cho dễ hiểu, thế nào là đoạt nhân không đoạt cảnh? Nghĩa là lúc mới vào cửa thiền, có người chuyên phá vọng tưởng, vọng tưởng vừa dấy lên liền dẹp. Không nghĩ tới cảnh, gọi đó là đoạt nhân mà không đoạt cảnh.
Câu thứ hai, thế nào là đoạt cảnh chẳng đoạt nhân? Thí dụ chúng ta tu, do dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu, thấy cảnh nào cũng biết duyên hợp như huyễn, tự tánh là không, cái gì qua mắt qua tai thấy nghe hiểu biết đều cho nó là không. Một bề dẹp cảnh ngoài mà không nghĩ đến nội tâm, đó là đoạt cảnh không đoạt nhân.
Câu thứ ba, nhân cảnh đều đoạt, lúc đó ngoài không quán cảnh trong không quán tâm, chỉ còn một tâm riêng sáng, không còn tin tức gì bên ngoài.
Câu thứ tư, nhân cảnh đều không đoạt, tâm như như không dụng công nữa, lúc đó như vua lên điện báu, bốn phương thiên hạ âu ca, là thời thái bình thịnh trị.
Như vậy, nếu không khéo hiểu, đọc qua những câu này tưởng như chuyện đâu đâu, thật ra chính là dạy pháp tu. Người xưa dạy tu không dài dòng tỉ mỉ, chỉ người nhận ra mới thấy chỗ thiết yếu.
Sư lại bảo:
- Người học Phật pháp thời nay cốt yếu phải cầu kiến giải chân chánh. Nếu được kiến giải chân chánh thì sanh tử không nhiễm, đến đi tự do, chẳng cần cầu sự thù thắng mà thù thắng tự đến.
Người học Phật đừng tìm cầu những gì lạ lùng, chỉ cần hiểu biết chân chánh tức là trí Bát-nhã. Được hiểu biết chân chánh thì sanh tử không nhiễm, tới lui tự do. Nếu không hiểu biết chân chánh mà hiểu biết theo tà nguỵ thì tất cả cảnh đến làm nhiễm ô tâm, đã nhiễm ô tất nhiên mất tự do. Vì vậy trọng yếu của sự tu hành là phải có hiểu biết chân chánh.
Có nhiều người tu mong thấy những điều lạ, mong được những gì khác hơn thiên hạ, đó là tìm cầu thù thắng. Tổ dạy chúng ta không cần cầu thù thắng, chỉ cần hiểu biết chân chánh, được đó rồi thì thù thắng tự nhiên đến.
Này Đạo lưu! Chỉ như các bậc tiên đức từ xưa đều có con đường cho người ra, như chỗ Sơn tăng chỉ dạy người. Chỉ cần các ông không bị người làm mê hoặc, cần dùng liền dùng, chớ có do dự.
Ngài nói rằng các vị tiên đức thuở xưa dạy đồ đệ đều chỉ phương pháp, chỉ con đường tu hành giải thoát. Riêng chủ yếu của ngài chỉ dạy chúng ta phải tự nhận, tự ngộ tự hiểu đừng có mê lầm, cần dùng liền dùng, chớ do dự nghi ngờ.
Ngày nay người học đạo chẳng được, bệnh tại chỗ nào? Bệnh tại chỗ chẳng tự tin. Các ông nếu tự tin không đến thì mờ mờ mịt mịt, theo tất cả cảnh chuyển, bị muôn cảnh lôi kéo chẳng được tự do. Cáo ông nếu hay dứt hết được niệm niệm tâm tìm cầu, bèn cùng Phật tổ không khác.
Người thời nay học đạo không được tự do tự tại, không được kiến giải chân chánh, lỗi tại chỗ nào, bệnh tại chỗ nào? Bệnh tại chỗ không tự tin ông Phật của mình. Tu hành được tự do hay mất tự do, gốc ở chỗ tin được Phật của mình hay không. Nếu tin được thì làm chủ được, tức là được tự do mà tự do là gốc giải thoát. Nếu không tin được thì bị ngoại cảnh chuyển, tức là mất tự do. Chỉ cần dừng tâm vọng niệm chạy tìm kiếm đầu này đầu kia thì cùng Phật tổ không khác. Ngài chỉ cho chúng ta tường tận không giấu giếm.
Các ông muốn được biết Phật tổ chăng? Chỉ ở trước mặt các ông hiện nghe pháp. Người học đạo tin chẳng đến, liền hướng bên ngoài tìm cầu. Giả sử cầu được đều là tướng thù thắng của văn tự, trọn không tìm được ý của Phật tổ sống. Chớ lầm!
Phật tổ ngay trước mặt, chính là ngay ở nơi người đang nghe pháp. Đó là Phật tổ. Dám nhận chưa? Tự tin chưa? Tổ Lâm Tế thiết tha muốn chúng ta nhận được con người thật, nên nhiều khi dường như ngài mạ lỵ những danh từ Niết-bàn, Bồ-đề v.v... Ngài muốn chúng ta thấy được Phật sống, Phật hiện hữu, không muốn cho mình nhận Phật trên danh từ chữ nghĩa. Ngài chỉ dạy rõ ràng Phật tổ không ở đâu xa, ngay nơi hiện tiền đang nghe pháp. Đây là chỗ những người học đạo tin không đến, bèn hướng bên ngoài tìm Phật tìm tổ. Dù cầu được đều là tướng thù thắng của văn tự, không phải cầu được Phật thật, trọn không được ý của Tổ.
Phật tổ sống chính là người đang nghe pháp, phải khéo nhận thấy Phật của mình thường trực không vắng lúc nào. Nếu không khéo thì thấy có một tí vàng rồi cho cả thau cát đều là vàng, đó là nhận lầm. Hoặc trong thau cát có vài ba điểm vàng, nhưng vì thấy cát nhiều quá nên đổ bỏ hết.
Chư Thiền đức! Lúc này không gặp thì muôn kiếp ngàn đời luân hồi trong tam giới, chạy theo cảnh ưa thích bị dẫn dụ sanh vào bụng lừa bụng trâu.
Nếu không tin nổi Phật của mình, chạy theo ngoại cảnh bị cảnh sắc đẹp mê hoặc lôi dẫn vào trong bụng lừa bụng trâu.
Này Đạo lưu! Như chỗ thấy của Sơn tăng cùng Phật Thích-ca không khác. Hiện nay nhiều thứ thần dụng, thiếu khuyết cái gì? Sáu đạo thần quang chưa từng cách dứt. Nếu hay thấy được như thế, chỉ một đời làm người vô sự. Đại đức! Ba cõi không yên như trong nhà lửa, đây không phải chỗ các ông dừng ở lâu. Quỷ vô thường giết người trong khoảnh khắc không chọn lựa người sang kẻ hèn, người già kẻ trẻ.
Ngài dám nói chính cái thấy của mình cùng Phật không khác, vì sao? Nơi ngài suốt mười hai năm tâm không động, nơi sáu căn đều thấy đó là lục thần thông. Sáu đạo thần quang là ánh sáng thần chưa bao giờ gián đoạn thôi dứt. Người thấy được như thế thì chỉ ngay đời này làm người vô sự. Ba cõi này không yên như trong nhà lửa, đây không phải là chỗ chúng ta dừng trụ lâu. Quỷ vô thường giết người trong khoảng sát-na, luôn luôn đuổi theo, không lựa bỏ ai hết, già trẻ cũng bắt, quý tiện cũng giết.
Các ông muốn cùng với Phật tổ không khác, chỉ chớ tìm cầu bên ngoài. Trên một tâm niệm sáng suốt thanh tịnh của ông là Phật pháp thân trong nhà ông. Trên một tâm niệm sáng suốt không phân biệt của ông đó là Phật báo thân trong nhà ông. Trên một tâm niệm sáng suốt không sai biệt của ông, là Phật hóa thân trong nhà ông. Ba thứ thân này là người hiện nay nghe pháp trước mặt các ông đó. Chỉ không hướng bên ngoài tìm cầu liền có công dụng này.
Nếu muốn cùng với Phật tổ không khác, đừng tìm kiếm bên ngoài. Tâm niệm thanh tịnh sáng suốt là Phật pháp thân, tìm đâu chi cho xa. Tâm niệm không phân biệt sáng suốt thanh tịnh là Phật báo thân. Tâm niệm không sai biệt sáng suốt là Phật hóa thân. Ngay nơi mỗi chúng ta có đủ cả Phật pháp thân, Phật báo thân, Phật hóa thân. Ba ông Phật này chính là người biết nghe pháp hiện diện trước mặt chúng ta chứ không ở đâu xa. Vậy thì lo cái gì, buồn cái gì, kiếm cái gì? Sao không tự tin mình thành Phật? Ba ông Phật ngồi sờ sờ đó mà không tin là sao? Chỉ cần không hướng ngoại tìm kiếm, liền có công dụng này. Ngài Lâm Tế nhiệt tình không giấu giếm chỉ thẳng cho chúng ta thấy.
