Học giả thời nay chỉ lấy phương tiện của cổ nhân làm thiền đạo, không thể cùng cổ nhân đồng tham. Ví như người mạnh gánh một gánh nặng một trăm hai mươi cân, đi qua cây cầu khỉ mà chẳng run, chẳng nghiêng. Do sức gì phù trì mà được như thế? Bởi kia tinh thần thuần thục không tạp mà thôi. Kẻ vì đạo cũng phải như vậy. Trong kinh nói: “Ví như con sư tử chụp voi nó dùng toàn lực, chụp thỏ cũng dùng toàn lực.” Có người hỏi: “Toàn lực gì?” Đáp: “Lực chẳng dối.” Nếu thấy một mảy lông khác nơi tâm thì tự tan thân mất mạng. Cho nên người đạt đạo không có cái gì là chẳng phải, lực này rất lớn, chỉ vì vô biên ác giác xâm lấn, nên khiến lực dụng có kém. Nếu không có nhiều pháp khác, trạng khác, duyên khác, niệm khác thì tùy tâm biến chuyển tự tại vô ngại.
Học giả thời nay chỉ lấy phương tiện của cổ nhân làm thiên đạo. Nghĩa là khi nghe cổ nhân nói một câu, hoặc thấy một hành động nào đó liền cho là đạo, tưởng chừng mình đồng tham tức là đồng học và đồng tu với các ngài. Ví như người mạnh gánh nặng một trăm hai mươi cân, đi qua cây cầu khỉ mà chẳng run, chẳng nghiêng. Hỏi người đó tại sao có sức mạnh như thế? Bởi kia tinh thần thuần thục không tạp mà thôi. Tức là chỉ rặt ròng không có gì xen lẫn nên mới được như thế. Kẻ vì đạo cũng phải như vậy.
Trong kinh nói, ví như sư tử muốn chụp voi phải dùng hết sức mạnh mới chụp được. Nếu nó chụp một con chuột thì sao? Thường chúng ta nghĩ chỉ dùng sức nhẹ thôi, nhưng thật ra nó cũng phải dùng toàn lực. Như vậy dù chụp voi hay chuột, nó đều dùng toàn lực. Toàn lực gì? Đáp: “Lực chẳng dối.” Tức là ngầm ý vận dụng hoàn toàn khả năng của mình, không để một sai sót nào có thể làm yếu sức mạnh toàn lực. Nếu thấy một mảy lông khác nơi tâm thì tự tan thân mất mạng.
Ở thí dụ đầu, sở dĩ người gánh nặng một trăm hai mươi cân đi qua cây cầu khỉ mà không run, không bị nghiêng là vì người đó có tinh thần thuần thục không tạp. Đến thí dụ sau, sư tử dù bắt chuột, thỏ hay voi đều phải dùng toàn lực. Người tu cũng vậy, khi đi đứng ngồi nằm, trong mọi trường hợp mỗi phút giây đều dùng toàn lực. Nghĩa là sống với tâm thể hoàn toàn, lúc nào cũng làm chủ được mình, không bị niệm khác chen vào. Nếu để niệm khác chen vào tức đã tan thân mất mạng.
Chúng ta thử nghiệm lại xem mình tu hành đã dùng toàn lực hay chưa? Toàn lực này chỉ cho tâm thể của chúng ta, đa số dùng chưa hết bán phần chứ đừng nói toàn phần. Cả ngày sống với tạp niệm, với tâm khác nên toàn lực bị yếu kém. Do đó chúng ta yếu đuối, khổ sở vì tâm lực không đầy đủ. Thiền sư Thanh Viễn nói, lực này rất lớn, chỉ vì vô biên ác giác xâm lấn, nên khiến lực dụng có kém.
Lực dụng của tâm thể rộng lớn thênh thang nên trong luận Đại Thừa Khởi Tín gọi là thể đại, tướng đại, dụng đại. Nó to lớn như vậy nhưng vì những ác giác, hay nói gọn hơn là vô biên vọng tưởng xâm lấn khiến cho lực dụng yếu kém. Chúng ta cứ nghĩ rằng phải suy nghĩ, tính toán mới khôn ngoan nhưng thật sự chính ngay khi không có vọng tưởng, đó mới là dùng toàn lực. Toàn lực ấy to lớn vô ngần nên diệu dụng không lường.
Niệm suy nghĩ tính toán bé nhỏ theo từng cảnh từng việc mà hiện hình. Tuy chỉ là tâm vọng tưởng mà người ta có thể chế được những thứ diệu dụng phi thường, như bom nguyên tử, phản lực cơ. Huống nữa chúng ta sống với tâm chân thật thì lực dụng biết chừng nào. Vì vậy ở đây ngài Thanh Viễn nói rõ thêm, nếu không có nhiều pháp khác, trạng khác, duyên khác, niệm khác thì tùy tâm biến chuyển tự tại vô ngại. Sở dĩ mình không được tự tại vô ngại là vì bị các pháp, các trạng thái, các duyên, các niệm khác chi phối. Nếu không có các thứ này thì tâm thể chuyển biến tự tại vô ngại.
Tóm lại, không nên lượm lặt những câu, những lời của cổ nhân rồi cho đó là đạo, mà phải sống thật với tâm thể của chính mình. Nếu sống được với tâm thể tức đã dùng toàn lực. Bằng không cứ để cho vọng tưởng chen lấn mãi, bị chi phối bởi ngoại cảnh và nội tâm, tâm lực do đó bị suy kém, mất tự do tự tại vô ngại. Cho nên người nào sống được với tâm thể rộng lớn, đó chính là người vô sự tự do tự tại.
Đạo chẳng cần khổ cầu, cầu đó liền mất đạo. Sự không ở khổ dung, dung thì sự có. Chẳng cầu chẳng dung là đạo cùng sự hội, thì sự nào mà chẳng phải đạo. Ví như có kẻ mắt sáng vào trong kho báu mà không biết phương tiện là không có đèn đuốc soi sáng, vào trong liền bị đụng u đầu, trầy tay. Như thế gọi là hang độc, chứ chẳng phải kho báu. Người trí vào kho cầm theo đèn đuốc soi sáng, thấy các thứ báu mặc tình lượm lấy, lượm báu đi ra. Người tu trong mười hai giờ phải dùng trí sáng, chớ để sáu trần đụng chạm đến.
Thuở xưa thượng tọa Vĩnh cùng Từ Minh đồng từ giã Phần Dương, mà Vĩnh chưa tột chỗ diệu kia. Vĩnh theo Từ Minh hai mươi năm, trọn chưa an lạc. Một hôm, ngồi quanh lò lửa đêm khuya, Từ Minh lấy đũa gắp than, gõ trên than gọi:
- Thủ tọa Vĩnh!
Thủ tọa Vĩnh bèn quát:
- Dã hồ tinh.
Từ Minh bèn chỉ Vĩnh bảo:
- Kẻ khờ! Lại thế ấy đi!
Vĩnh do phương tiện này được cứu cánh, song vẫn bảo theo nhau. Từ Minh ở đâu thường ra thưa hỏi. Những câu Từ Minh hỏi, chúng không thể đối được. Vĩnh tới Từ Minh liền gật đầu hứa khả.
Đây gọi là liều thuốc không bệnh. Học giả đương thời khó nhận được yếu chỉ kia, huống là bọn tri kiến hội giải ở đời sau, do đâu nhận lãnh được việc ấy? Được đó phải như Vĩnh, cho thuốc phải như Từ Minh thì mới nên vậy.
Đạo chẳng cần khổ cầu vì cầu liền mất đạo. Nếu chúng ta đi tìm đạo là đã mất đạo rồi, vì thế trong nhà thiền hay dùng thí dụ “Cưỡi trâu đi tìm trâu” là vậy. Đạo là tâm thể chân thật, vừa dấy niệm đi tìm là đã bị khuất lấp. Cho nên chỉ dừng vọng niệm, đừng cho nó chen vào thì đạo hiện tiền, chứ không đâu xa.