Cứ theo các nhà kinh luận lấy ba loại thân làm phép tắc cùng tột, còn chỗ thấy của Sơn tăng thì không như thế. Ba loại thân này chỉ là danh ngôn, cũng là ba loại nương tựa. Người xưa nói: “Thân nương nơi nghĩa mà lập, cõi y cứ nơi thể mà luận, pháp tánh thân, pháp tánh độ, rõ biết là quang ảnh (bóng sáng).”
Theo các nhà kinh luận lấy ba thân làm phép tắc cùng tột, còn chỗ thấy của ngài thì không phải như vậy, vì ba thân ấy chỉ là danh ngôn, cũng là ba thứ nương tựa. Cổ nhân nói rằng thân y nơi nghĩa mà lập, cõi nước thì căn cứ nơi thể mà bàn, biết thân pháp tánh cõi pháp tánh chỉ là bóng sáng (quang ảnh) thôi chứ không phải thật.
Này Đại đức! Các ông hãy nhận biết người đùa quang ảnh ấy là bản nguyên của chư Phật, tất cả chỗ là chỗ các ông về nhà.
Nói rằng thân pháp tánh, cõi pháp tánh v.v... chỉ là quang ảnh, nhận ra người đùa giỡn với quang ảnh là điều quan trọng. Đó là bản nguyên của chư Phật, là tất cả chỗ nơi, là nhà để chúng ta trở về.
Sắc thân tứ đại của các ông không biết nói pháp, nghe pháp. Gan mật phèo phổi không biết nói pháp, nghe pháp. Hư không không biết nói pháp, nghe pháp. Như vậy cái gì biết nói pháp và nghe pháp? Là cái rõ ràng trước mắt ông, một cái riêng sáng suốt, cái này biết nói pháp và biết nghe pháp. Nếu thấy được như thế liền cùng Phật tổ không khác.
Trong thân chúng ta đất nước gió lửa biết nói pháp và nghe pháp không? Thí dụ nơi lỗ tai, căn cứ vào phần da thịt và máu thì thuộc về tứ đại, tứ đại của tai không nghe pháp được, mà nghe pháp là hẳn phải có cái gì trong đó. Cũng như thân tứ đại của tôi không nói pháp được. Nếu cứ nhận da thịt máu mủ, tứ đại này là mình, rồi phải theo chúng hoại diệt. Nhận được tánh biết nói, biết nghe... rõ ràng sáng suốt mới không bao giờ tan hoại.
Ngài dạy rõ sắc thân tứ đại không biết nói pháp, nghe pháp. Hư không cũng không biết nói pháp nghe pháp. Cái riêng sáng rõ ràng ở trước mắt các ông mới biết nói pháp, biết nghe pháp. Phải nhận ra cái đó, nếu không nhận ra thì uổng phí một đời. Người nào nhận ra được thì cùng Phật tổ không khác, khỏi tìm kiếm Phật tổ đâu xa.
Chỉ trong tất cả thời lại chớ cho gián đoạn, chạm mắt đều phải. Chỉ vì tình sanh thì trí cách, tưởng biến thì thể sai khác, cho nên luân hồi trong ba cõi chịu các thứ khổ. Theo chỗ thấy của Sơn tăng, thảy đều là thậm thâm, thảy đều là giải thoát.
Nhận ra cái đó rồi, cốt yếu làm sao trong tất cả thời đi đứng nằm ngồi đừng cho gián đoạn, đừng cho những vọng tưởng phân biệt chen vô làm gián cách. Nếu vậy thì không còn nghiệp nào lôi người đó được. Đó là chỗ đặc biệt, là ý chỉ tu hành.
Thiền tông cốt chỉ cho chúng ta nhận ra cái đó, nhận ra và sống được như vậy rồi tức là một đời giải quyết xong, không còn lo sợ. Như vậy thì chạm mắt đều là phải, cái gì cũng sờ sờ trước mắt hết.
Tình vừa dấy lên thì trí bị cách ngại, vọng tưởng vừa biến hiện thì thể đã khác đi, lỗi tại chỗ đó. Nếu tình không sanh thì trí đâu bị cách trở, nếu tưởng không dấy lên thì thể hiện hoàn toàn. Tình sanh tưởng dấy thì luân hồi trong tam giới, chịu các thứ khổ.
Những lời nói này thiết yếu làm sao! Chúng ta nghe nhận được lý này rồi thì thấy việc tu không xa lạ, rõ ràng trước mắt, không còn chút gì ngờ vực.
Nhắm vào chỗ thấy của Sơn tăng thì thảy đều là rất sâu, thảy đều là giải thoát. Như vậy người nào tình không sanh, tưởng không dấy thì người đó ở đâu cũng là thậm thâm, ở đâu cũng là giải thoát, không phải tìm tới cõi này cõi kia mới là thậm thâm, mới là giải thoát.
Này Đạo lưu, tâm pháp vô hình thông suốt cả mười phương, ở mắt gọi là thấy, ở tai gọi là nghe, ở mũi ngửi mùi, ở lưỡi nói bàn, ở tay thì nắm bắt, ở chân thì đi chạy, vốn là một tinh minh mà phân thành sáu hòa hợp.
Tâm pháp chính là chỗ ngài chỉ dạy, cái đó không hình mà thông suốt cả mười phương. Ở tại mắt thì gọi là thấy, ở tại tai gọi là nghe, ở tại mũi gọi là ngửi mùi, ở tại lưỡi là đàm luận, ở tại tay là nắm bắt, ở tại chân thì bước đi vận dụng. Vốn là một tinh minh phân thành sáu hòa hợp. Kinh Lăng-nghiêm nói, chỉ là một chân tâm minh tịnh vì ứng hợp sáu căn nên gọi là sáu hòa hợp.
Một tâm đã không, tùy chỗ giải thoát. Sơn tăng nói thế ấy, ý tại chỗ nào? Chỉ vì tất cả các ông chạy tìm tâm không thể dừng, leo lên cơ cảnh nhàn của người xưa.
Nếu một tâm đã không, tức là không có tâm niệm dấy lên, thì chỗ nào cũng là chỗ giải thoát. Sở dĩ chúng ta tu mà không giải thoát vì tâm lăng xăng chạy tìm bên này bên kia không thôi dứt, chạy lên trên cơ cảnh nhàn của cổ nhân. Cơ cảnh nhàn tức là những sách vở, danh từ của người xưa; chỉ một bề bám vào đó không chịu nhận lấy cái của mình.
Này Đạo lưu, nhận lấy chỗ thấy của Sơn tăng, ngồi chặt đầu Phật báo và hóa. Hàng Thập địa mãn tâm giống như người khách. Đẳng giác Diệu giác như kẻ mang gông, La-hán Bích-chi như đồ xí uế, Bồ-đề Niết-bàn như cọc cột lừa.
Chỗ này ngài nói quá mạnh, người thường nghe chịu không nổi. Tại sao ngài dám nói như vậy? Bởi vì chúng ta cứ một bề chạy theo danh từ, nghe nói Thập địa thì học thuộc lòng: Sơ địa là gì, Nhị địa là gì,... cho tới Thập địa. Học thuộc làu rồi suy nghĩ, địa này như thế nào, địa kia như thế nào. Chỉ học suông trên danh từ mà không thật chứng. Cho đến Đẳng giác, Diệu giác cũng thế, cứ ôm một mớ danh từ, ý nghĩa suy luận mà không ngộ được Phật thật.
Càng nhiều danh từ chừng nào thì càng mang gông cùm nhiều chừng nấy. Mang danh từ Phật, Niết-bàn, Bồ-đề rồi loạn tưởng, chứ không thành Bồ-đề Niết-bàn. Người học Phật pháp, dù hiểu thông suốt nói thao thao cũng không giải thoát được. Chỉ bặt hết những vọng tưởng, sống với Phật thật của mình mới giải thoát.
Như cứ nói ba thân Phật: pháp thân, báo thân, hóa thân. Pháp thân nghĩa là gì, báo thân nghĩa là gì, hóa thân nghĩa là gì... Chấp vào Phật danh từ là quên mất Phật thật, chi bằng chỉ một tâm thanh tịnh sáng suốt, đã đủ ba thân Phật; đó mới là Phật thật. Tổ Lâm Tế không đành lòng thấy lối học từ chương như vậy, nên ngài dùng những danh từ mạnh mẽ, dám nói Đẳng giác Diệu giác như là gông cùm. Lối nói của ngài cùng với ngài Đức Sơn, đều là vì nóng lòng thương xót cho sự khờ dại của chúng ta. Cái thật mà không chịu thấy không chịu nhận, cứ chạy theo danh từ.
Trong nhà thiền kể chuyện Tứ Tổ đi đến chỗ ngài Ngưu Đầu Pháp Dung, thấy chung quanh toàn là cọp sói nằm đứng lăng xăng. Tổ đưa tay lên làm thế sợ, ngài Pháp Dung ra vẻ tự đắc hỏi: Ngài vẫn còn cái đó sao? Tổ liền hỏi: Cái đó là cái gì? Ngài Pháp Dung không đáp được. Lát sau đến phiến đá Pháp Dung ngồi, Tứ Tổ vẽ chữ Phật to tướng, Pháp Dung nhìn thấy giật mình, Tổ hỏi: Ông vẫn còn cái đó sao? Ngụ ý chuyện này nói Phật sống thì quên, còn Phật chữ thì lại nhớ. Sợ Phật chữ mà quên Phật sống của mình, khổ chưa?
Chúng ta cũng vậy, cả ngày tìm Phật bên ngoài, nghe trên núi nào có khối đá giống Phật, cũng chạy đến đó lễ bái cầu Phật, mà Phật của mình thì bỏ quên. Các Tổ thường nói vác Phật tìm Phật là như thế. Chi bằng trực ngộ được Phật của mình, Phật đó mới là Phật thật.
Đâu phải riêng các Tổ, chính trong kinh Pháp Hoa Bồ-tát Thường Bất Khinh cũng làm như vậy, ngài thường nói các ông sẽ làm Phật, có khả năng làm Phật, tôi không dám khinh các ông. Chỉ cần nói như vậy để mọi người tin được Phật của họ, đó là trách nhiệm thiết yếu của người truyền đạo giác ngộ.
Tại sao như thế? Chỉ vì các ông không thấu được ba kỳ kiếp là không, nên có chướng ngại này. Nếu là đạo nhân chân chánh trọn chẳng như thế, chỉ “tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm”, cần đi thì đi, cần ngồi thì ngồi, tâm không một niệm mong cầu quả Phật. Vì sao như thế? Cổ nhân nói: Nếu muốn tạo nghiệp cầu Phật, Phật là điềm lớn sanh tử.
Chúng ta nghe nói tu muốn thành Phật phải trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp, thấy dài đăng đẳng. Tu hành đời này một ít đời sau một ít, gom góp thời gian lâu xa mới thành Phật, đó là thấy thật có kiếp số. Nếu đạt được ba a-tăng-kỳ kiếp tự tánh là không, chỉ Phật hiện tại sống đây mới là thật, nhận được vậy thì còn gì chướng ngại.
Bậc đạo nhân chân chánh chỉ tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm. Thấy Phật của mình rồi thì đi đứng nằm ngồi đều có Phật, thiếu thốn chỗ nào? Cần đi liền đi, cần ngồi liền ngồi, không một niệm tâm mong cầu Phật quả. Vì sao nói nếu muốn tạo nghiệp cầu làm Phật, Phật ấy là điềm lớn sanh tử? Vì còn khởi tâm mong cầu, dù cầu làm Phật cũng là còn tạo tác chưa được chỗ thôi dứt.
Này Đại đức, thời giờ đáng tiếc, chỉ nghĩ đến nhà bên lăng xăng học thiền học đạo nhận danh nhận cú, cầu Phật cầu tổ cầu thiện tri thức, chớ lầm như vậy.
Trước ngài chỉ thẳng rồi, giờ mới khuyên: Thời giờ đáng tiếc, chỉ toan chạy ra bên ngoài lăng xăng học thiên học đạo, nhận danh nhận cú, cầu Phật cầu Tổ cầu thiện tri thức, chớ lầm.
Này Đạo lưu, các ông chỉ có một cha mẹ lại còn cầu vật gì? Các ông tự phản chiếu xem. Người xưa nói: Diễn-nhã-đạt-đa quên mất đầu, tâm cầu dứt sạch liền vô sự.
Cha mẹ là gì? Cha mẹ là người nói pháp nghe pháp sẵn đó, còn cầu gì bên ngoài nữa! Ngài nhắc chúng ta phản chiếu nhìn lại mình để thấy bộ mặt thật. Đây dẫn hai câu thơ của cổ đức: Diễn-nhã-đạt-đa thất khước đầu, cầu tâm kiệt xứ tức vô sự.
Trong kinh Lăng-nghiêm nói thí dụ về Diễn-nhã-đạt-đa soi gương. Chàng Diễn-nhã-đạt-đa soi gương, thấy đầu mặt trong gương cho là đầu mặt thật. Úp gương lại không thấy đầu mặt, hoảng hốt chạy điên cuồng suốt ngày, nói “tôi mất đầu”. Làm sao cứu anh ta? Chỉ cần đừng nhận đầu mặt trong gương là thật, nhìn lại thì đầu mình sờ sờ đó chứ gì. Vì chấp đầu mình ở trong gương, nên nói đầu thật mất. Thí dụ này hay đáo để. Lúc xưa tôi cho rằng việc đó vô lý, ai mà nhìn bóng trong gương mà quên cái đầu thật của mình? Nhưng thật là đúng như vậy. Mỗi khi chúng ta khởi nghĩ, đều chấp cái nghĩ đó là mình, khi không nghĩ thì nói là mất, chẳng khác nào anh chàng nhìn bóng trong gương chấp đó là đầu thật của mình.
Ngài nhắc chúng ta nhớ kỹ đừng chạy theo bóng. Vọng tưởng là ảo ảnh, là bóng dáng không thật, chấp nó là mình, thật là đau khổ vô cùng. Phật dạy tu là lặng đi những bóng dáng ảo tưởng đó, vừa chạy theo nó là chướng ngại cái thật của mình. Tham thiền, niệm Phật, trì chú... để không theo vọng tưởng. Khi vọng tưởng không còn thì cái đầu sờ sờ, bản lai diện mục ngay đó, thành người vô sự.
Này Đại đức, cần yếu bình thường, chớ tạo hình thức. Có một bọn tớ trọc không biết tốt xấu, cho rằng thấy thần thấy quỷ, chỉ đông vẽ tây, thích tạnh thích mưa. Bọn như thế đáng quở trách, có ngày đến trước lão Diêm vương bị nuốt hoàn sắt nóng. Kẻ nam nữ tốt nhà người bị bọn dã hồ tinh mị này mê hoặc liền tác quái, làm mù mắt người, có ngày bị đòi tiền cơm.
Ngài dạy chúng ta tu cần phải bình thường, đừng làm kiểu cọ hình thức, ra vẻ nghiêm chỉnh, ra về ta đây người đạo đức. Đừng bắt chước theo một nhóm tớ trọc, không biết tốt xấu mà bày chuyện thần chuyện quỷ, chỉ đông vẽ tây, nói chuyện linh thiêng trời đất. Thiếu nợ đàn-na thí chủ, có ngày xuống Diêm vương bị nuốt hoàn sắt nóng. Làm cho những Phật tử tốt bị mê hoặc, sanh những chướng ngại. Làm mù mắt người như vậy, sau này có ngày bị đòi nợ cơm nợ tiền chứ không khỏi.
Đoạn này tổ Lâm Tế thật là thiết tha, chỉ dạy chúng ta cái gì thật, cái gì không thật. Chúng ta quen sống với cái không thật, sống theo kiểu Diễn-nhã-đạt-đa, cứ lo mất đầu khóc lên khóc xuống, chạy theo danh từ Phật, danh từ Niết-bàn, danh từ Bồ-đề. Mở miệng thì bao nhiêu danh từ nói không ngừng, mà Bồ-đề cũng không thấy, Niết-bàn cũng không nhận ra. Chỉ vì quen trói mình trong vọng tưởng, trói mình trong danh từ ngôn ngữ, không nhận được cái thật sờ sờ trước mắt. Tổ đã thấy rồi nên không nỡ để cho mình không thấy, buộc lòng phải dùng những lời lẽ mạnh phá chấp để giúp chúng ta thấy được cái thật, nếu không thì cứ mê muội lầm lẫn từ đời này sang kiếp nọ khổ sở không cùng. Lòng từ bi thiết tha của ngài đáo để như vậy, tuy có những lời nói nặng nhưng làm cho chúng ta thức tỉnh, đó là lòng từ bi chứ không phải người ngạo mạn ác khẩu.