Sự không ở khổ dung, dung thì sự có. Người mới học đạo phải thấy các pháp là không, chẳng thật có, như vậy mới gần với đạo. Tuy thấy các pháp là không, nhưng không phải chối bỏ sự hiện hữu của nó, mà rõ biết nó giả có, không thật. Nếu không chấp nhận sự hiện hữu của các pháp, như cái bàn, cái ghế, cái nhà... đều nói không có, tưởng như vậy là tiêu dung, ngờ đâu càng chối bỏ chừng nào nó càng hiện hữu chừng ấy. Thế nên người học đạo phải biết, phải khéo tiêu dung. Lấy trí tuệ nhìn thì mình không cần tiêu dung mà nó tự tiêu dung.
Thí dụ chúng ta có một người bạn láng giềng không mấy ưa thích. Mỗi khi nhớ đến họ mình đâm ra bực bội, nên không muốn nhớ nữa. Bởi cố trốn tránh thành ra có người đó và mình đối nghịch nhau trong tâm. Giờ đây chỉ cần nhìn thẳng vào sự thật tức thì tự nó sẽ tiêu dung. Nên nói chẳng cầu chẳng dung là đạo cùng sự hội, thì sự nào mà chẳng phải đạo.
Chúng ta biết rõ người cảnh đều duyên hợp, mà duyên hợp thì đâu thật. Đã không thật thì muốn nó mất để làm gì? Chỉ cần biết rõ không thật thì tự nó mất, không cần phải tiêu dung. Đó là dùng trí tuệ nhìn thẳng vào sự thật. Muốn nó mất bằng niệm trốn tránh hay tưởng tượng nó không có, thì càng muốn mất nó lại càng có. Cho nên người học đạo phải chín chắn nhìn thẳng vào sự vật để thấy sự thật. Thấy được nó hư giả thì sự hợp với đạo.
Như trong kinh Bát-nhã dạy “sắc tức thị không”, sắc là sự, không là lý. Lý ngay nơi sự, sự ngay nơi lý. Ngay nơi sự đã hiển bày lý thì còn muốn tiêu cái gì, dung cái gì? Do đó ở đây thiền sư Thanh Viễn dùng thí dụ, như người mắt sáng vào trong nhà tối nhưng không cầm theo đèn đuốc. Tuy mắt sáng mà không lấy được của báu, trở ra thân còn thêm bệnh. Thế nên kho báu trở thành hang độc. Nếu người cầm đèn đuốc, vào kho biết được chỗ nào có của báu lấy đầy túi, trở ra an lành tự tại. Đèn đuốc ở đây dụ cho trí tuệ. Có trí tuệ thì đối với đạo không tốn công lại dễ đạt. Không có trí tuệ thì nhọc nhằn mà khó tìm.
Có hai hạng người tu. Thứ nhất là theo phương pháp nào đó rồi cố gắng dụng công. Như người tọa thiền đếm hơi thở. Ngày ngồi sáu giờ đêm sáu giờ, như vậy đêm ngày mười hai giờ. Khi ngồi cố gắng đếm hơi thở, nhớ số rõ ràng nghiêm chỉnh, nhưng vẫn không thấy người và cảnh duyên hợp như huyễn. Do đó gặp việc không như ý thì vướng mắc, phiền não. Như vậy dụng công nhiều nhưng đối với đạo còn xa.
Hạng thứ hai, ngồi thiền ít hơn nhưng nhìn sự vật bằng trí Bát-nhã, thấy rõ tất cả các pháp đều do duyên hợp không thật. Biết mình giả cảnh cũng giả, nên không có việc gì bận tâm hay quyến luyến, buông bỏ một cách dễ dàng. Như vậy dụng công ít mà kết quả nhiều, bởi có trí tuệ. Từ đó chúng ta thấy rõ kết quả sự tu hành qua thí dụ người cầm đèn sáng vào kho báu và người không cảm đèn vào kho báu.
Có người bảo nói cái gì cũng không là chấp lý bỏ sự, không ngờ trong suốt bốn mươi chín năm đức Phật thuyết pháp, ngài đã dành hai mươi hai năm nói kinh Bát-nhã. Như vậy để thấy thời gian Phật nói kinh Bát-nhã tối quan trọng, nhằm chỉ cho chúng sanh nhận được đường lối tu hành, tức là sống với trí tuệ. Có trí tuệ mới gần với đạo.