Sư dạy chúng:
- Này Đạo lưu, thiết yếu tìm lấy kiến giải chân chánh, dọc ngang trong thiên hạ, khỏi bị bọn yêu tinh hoặc loạn, vô sự là người quý, chớ tạo tác, chỉ là bình thường.
Ngài nhắc mãi chỗ này, cần phải có một kiến giải chân chánh, dọc ngang trong thiên hạ khỏi bị những bọn tinh mị hoặc loạn làm mê lầm mình. Thí dụ người không hiểu đạo đúng đắn thì nghe ai nói tu ba tháng đắc đạo liền đến cầu khẩn.
Người vô sự mới thật là người quý, vô sự đây không phải là ngồi không. Vô sự là đi đứng nằm ngồi, nói nín qua lại, tâm đều như như. Được vậy mới thật là người rất quý. Nghe nói Chớ tạo tác đừng nghĩ là không làm gì hết, mà là luôn luôn giữ tâm bình thường khi làm việc.
Các ông toan hướng nhà bên cầu vượt qua, tìm dấu tích, ấy là đã lầm rồi vậy. Chỉ nghĩ cầu Phật, Phật là danh cú, các ông lại biết tìm cầu chăng? Ba đời mười phương Phật tổ ra đời cũng chỉ vì cầu pháp. Như nay Đạo lưu tham học cũng chỉ vì cầu pháp, được pháp mới xong, chưa được thì vẫn như trước bị luân hồi trong năm đường.
Ba đời chư Phật chư tổ ra đời cũng đều vì cầu pháp, bây giờ chúng ta tu cũng là vì cầu pháp. Nếu được pháp thì xong việc, nếu chưa được pháp thì vẫn như xưa, luân hồi trong ngũ đạo.
Thế nào là pháp? Pháp là tâm pháp. Tâm pháp không hình tướng thấu suốt cả mười phương, hiện dụng ở trước mắt. Bởi vì người tin không đến bèn nhận danh nhận cú, hướng vào trong văn tự tìm cầu suy lường Phật pháp, thật cách xa trời đất.
Tâm pháp ấy không có hình tướng mà đầy khắp mười phương, hiện giờ ở trước mắt chúng ta. Chúng ta không nhận ra mà chạy tìm danh tìm tự, tìm Phật tìm tổ ở đâu đâu, thật là cách xa trời đất.
Này Đạo lưu, Sơn tăng nói pháp là nói pháp gì? Nói pháp tâm địa, bèn hay vào phàm vào thánh, vào tịnh vào uế, vào chân vào tục. Nhưng chẳng phải là phàm thánh chân tục của ông, mà hay đặt tên phàm thánh chân tục. Phàm thánh chân tục cùng người này an bài danh tự chẳng được.
Ngài nói pháp tâm địa, hay vào phàm vào thánh vào tịnh vào uế vào chân vào tục. Pháp này không phải phàm thánh chân tục, mà lại hay đặt tên phàm thánh chân tục... Người biết nghe pháp nói pháp, không thể đặt tên phàm thánh chân tục... cho người đó được.
Này Đạo lưu, nắm được liền dùng chẳng mắc danh tự, gọi đó là huyền chỉ. Sơn tăng nói pháp cùng mọi người có khác. Như có Văn-thù Phổ Hiền xuất hiện trước mắt, mỗi vị hiện một thân hỏi pháp, vừa nói “Hòa thượng” thì ta sớm đã biết rõ vậy. Lão tăng ngồi yên, lại có Đạo lưu đến gặp, ta đã trọn biết rõ. Tại sao như thế? Chỉ vì chỗ thấy của ta khác, ngoài chẳng nhận phàm thánh, trong chẳng trụ căn bản, thấy suốt chẳng còn nghi lầm.
Người nhận được pháp đó liền ứng dụng, không chấp trước danh tự. Chỗ đó không có tên không có tuổi, không có gì cả, nhận được thì được huyền chỉ.
Ngài nói pháp mà thánh đến ngài cũng biết, phàm đến ngài cũng biết rành rẽ không ngờ vực, tại sao? Chỉ vì chỗ thấy của ngài khác, ngoài không chấp phàm thánh, trong không trụ căn bản tức là không kìm tâm. Tâm như như nên thấy suốt thấy tột không nghi ngờ. Chúng ta bây giờ sở dĩ nghi lầm là tại suy nghĩ phân biệt.
Ông già này nói khó quá, nhưng đây là món quà chót của ba năm, phải chỉ thẳng để nắm vững những gì Tổ, Phật đã dạy. Nếu không học chỗ này chúng ta tu cứ ngờ vực không biết cái nào tà cái nào chánh, lo sợ không biết mình tu được hay không. Nếu người nào khéo nhận khéo thấy và khéo tu, thì có thể nói rằng rất là an ổn. Ngay nơi mình có niềm tin vững chắc, tin đến tận nơi.
Sư dạy chúng:
- Này Đạo lưu, Phật pháp không có chỗ dụng công, chỉ là bình thường vô sự. Đi đại đi tiểu, mặc áo ăn cơm, nhọc đến thì nằm. Kẻ ngu cười ta, người trí biết ta.
Phật pháp không có chỗ dụng công, chỉ là bình thường vô sự. Trong tất cả hành động không cần nghĩ suy, đói đến thì ăn, mệt đến thì nằm. Người ngu thấy vậy thì cười, nhưng người trí thấy vậy thì biết.
Pháp tu thiền này khó thật là khó, bởi vì đa số nhìn vào hình thức mà đánh giá người tu. Còn ở đây thì ngài nói khác, bảo chúng ta giữ tâm bình thường vô sự, không cần dụng công gì hết.
Trong hội Lâm Tế, một hôm Vương thường thị đến thăm viện của ngài. Ông vào tăng đường nhìn xem xong bèn hỏi: Tăng cả nhà này có xem kinh chăng? Ngài đáp: Chẳng xem kinh. Hỏi: Lại học thiền chăng? Ngài! đáp: Chẳng học thiền. Hỏi: Kinh đã chẳng xem, thiền lại chẳng học, cứu cánh làm việc gì? Ngài đáp: Thảy dạy ý làm Phật làm Tổ.
Đường lối ngài Lâm Tế là vậy, chỉ nhắm vào yếu điểm “bình thường tâm”. Ngài Nam Tuyền cũng nói “Bình thường tâm thị đạo”. Nhiều người nghe nói tâm bình thường, tưởng là tâm đều đều như vậy, đó là lầm. Tâm bình thường là không có vọng tưởng, thấy cảnh không theo cảnh, nghe tiếng không chạy theo tiếng, đó mới gọi là bình thường tâm.
Trong tất cả thời đều là đạo, đi đứng nằm ngồi đều là đạo. Người tu được như vậy thì đói đến ăn, mệt đến ngủ, không có gì quan trọng. Nếu tâm còn lao chao, còn duyên cảnh mà đói đến ăn, mệt đến ngủ, thì sao? Đó là người phóng túng buông lung. Bây giờ có một ít người tâm vọng động cả ngày cũng bắt chước câu “đói ăn mệt ngủ”, kiểu đó thì tu hàng trăm a-tăng-kỳ kiếp cũng không thành Phật. Phải biết khi nào tâm bình thường như vậy, hành động nào cũng là đạo; nếu chưa bình thường phải chịu khó ngồi thiền, lễ Phật, tụng kinh.
Người xưa nói: “Làm công phu bên ngoài, thảy là kẻ ngu si.” Các ông phải tùy thời làm chủ, ngay đó đều chân, cảnh đến lôi kéo chẳng được, dù có tập khí nghiệp địa ngục vô gián, tự chuyển thành biển lớn giải thoát.
Hướng ngoài tạo công phu tức tạo hình thức tỏ ta mình tu hành, như thế đều là kẻ si, không phải người đạt đạo. Tùy chỗ làm chủ tức là đi đâu chúng ta cũng luôn luôn làm chủ, tâm không chạy theo cảnh, không duyên theo sáu trần, chỗ nào không phải là chân. Thí dụ nghe người nói một vài câu chọc tức mà mình vẫn an nhiên tự tại thì cảnh không lôi nổi, còn nếu nổi nóng thì đã bị cảnh lôi. Khi tâm bình thường, làm chủ được như vậy, dù thuở trước có tạo nghiệp ngũ vô gián, tập khí còn, cũng biến thành biển đại giải thoát.
Nếu chúng ta sống được với thể bất sanh bất diệt là vượt ra ngoài nghiệp, không còn thấy có nam nữ, có thiện ác, có phải quấy... thì còn nghiệp nào lôi mình được. Đó là hiện tại giải thoát, nếu cứ hằng sống mãi mãi như thế không gián đoạn, lo gì không ra khỏi sanh tử đến Niết-bàn an vui.
Học giả thời nay thảy đều không biết pháp, giống như con dê, mũi chạm vật gì liền đớp vào miệng, không biện tớ thầy, chẳng rành chủ khách. Người như thế tâm tà vào đạo, gặp chỗ ồn liền vào, không được gọi là người chân chánh xuất gia, mà chính là chân tục gia.
Học giả thời nay thảy đều không biết pháp, tức không biết tâm pháp đã nêu trên, bởi thế nên gặp gì cũng theo, chẳng khác nào con dê. Nghĩa là lỗ mũi gặp cái gì cũng hít, cũng liếm để vô miệng. Kẻ tớ người sang không rõ, khách chủ đều không biết. Khách chủ ở đây là tâm chạy theo cảnh là bị khách lôi, tâm làm chủ trong tất cả thời là ông chủ hiện tiền. Người tu mà không phân biệt đâu là chủ đâu là khách thì gọi là tà tâm vào đạo, luôn chạy theo chỗ ồn náo, dù có tu bao nhiêu cũng thuộc vào hàng thế tục chứ không phải là chân chánh xuất gia.
Phàm người xuất gia phải biện rành kiến giải chân chánh bình thường, biện được Phật biện được ma, biện được chân biện được ngụy, biện được phàm biện được thánh. Nếu biện được như thế gọi là chân xuất gia. Nếu ma Phật không phân biệt được, chính là xuất nhà này vào nhà kia, gọi là chúng sanh tạo nghiệp, chưa được gọi là chân xuất gia.
Xuất gia là giải thoát khỏi ba cõi, nếu ma Phật không biện được, chính là bỏ nhà thế gian vào nhà chùa, cũng là lẩn quẩn. Đa số chúng ta xuất gia bỏ nhà này vào nhà kia, trên thì cha mẹ dưới là anh em, rồi vào chùa cũng vậy, trên thì thầy, dưới thì huynh đệ, rồi cũng anh em bác chú, giận hờn phiền não nhau, không ra khỏi nhà phiền não. Như thế gọi là chúng sanh tạo nghiệp, chưa được gọi là người chân xuất gia.
Ma Phật không phân biệt, như chúng ta nghe lời đồng bóng nói gì hơi linh thiêng liền chạy tới cầu, coi thử số phận mình ra sao. Như vậy có phân biệt chân ngụy hay không? Ma cũng theo Phật cũng cầu, không bao giờ giải thoát nổi. Ngài nói quả quyết đó là chúng sanh tạo nghiệp.
Chỉ như hiện nay có một cái ma Phật đồng thể chẳng phân, như sữa với nước hòa, ngỗng chúa uống sữa. Như Đạo lưu mắt sáng, ma Phật đều đánh. Ông nếu yêu thánh ghét phàm, chìm nổi trong biển sanh tử.
Ngài nói như vậy, người nghe không biết sao mà tu. Ở trên bảo phải phân biệt rành đâu là Phật đâu là ma, đừng lầm lẫn. Nhưng đây lại nói đến ma Phật đồng thể như sữa hòa với nước. Trong cái hỗn độn ma Phật khó phân đó, hàng Đạo lưu mắt sáng thấy ma đập ma, thấy Phật đuổi Phật.
Đây là chỉ thẳng cho những người chuyên tu về thiền tông. Trong nhà thiền khi nói về chỗ hỗn độn ma Phật không phân là chỉ cho trong tâm chân vọng không phân, hay là tà chánh không phân. Khi niệm tà dấy lên thì đuổi, niệm chánh dấy lên cũng đuổi luôn. Nếu đuổi niệm tà giữ niệm chánh thì cũng còn động niệm còn chìm nổi trong biển sanh tử. Đây chẳng những chỉ cho ma Phật trong tâm mà ngay cả khi ngồi thiền giả sử thấy Phật hiện cũng không chấp nhận, thấy ma hiện cũng không sợ.
Nếu thấy ma hiện thì sợ đuổi nó, thấy Phật hiện mừng quá thì có lỗi không? Cũng là cuồng vọng. Ma muốn thử chúng ta nên hiện tướng dữ, nếu tướng dữ mình biết không lầm, nó liền hiện tướng lành tức là giả thân Phật, nếu mình chấp nhận thì cũng lạc về ma.
Câu chuyện tổ Ưu-ba-cúc-đa, sau khi hàng phục ma Ba-tuần, ngài bảo nó: Xưa ngươi thường thấy đức Thế Tôn tại tiền, giờ đây hiện thử cho ta xem.
Vua ma thưa: Hiện việc xưa không khó, chỉ xin Tôn giả trông thấy đừng đảnh lễ.
Ngài hứa xong thì thấy từ trong rừng đức Phật đi ra, hào quang sáng rỡ, theo sau là một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo. Ngài vừa trông thấy bất giác sụp xuống lạy, ma hoảng kinh biến mất.
Chính Tổ biết trước mà còn bị xúc cảm, huống nữa chúng ta. Đang ngồi thiền khởi tâm, tự nhiên muốn thấy Phật, ma hiện hình Phật, lúc đó mình bị lôi trong ma cảnh. Các nhà học Phật giải thích rằng ma quỷ không thấy hình thể, chỉ thấy bằng tâm niệm. Tâm niệm mình có dấy động thì nó thấy, còn không dấy thì nó không thấy. Chư tổ dạy chúng ta phải dè dặt đừng cho tâm mình xen hở, tâm vừa nghĩ bậy thì ma quỷ thấy liền phỉ nhổ vô mặt mình. Biết tu rồi phải cẩn thận từng tâm niệm mới thật là tu.
Có vị thiền sư cả ngày đi đứng nằm ngồi đều thanh tịnh. Thổ thần nơi đó muốn đảnh lễ ngài mà tìm hoài không thấy. Hôm đó thị giả bưng mâm cơm làm rớt đổ, ngài động tâm quở thị giả: Của đàn-na thí chủ làm vậy hao tốn của người ta. Vừa nói câu đó thì thổ thần quỳ trước mặt ngài thưa: Con lâu nay tìm Hòa thượng không thấy, hôm nay con mới thấy Hòa thượng. Rồi thổ thần đảnh lễ.
Thiền sư Đạo Ưng lúc tu trên núi, trải qua tuần nhật không xuống trai đường. Ngài Động Sơn kêu hỏi: Tại sao mấy hôm rồi ông không xuống đây thọ trai? Sư thưa: Mỗi ngày có chư thiên cúng dường. Ngài Động Sơn nói: Tôi thấy ông còn kiến giải, chiều rảnh xuống đây.
Chiều Sư đến, ngài Động Sơn gọi: Ưng am chủ! Sư dạ. Ngài Động Sơn bảo: Không nghĩ thiện không nghĩ ác là cái gì? Sư trở về ngồi yên lặng lẽ, chư thiên tìm mãi không thấy, ba bốn ngày mới thôi không cúng dường.
Điều này chứng minh rằng, chỗ tâm niệm còn dấy lên thì ma quỷ chư thiên còn thấy, tâm niệm thật thanh tịnh thì tìm không ra. Nhiều khi chúng ta cho rằng ngồi thiền im lặng như chết, tu như vậy thấy không có ích lợi, phải hoạt động này kia có phước hơn. Sự thật chúng ta ngồi thiền để dòng tâm niệm lặng xuống, trở về thể thanh tịnh mới thật là chân giải thoát.
Hỏi: - Thế nào là Phật là ma?
Sư đáp: - Ông chỗ dấy lên một niệm tâm nghi ấy là ma. Ông nếu đạt được muôn pháp vô sanh, tâm như huyễn hóa, lại không có một trần một pháp, chỗ chỗ đều thanh tịnh ấy là Phật. Nhưng Phật cùng ma là hai cảnh tịnh nhiễm. Theo chỗ thấy của Sơn tăng, không Phật không chúng sanh, không xưa không nay, được đó liền được, chẳng trải qua thời tiết, không tu không chứng không được không mất, trong tất cả thời lại không có một pháp riêng. Dù có một pháp mà hơn cái này, ta nói cũng như mộng như hóa. Chỗ nói của Sơn tăng đều là vậy.