Chúng ta hãy kiểm nghiệm xem mình có trí tuệ chưa? Ngày đêm sáu thời tụng kinh hoặc ngồi thiền mà không quán chiếu, tuy có công phu nhưng gặp cảnh thuận dễ xao xuyến, gặp cảnh nghịch dễ sanh phiền não. Trái lại, nếu mỗi ngày gặp việc, mỗi lúc đối cảnh chúng ta đều dùng trí Bát-nhã để quán chiếu thì sẽ ít phiền não, tâm an ổn. Đó là sự thật.
Thiền sư Thanh Viễn dẫn câu chuyện của thủ tọa Vĩnh và ngài Từ Minh, cả hai đều là đệ tử của thiền sư Thiện Chiêu. Ngài Từ Minh đã ngộ đạo còn thủ tọa Vĩnh vẫn chưa ngộ. Khi ngài Từ Minh đi các nơi hoằng hóa, thủ tọa Vĩnh cũng đi theo. Ngót hai mươi năm như vậy vẫn chưa ngộ đạo triệt để. Vào một buổi tối mùa đông các ngài ngồi quanh lò sưởi, thiền sư Từ Minh lấy đũa sắt gắp than rồi chỉ hòn than gọi: “Thủ tọa Vĩnh!” Tưởng ngài Từ Minh nói đùa nên thủ tọa Vĩnh liền nói: “Dã hồ tinh!" Từ Minh bảo “Kẻ khờ!” là chê thủ tọa Vĩnh chưa giải quyết xong việc của mình, chưa thấy đạo cứu cánh nên gọi kẻ khờ. Từ Minh nói tiếp “Lại phải thế ấy đi”, thủ tọa Vĩnh ngay đó liền ngộ.
Qua câu chuyện trên chúng ta thấy ngài Từ Minh dạy phải thấy đạo bằng trí tuệ, đừng thấy bằng niềm tin, thấy bằng trí tuệ sẽ được an lạc. Cũng vậy, nếu chúng ta đến với đạo bằng niềm tin, nghĩa là tin Phật tin Pháp tin Tăng, rồi cố gắng y theo đó tu thì phước tuy có nhưng đạo lại khó gần. Người biết dùng trí tuệ, nhân nơi Phật pháp nhận được cái sẵn có của mình. Bao nhiêu kinh Phật lời tổ đều chỉ lẽ thật đó. Khi thủ tọa Vĩnh nhận ra ý chỉ của ngài Từ Minh, biết và hằng sống với trí tuệ của mình. Về sau ngài Từ Minh hỏi câu nào, đại chúng đáp không được, riêng thủ tọa Vĩnh nói ngài đều gật đầu.
Người sống được với trí tuệ chân thật thì đi đứng nằm ngồi đều hợp với đạo, chưa cần nói đã hợp rồi. Chúng ta vào đạo với niềm tin hay trí tuệ? Tin Tam bảo là có phước, tụng kinh niệm Phật là có phước, cúng dường là có phước. Đó là vào đạo bằng niềm tin chứ không bằng trí tuệ. Cho nên khi đã học hiểu, chúng ta phải dùng trí tuệ mở sáng con mắt của mình, chỉ có trí tuệ mới phá tan được phiền não.
Nếu chúng ta chỉ biết lấy công phu tụng kinh nhiều, niệm Phật lắm là có phước, mà không biết dùng trí tuệ để quán chiếu ngôn ngữ hư giả, người cảnh hư giả thì gặp việc trái ý rất dễ nổi sân. Thấy sự việc, thấy người thấy mình đều thật thì khó tu vô cùng. Muốn tu giải thoát phải đặt trí tuệ lên trên. Trong Lục độ, tuy trí tuệ được kể sau hết nhưng nó trùm cả năm độ kia. Như bố thí mà thiếu trí tuệ thì bố thí không thành ba-la-mật, trì giới mà thiếu trí tuệ thì trì giới cũng không thành ba-la-mật v.v... Đã học đạo giác ngộ mà thiếu trí tuệ thì làm sao giác ngộ. Chính trí tuệ mới cởi bỏ được tất cả phiền não và đưa chúng ta đến chỗ hoàn toàn giác ngộ. Cho nên thiền sư Thanh Viễn nói được đó phải như Vĩnh, cho thuốc phải như Từ Minh. Nghĩa là biết người chưa được, còn đang nghi ngờ thì phải tạo phương tiện làm sao cho người sạch hết nghi ngờ.
Ở chỗ ồn được lặng thì chợ xóm biến thành núi rừng, phiền não biến thành Bồ-đề, chúng sanh thành Chánh giác. Câu nói này người mới học đạo đều nói được hiểu được, có một thứ thấy biết bình đẳng, đến khi buông tâm thì phàm thánh vẫn là hai như xưa, cái dụng giữa lặng và động khác nhau. Thế là càng biết rõ giải hội này cần phải có chỗ an ổn mới được một vị, không nên gắng hội.
Ở chỗ ồn được lặng thì chợ xóm biến thành núi rừng, phiền não thành Bồ-đề, chúng sanh thành Chánh giác. Câu nói này người mới học đạo đều nói được hiểu được, có một thứ thấy biết bình đẳng, đến khi buông tâm thì phàm thánh vẫn là hai như xưa, cái dụng giữa lặng và động khác nhau.
Câu nói này chúng ta vẫn thường nghe, như mình ở chỗ vắng vẻ tu, có người bảo: “Cần gì phải ở nơi vắng vẻ, ở chợ tu được mới hay. Ở chợ mà không động tâm mới là thật tu. Như vậy phiền não tức Bồ-đề, chúng sanh tức Chánh giác. Trên núi mà tu thì có gì hay.” Nói câu này nghe cũng được, nhưng thực hiện được hay không lại là một việc khác.
Chỗ này chúng ta thử nghiệm sẽ thấy rõ ràng. Chẳng hạn khi ngồi một mình ở chỗ lặng lẽ dụng công phu, thấy có chút an lạc. Sau đó, năm bảy huynh đệ đến chơi ngồi nói chuyện. Tuy ta không nói nhưng giữa chốn ồn ào ấy, mình không còn an như trước. Đây là đồng một cảnh, mà khi không người đã khác với nhiều người rồi, huống nữa ở giữa chợ có biết bao nhiêu chuyện. Ai cũng có thể nói nhưng chưa hẳn đã làm được.
Thế là cùng biết rõ giải hội này cần phải có chỗ an ổn mới được một vị, không nên gắng hội. Hội đây nghĩa là hiểu, ngộ. Người giải hội do học hoặc nghe thiện tri thức nhắc nhở mà lãnh hội được, cần phải có một cảnh an ổn lâu dài mới thuần nhất. Đó là sự thật thiền sư Thanh Viễn muốn nhắc nhở chúng ta, phải thấy một cách chắc thực không lầm lẫn. Đa số chúng ta có bệnh hiểu được chút ít tưởng mình đã xong, nhưng khi gặp việc thì những cái hiểu lúc trước biến đâu mất, vì chưa hoàn toàn sống với tâm thể chân thật.
Gần đây nhiều người lấy vấn đáp làm gia phong thiền gia, chẳng rõ việc của người xưa, một bề chạy theo ngọn ngành không biết trở lại, thật là quái lạ! Người xưa vì mê mà hỏi, chỗ hỏi cầu chứng nhập, được một lời, nửa câu, đem làm việc nghiên cứu phát minh khiến cho thấu triệt, không giống người thời nay hỏi loạn, đáp bừa rồi cười đùa.
Có nhiều người đến hỏi đạo nhưng không vì đạo. Họ chỉ hỏi để mà hỏi hoặc hỏi để đùa chơi. Thành ra việc hỏi đạo thật vô ích. Chỗ này người xuất gia chúng ta phải cẩn thận. Khi trả lời người hỏi đạo cần biết câu nào nên đáp, câu nào không nên đáp. Giả sử người đến hỏi đạo để hơn thua, chúng ta nên im lặng, chịu làm kẻ dốt. Nếu hỏi để đùa chơi thì chúng ta càng nên dốt hơn nữa. Chỉ trả lời cho những người hỏi vì muốn giải nghi ngờ để tu hành.