Một niệm tâm vừa dấy lên nghi ngờ, đó là ma. Thấu đạt muôn pháp vô sanh, tâm như huyễn hóa, chỗ chỗ là Phật. Nghĩa là không thấy có một pháp thật, nơi nơi tâm mình vẫn thanh tịnh.
Phật cùng ma là hai cảnh tịnh nhiễm, nhưng theo chỗ thấy của ngài thì không Phật không chúng sanh, không xưa không nay, được đó liền được... Tại sao thấy không Phật, không chúng sanh, không xưa không nay, cho đến không tu không chứng, không được không mất? Nếu tâm chúng ta thuần nhất không động chừng vài phút, lúc đó thấy có Phật có chúng sanh, có ma gì không? Vừa thấy có Phật, có chúng sanh là có động. Đó là một lẽ thật rõ ràng mà ít người tin nổi.
Như khi chúng ta đang ngồi thiền lặng lẽ yên tịnh bỗng chợt nhớ nghĩ mình đang tu cái gì đây, liền thấy có tu thì tâm có động, hoặc nhớ Phật tâm liền động. Nghe các vị thiền sư nói rằng không thấy có Phật có chúng sanh lại tưởng các ngài coi thường Phật. Thật sự không phải, bởi vì tâm của các ngài đã thuần nhất thanh tịnh nên không khởi niệm nghĩ đến Phật, nghĩ đến chúng sanh; không nghĩ tức không thấy.
Ngài nói rằng trong tất cả thời không có một pháp riêng, tức là không có một pháp nào chen vô, đó thật là miên mật, thuần nhất thanh tịnh. Chúng ta sở dĩ thấy có Phật có chúng sanh đủ hết vì trong tâm cứ nghĩ nhớ liên miên, không được thuần nhất. Tâm chưa thanh tịnh thì có một pháp chen vào, dù là pháp thù thắng cũng đều như mộng.
Tương tự trong kinh Đại Bát-nhã, Phật nói giả sử có một pháp cao hơn Niết-bàn thì ta cũng vẫn nói nó như mộng như hóa. Tâm thanh tịnh không có một pháp chen vào là tâm Niết-bàn, sống như vậy là sống trong Niết-bàn, nên nói rằng Niết-bàn hiện tại, không cần tìm đâu xa. Chúng ta thường cứ mong cầu tu sao để đạt Niết-bàn, không biết rằng vừa khởi mong cầu là đã cách xa. Chư Phật chư tổ muốn dẹp tâm mong cầu nên nói: Dù có pháp cao hơn Niết-bàn cũng như mộng như hóa.
Tăng Chí Đạo dẫn kinh Niết-bàn “Sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui”, tịch diệt là vui thì vui đó gọi là vui Niết-bàn. Ngài hỏi Lục Tổ: “Đã sanh diệt diệt rồi, thì còn cái gì mà vui?” Tưởng rằng nếu còn sanh diệt là còn có thân này, có thân có cảnh mới có vui, nếu sanh diệt diệt thì thân này diệt, còn gì nữa mà vui? Lục Tổ quở: “Ông học Phật mà có kiến chấp ngoại đạo.” Ngoại đạo quan niệm vui do tiếp xúc với ngoại cảnh. Vui của Niết-bàn không phải cái vui ồn náo cười đùa, mà khi tất cả những vọng tưởng lặng, tâm như như thanh tịnh, không còn một pháp sanh diệt nào chen trong đó. Đạt được thì hằng sống trong Niết-bàn, không cần tìm đâu xa hết, gọi là vô sanh nhẫn hay là thường trụ Niết-bàn, tự tánh Niết-bàn. Sống trở về với tự tánh là hằng sống trong Niết-bàn.
Chúng ta không hiểu, cứ tưởng tượng cảnh Niết-bàn như thế này thế kia, càng tưởng tượng càng sai. Ngài nói dù có một pháp hơn cái này, ta cũng nói như huyễn như hóa, câu này rất quan trọng. Cái này là cái gì? Tức là cái chân thật bất sanh bất diệt, trong tất cả thời không thấy có một pháp khác, không có một niệm khác. Trong tất cả thời đi đứng nằm ngồi, suốt mười hai giờ không có một niệm khác, người được như vậy là hằng sống trong Niết-bàn, hằng dứt sanh tử, dù cho có những nghiệp chướng tập khí vô lượng kiếp cũng tan hết không còn.
Đó là sự thiết yếu trong đời tu, cho nên thật tình tu rồi chúng ta mới thấy, mới nhận được niềm tin lạ thường. Chúng ta tin được lời Phật lời tổ, hiện đời chúng ta có thể thấy được Niết-bàn, không phải đợi chết mới thấy. Ngài thật tình nói để cho chúng ta biết mà cố gắng tu, nói chỗ thấy của ngài như vậy đó, không Phật không chúng sanh, không xưa không nay, được đó thì liền được, không đợi tới phút giây nào hết.
Đạo lưu, hiện nay trước mắt, riêng sáng rỡ lắng nghe, người này nơi nơi chẳng kẹt, thông suốt cả mười phương, tự tại trong ba cõi, vào tất cả cảnh sai biệt không bị lôi kéo, trong khoảng sát-na, thấu tột pháp giới. Gặp Phật thuyết Phật, gặp Tổ thuyết Tổ, gặp La-hán thuyết La-hán, gặp ngạ quỷ thuyết ngạ quỷ. Hướng tất cả chỗ dạo khắp cõi nước giáo hóa chúng sanh mà chưa từng lìa một niệm, tùy xứ thanh tịnh, ánh sáng thấu mười phương, muôn pháp nhất như.
Những diệu dụng ngài kể ra đây, gặp Phật nói chuyện Phật, gặp Tổ nói chuyện Tổ, gặp La-hán nói chuyện La-hán, đó là cái gì, của ai? Mỗi người chúng ta sẵn có rỡ rỡ trước mắt mà không ai nhìn ra, không ai nhận được.
Chính đó là cái hết sức quan trọng, thông suốt trong mười phương. Tất cả pháp đều nhất như, đó là cái sẵn có của tất cả. Đâu phải riêng tổ Lâm Tế có, mà tất cả chúng ta đều có, cái đó ở sờ sờ trước mặt, không ở đâu xa.
Này Đạo lưu, kẻ đại trượng phu ngày nay mới biết xưa nay vốn vô sự. Chỉ vì các ông tin chẳng đến, niệm niệm tìm cầu, bỏ đầu tìm đầu, tự không thể thôi.
Bây giờ mới biết mình xưa nay là vô sự. Ngài luôn luôn nhắc mãi câu chỉ vì các ông tin chẳng đến, rõ ràng nói vậy mà không chịu tin, tin không được, mới chạy đi tìm, bỏ đầu tìm đầu như Diễn-nhã-đạt-đa, không biết chừng nào mới thôi dứt.
Như hàng Bồ-tát viên đốn, vào pháp giới hiện thân, hướng tịnh độ mà chán phàm ưa thánh. Bọn người như vậy chưa quên thủ xả, tâm nhiễm tịnh vẫn còn. Kiến giải của Thiền tông không phải như thế, chỉ ngay hiện tại lại không có thời tiết. Sơn tăng nói ra đều là một lúc thuốc bệnh trị nhau, trọn không có pháp thật. Nếu thấy được như thế mới là chân chánh xuất gia, một ngày tiêu muôn lượng vàng ròng.
Chính ngay đây, không có lúc nào khác, trọn không có pháp thật. Người được như vậy mới thật là người chân chánh xuất gia, một ngày có thể tiêu hết muôn lượng vàng ròng. Giả sử một ngày thí chủ cúng muôn lượng, tiêu hết cũng không có tội; nếu không được như vậy thì một chén cơm của tín thí cũng vẫn còn thiếu nợ. Đó là chỗ đặc biệt.
Này Đạo lưu, chớ tùy tiện sẽ bị các bậc lão sư ấn phá trên mặt. Nói rằng ta hiểu thiền hiểu đạo, biện luận thao thao như nước chảy, đều là tạo nghiệp địa ngục. Nếu là người học đạo chân chánh không tìm lỗi thế gian, cấp thiết cầu kiến giải chân chánh, nếu được kiến giải chân chánh mới mong tròn sáng xong xuôi.
Dầu cho chúng ta biện luận thao thao như thác đổ đi nữa đều là kẻ tạo nghiệp trong địa ngục, chưa phải là giải thoát. Người không bị nghiệp lôi mới là giải thoát, nếu nói hay mà vẫn bị nghiệp lôi thì làm sao giải thoát được.
Tại sao ngài không chấp nhận cho chúng ta nói thiên nói đạo? Chỉ vì tâm còn quá loạn động, buộc lòng phải nói hiểu thiền hiểu đạo. Khi tâm nhất như, đi đứng nằm ngồi trong mười hai thời đều nhất như, lúc đó không còn gì dính với mình. Còn nói ta hiểu thiền ta hiểu đạo đều là còn vọng tưởng, dù biện luận hay như thác đổ cũng là người tạo nghiệp.
Nếu đạt được kiến giải chân chánh, tức là nhận ra được cái mình có, như vậy mới gọi là tròn sáng, mới là xong việc.
Hỏi: - Thế nào là kiến giải chân chánh?
Sư đáp: - Các ông chỉ tất cả vào phàm vào thánh, vào nhiễm vào tịnh, vào cõi nước của chư Phật, vào lầu các của đức Di-lặc, vào pháp giới Tỳ-lô-giá-na. Chỗ chỗ đều hiện, cõi nước thành trụ hoại không. Phật ra đời chuyển đại pháp luân lại vào Niết-bàn, chẳng thấy có tướng mạo đến đi, tìm cái sanh tử của ngài trọn không thể được, liền vào pháp giới vô sanh. Dạo qua các cõi nước vào thế giới Hoa Tạng, trọn thấy tướng không các pháp, đều không có pháp thật. Chỉ có đạo nhân vô y nghe pháp. Đó là mẹ chư Phật, bởi vì chư Phật đều từ vô y sanh. Nếu ngộ vô y, Phật cũng không thể được. Nếu người thấy được như thế, là kiến giải chân chánh.
Hỏi thế nào là kiến giải chân chánh, ngài giải thích: Dạo đi trong các cõi nước vào thế giới Hoa Tạng trọn thấy các pháp tướng là không, đều không có một pháp thật. Tất cả ước mơ của người tu như được vào lầu các của ngài Di-lặc, được vào cõi nước của chư Phật được nhập pháp thân Tỳ-lô-giá-na v.v... Ngài đều nói tất cả những cái đó không có gì quan trọng. Chỉ quan trọng là đạo nhân vô y hiện đang nghe pháp, là mẹ của chư Phật. Đạo nhân vô y là người không chỗ nương, hiện nghe pháp ở đây. Chư Phật cũng đều từ đạo nhân vô y mà sanh ra nên nói là mẹ của chư Phật. Tất cả những lý luận hơn thua, phải quấy, hay dở rồi cũng bị luân hồi. Chỉ có cái hiện hữu mà không chịu nhận ra, lại đi tìm kiếm rồi mắc kẹt trong văn ngôn, trong bao nhiêu tướng mạo, thật là khổ não.
Đây nói, sở dĩ Phật từ vô y sanh, nếu ngộ được vô y, Phật cũng không có. Nếu mình ngộ vô y rồi cũng không có Phật. Người được như vậy thật là kiến giải chân chánh, còn không thấy được như vậy thì dù lý luận hay đến đâu cũng chưa phải kiến giải chân chánh.
Người học không hiểu lại chấp danh cú, bí danh phàm thánh làm ngại. Do đó chướng ngại đạo nhãn không được phân minh. Mười hai phần giá đều cốt biểu hiện lẽ này. Học giả không hội, bèn nhằm trên danh cú biểu hiện mà sanh hiểu, đều là nương tựa, rơi vào nhân quả, chưa khỏi sanh tử trong ba cõi.
Người học không liễu ngộ được, bị các danh từ phàm thánh làm chướng ngại. Bởi mắc kẹt trong ngữ ngôn danh từ nói thấy Niết-bàn, thấy Bồ-đề mà rốt cuộc không thấy gì. Còn cái đó hiện sờ sờ trước mặt mà không chịu thấy. Trong mười hai phần giáo đều là lời nói để biểu hiện, nghĩa là mười hai phần giáo Phật nói để chỉ cho chúng ta thấy cái đó mà không chịu thấy, cứ chấp lời chấp văn rồi học thuộc lòng cho rằng lời Phật là lời vàng. Học hoài mà không thấy chỗ Phật muốn chỉ, đó là chấp ngón tay cho là mặt trăng, thật uổng công. Nhớ kinh điển một bụng cho là mình đã làu thông Phật pháp, nhận kinh điển cho đó là sự nghiệp vĩ đại của mình. Không nhận ra cái ngầm ở trong danh tự biểu hiện đó, nên đều là nương tựa, rơi trong nhân quả, chưa khỏi sanh tử trong ba cõi.
Các ông nếu muốn trong sanh tử đi đứng tự do, tới lui tự tại thì hiện nay nên biết người nghe pháp này, không hình không tướng, không cội không gốc, không chỗ ở, linh hoạt rõ ràng, ứng hiện muôn thứ hành động, chỗ dùng chỉ là không chỗ. Do đó càng tìm càng xa, cầu đó thì trái, gọi đó là bí mật.
Người nào muốn đi trong sanh tử tự do không bị ràng buộc thì ngay hiện giờ khéo nhận cho ra người đang nghe pháp, nhận ra người đó là xong việc, còn không nhận ra thì học gì rồi cũng lẩn quẩn luân hồi. Đây là chỉ thẳng cho chúng ta.
Nhận cho ra người đang nghe pháp, người đó không hình không tướng, không căn không gốc, không chỗ ở mà vẫn sống động rõ ràng. Nhớ là vẫn sống rõ ràng hiện tại mà tìm gốc rễ không có. Đó là chỗ đặc biệt, khi cần dùng liền có, lập bày ra muôn thứ mà chỗ dùng chỉ là chỗ không. Nghĩa là có thể hiện bày ra trăm thứ mà chỗ dùng không có chỗ nơi. Vì không có chỗ nơi, tìm thì sai, cầu thì trái cho nên gọi là bí mật. Thật ra không có gì bí mật, luôn hiện rỡ ràng trước mặt, chỉ vì mình không nhận ra cho nên cố tìm cố cầu, càng tìm càng cầu càng trái. Tú tài Trương Chuyết sau khi ngộ ra lẽ này, ông nói: Xu hướng chân như tổng thị tà.
Chư tổ sư muốn chỉ cái thật hữu, thuận theo ý này tôi thường nói: “Thiền tông là một chân lý sống, chân lý sống đó là chân lý của mình. Nào là Niết-bàn, Bồ-đề, Bát-nhã, chân như v.v... bao nhiêu danh từ đều chỉ cho cái đó, cái đó là cái hiện sống của mình. Phật muốn chỉ cho chúng ta thấy cái đó, ngài dùng nhiều phương tiện nói quanh, nhưng kết cuộc đều trở về một chỗ. Chúng ta không nhận ra, chỉ nhận danh từ rồi học danh từ. Rốt cuộc nói một đời học Phật là học cái gì? Học ngôn ngữ chứ không phải học Phật.”
Các thiền sư thường gọi đó là bọn học ngữ. Học ngữ là học lời nói chứ không phải học đạo. Đạo là ngay nơi mình, mà mình không chịu nhận ra nó rồi cứ lượm lặt ngôn ngữ đem khoe: Tôi biết cái này, tôi biết cái kia... Chuyện vô lý làm sao! Tại sao mình học đạo giải thoát, cái giải thoát là cái của mình sẵn có lại không nhận. Đó là cái đặc biệt, quý vị ráng gan dạ nhận cho ra. Nhận ra cái đó thì không còn bí mật nữa, còn nếu không nhận ra thì cái đó là cái bí mật.
Này Đạo lưu, các ông chớ nhận lấy kẻ bạn mộng huyễn, trong khoảng sớm chiều sẽ trở về vô thường. Các ông nhằm trong thế giới này tìm vật gì làm giải thoát? Tìm lấy một bữa cơm mà ăn, mặc áo vá qua ngày, chỉ cốt phỏng tầm tri thức. Chớ dây dưa theo đuổi thú vui, ngày giờ đáng tiếc, niệm niệm vô thường, thô thì bị đất nước gió lửa ép ngặt, tế thì bị sanh trụ dị diệt bức bách. Đạo lưu, thời nay cần biết bốn cảnh vô tướng, mới khỏi bị cảnh kéo lôi.
Kẻ bạn lữ mộng huyễn là kẻ nào? Tức là Diễn-nhã-đạt-đa nhận bóng trong gương làm đầu mặt thật. Kẻ đó là kẻ mộng huyễn mà lâu nay mình cứ nhận làm bạn. Cho những cái tôi nghĩ tôi tính là những kẻ bạn mộng huyễn là mình, sớm muộn gì cũng sẽ trở về vô thường. Ngài đã chỉ bảo chúng ta phải nhận ra cái bí mật sẵn có nơi mình là mẹ của chư Phật. Nếu nhận những bạn bè tức là những vọng tưởng điên cuồng cho là mình thì sớm muộn gì cũng tiêu diệt, nó không phải là thứ thiệt. Ngài đã chỉ ngay nơi tâm chúng ta.
Kế tiếp ngài nói ra ngoại cảnh. Bây giờ hỏi các ông, ngay trong thế giới này các ông thử tìm xem cái gì là giải thoát? Tất cả nhu cầu ăn mặc hoặc tất cả những đồ dùng có đưa đến giải thoát không? Ngài nói chúng ta là người thọ thức ăn áo mặc, đồ dùng của đàn-na thí chủ, phải đi thưa hỏi các bậc tri thức, đừng chạy theo thú vui bỏ mất thời giờ rồi lại bị tứ đại tan rã. Phải nhận ra tứ đại là không thật mới khỏi bị tứ đại làm khổ.
Hỏi: - Thế nào là bốn cảnh vô tướng?
Sư đáp: - Các ông một niệm tâm nghi bị đất làm ngại, các ông một niệm tâm ái bị nước nhấn chìm, các ông một niệm tâm sân bị lửa đốt cháy, các ông một niệm tâm hỷ bị gió thổi bay. Nếu khéo biện được như thế chẳng bị cảnh chuyển. Nơi nơi dùng được cảnh, vọt bên đông lặn bên tây, vọt bên nam lặn bên bắc, vọt ở giữa lặn ở bên, vọt ở bên lặn ở giữa, đi trên nước như đất, đi trên đất như nước. Bởi sao được như vậy? Vì đạt bốn đại như mộng như huyễn.
Như vậy các niệm như tham, sân, hỷ... vừa dấy lên thì bị đất nước gió lửa làm chướng ngại. Nếu biện được như thế, không để tâm nghi, tâm sân, tâm hỷ, tâm ái lôi kéo tức là không bị cảnh chuyển, ở mỗi nơi đều dùng được cảnh. Bên đông vọt lên, bên tây lặn xuống, bên nam vọt lên bên bắc lặn xuống..., đi trên nước cũng như trên đất bằng, đi trên đất bằng cũng như trên nước. Vì sao được như thế? Bởi vì đạt được tứ đại như mộng như huyễn. Người nào thấy được tứ đại như mộng như huyễn người ấy tự do tự tại, lên trời xuống đất cũng được tự do, người nào thấy tứ đại là thật thì bị tứ đại làm ngại.
Này Đạo lưu, chỉ các ông hiện nay biết nghe pháp, chẳng phải là tứ đại của ông, lại hay dùng được tứ đại của ông. Nếu khéo thấy được như thế là đi đứng tự do. Chỗ thấy của Sơn tăng chẳng nghi pháp ấy. Các ông nếu mến thánh thì thánh chỉ là cái tên thánh. Có một nhóm người học đạo nhắm trong Ngũ Đài Sơn mà tìm Văn-thù, sớm đã lầm vậy. Trong Ngũ Đài Sơn không có Văn-thù. Các ông muốn biết Văn-thù chăng? Chỉ cái dùng trước mắt các ông trước sau chẳng khác, nơi nơi chẳng nghi, cái ấy là Văn-thù sống.
Ngài chỉ thẳng: Người nghe pháp hiện nay không phải là tứ đại hay dùng nó mà trái lại nó hay dùng tứ đại. Chúng ta thấy người nghe pháp đó chưa? Ngài nói tới nói lui cũng nhằm chỉ thẳng người nghe pháp, người đó mới là người đặc biệt. Nếu thấy được như thế mới đi đứng tự do.
Theo chỗ thấy của ngài đối với pháp không nghi. Nếu ưa thánh thì thánh chỉ là danh từ suông. Có một nhóm người học hướng về Ngũ Đài Sơn mà tìm Văn-thù, sớm đã lầm rồi vậy. Trong Ngũ Đài Sơn không có Văn-thù. Chỉ cái chỗ dùng hiện ở trước mắt, trước sau không đổi, chỗ chỗ không nghi, là Văn-thù sống.
Các ông một niệm tâm sáng không sai biệt, nơi nơi thảy đều là Phổ Hiền chân thật. Các ông một niệm tâm tự hay mở trói, tùy chỗ giải thoát là Quán Thế Âm. Các pháp tam-muội lẫn nhau làm chủ bạn, ra thì đồng thời ra, một tức là ba, ba tức là một. Hiểu được như thế mới nên xem kinh.
Trong một niệm tâm sáng không sai biệt là Phổ Hiền, một niệm tâm tự cởi trói thì chỗ chỗ đều giải thoát là Quán Thế Âm. Văn-thù, Phổ Hiền, Quán Âm hỗ tương làm chủ làm bạn, một tức là ba, ba tức là một. Người nào hiểu được như vậy mới nên xem kinh.
Nghe nói đức Văn-thù trên Ngũ Đài Sơn liền khổ nhọc chạy đi tìm Văn-thù. Kinh Lăng-nghiêm dạy phải phản văn văn tự tánh, theo pháp môn của Quán Thế Âm hiểu được vậy mới tìm được Quán Thế Âm. Quán Thế Âm chính là tự tánh sờ sờ trước mặt hiện nghe pháp bây giờ không đâu xa. Chúng ta sống với cái đó thì gọi là phản văn văn tự tánh, trở về với Quán Thế Âm.
Trong đây chỉ Văn-thù là cái hiện tiền ứng dụng được, trước sau không đổi, chỗ chỗ không nghi, đó là Văn-thù sống, tức là căn bản trí. Một niệm tâm không sai biệt thì chỗ chỗ đều là Phổ Hiền. Phổ Hiền là hạnh không sai biệt, ứng dụng hạnh ấy vào khắp chỗ chúng sanh, biết mọi sai biệt mà không ngăn ngại. Phổ Hiền cũng tượng trưng sai biệt trí. Một niệm tâm tự hay giải thoát tất cả nghiệp đó là Quán Thế Âm. Văn-thù, Phổ Hiền, Quán Âm đều là tự tâm chúng ta, không ngoài tâm mà có.
Chúng ta quen tìm ở ngoài, nghe kinh nói Bồ-tát Quán Âm ở Phổ Đà Nam Hải, Bồ-tát Văn-thù ở Ngũ Đài Sơn, ngồi ước mơ làm sao viếng Ngũ Đài Sơn, ngồi mộng tưởng hoài đến Phổ Đà Sơn. Đem Văn-thù đi cầu Văn-thù, đem Quán Âm đi cầu Quán Âm, đó là chỗ lầm lẫn lâu nay. Vì thế tu một đời không bao giờ giải thoát. Tổ Lâm Tế không tiếc lời chỉ cho chúng ta cái nào sống thật, cái nào không phải thật, nếu chúng ta không nhận ra thì đó là lỗi tại mình.
Sư dạy chúng:
- Ngày nay người học đạo cần yếu là phải tự tin, chớ nương bên ngoài mà tìm. Rốt lại chỉ tìm cầu trên trần cảnh, nên đều chẳng biện được tà hay chánh. Chỉ như có Phật có tổ đều là việc trong kinh điển. Có người mang ra một câu trong kinh sách rồi tìm vạch nghĩa ẩn nghĩa hiển trong ấy, liền hồ nghi, hoặc bàn thế này thế khác, đi hỏi nhà bên cũng mờ mịt. Này kẻ đại trượng phu! Chớ bàn chủ bàn giặc, luận phải luận quấy, luận sắc luận tài, cứ bàn luận suông suốt ngày.
Ngài dạy người học đạo phải tự tin nơi mình, đừng tìm cầu bên ngoài, tất cả những cái bên ngoài đều là cảnh nhàn suông của người thôi. Nếu tìm cầu bên ngoài không thể nào biện được tà chánh. Tổ hay Phật đều là dấu vết ghi chép của kinh điển, không phải Phật sống hay tổ sống nơi mình.
Có người đề khởi lên một câu hoặc tìm nghĩa ẩn nghĩa hiển trong đó, rồi sanh nghi, bàn thế này thế kia, ở nhà bên mà tìm hỏi cũng là mờ mịt. Cho nên ngài nhắc: Đại trượng phu chớ có bàn luận suông qua ngày.