Kẻ đạt giả trong mười hai giờ học đạo không có một khoảnh khắc bỏ phế, người này dù chưa được vào, mà mỗi niệm đã là tu hành. Tầm thường nói tu hành, chẳng qua ba nghiệp, sáu căn thanh tịnh. Thiền môn không thể như thế. Vì sao? Vì môn thiền định, niệm niệm cùng trí ba-la-mật bình đẳng, tất cả chỗ tự không lỗi lầm, hằng lâu bỗng có ngày tâm địa thông suốt, từ trước thảy được đầy đủ, gọi là nhất hạnh tam-muội. Người thời nay toàn là sức định, lại chẳng mở con mắt trí tuệ, có những cơ duyên ngữ cú, chỉ thành tranh luận, tâm hành sanh diệt.
Kẻ đạt giả trong mười hai giờ học đạo không có một khoảnh khắc bỏ phế, người này dù chưa được vào, mà mỗi niệm đã là tu hành. Người học đạo trong mười hai giờ phải luôn luôn cần mẫn không buông bỏ, tức hằng làm chủ được tâm mình. Chúng ta trong mười hai giờ, tu ba giờ bỏ chín giờ, thậm chí loạn luôn hết mười hai giờ.
Tầm thường nói tu hành, chẳng qua ba nghiệp, sáu căn thanh tịnh. Lâu nay chúng ta tu cốt giữ cho ba nghiệp, sáu căn được thanh tịnh là trên hết. Nhưng trong nhà thiền không chấp nhận điều đó. Tại sao?
Bởi vì môn thiền định, niệm niệm cùng trí ba-la-mật bình đẳng, tất cả chỗ tự không lỗi lầm. Hiện giờ chúng ta tu môn thiền định là mỗi niệm đều bình đẳng với trí ba-la-mật. Cho nên không chỉ thanh tịnh sáu căn là được, không chỉ thanh tịnh ba nghiệp là xong. Bởi ba nghiệp sáu căn thanh tịnh mới chỉ có định chứ chưa có tuệ. Trí tuệ bình đẳng là trí tuệ nhận được tâm thể lặng lẽ nhất như. Sống được với tâm thể đó thì khi nhìn cảnh, nhìn người đều thấy tất cả là tướng duyên hợp hư giả. Nghĩa là nơi nào cũng không lỗi lầm vì nơi nào cũng có tâm thể bình đẳng. Nếu chúng ta sống được với trí ba-la-mật, mỗi niệm phù hợp với trí ba-la-mật bình đẳng trong thời gian dài thì có ngày tâm địa thông suốt, từ trước thảy được đầy đủ, gọi là nhất hạnh tam-muội. Do đó, chỉ một hạnh này mà đầy đủ tất cả chánh định.
Người thời nay toàn là sức định, nghĩa là chỉ cố giữ cho ba nghiệp, sáu căn thanh tịnh. Lại chẳng mở con mắt trí tuệ, có những cơ duyên ngữ cú, chỉ thành tranh luận, tâm hành sanh diệt. Gần đây có những người học đạo mà đạo không thông, pháp tu chưa chứng, nghe người tu pháp khác thì lại bác họ. Thí dụ người tu Tịnh độ bác người tu Thiền, người tu Thiền bác người tu Tịnh độ. Đó là chỉ trích trên tâm hành sanh diệt, chứ không có con mắt trí tuệ.
Người có con mắt trí tuệ thông suốt phải lo giải quyết cho xong việc của mình, thời giờ đâu đi công kích người. Chẳng hạn hiện chúng ta đang tu thiền, nghe nói có vị tu tịnh độ hay trì chú hoặc tu thoại đầu, khán công án v.v... chúng ta công kích họ. Vì lo công kích người nên không có thì giờ tu cho mình. Phải tìm cách lý luận làm sao hơn người, thế là càng công kích càng xa với đạo. Người biết đạo thì tự xoay lại giải quyết cho xong việc mình. Sau đó sẵn sàng giúp đỡ những người muốn đi theo con đường của mình. Chúng ta phải tôn trọng tự do của người, đừng bắt người theo mình, đó là tật xấu của những người chưa hiểu đạo.
Ngày trước tôi cũng là một nạn nhân bị công kích. Có một vị sư nghe nói tôi tu thiền nên đến thăm. Gặp nhau nói vài câu chuyện, vị đó hỏi:
- Thầy dạy tu thiền, vậy có dạy niệm Phật không?
Tôi thật thà đáp:
- Chủ trương của tôi dạy môn nào một môn thôi. Một mình ôm nhiều môn quá, e làm không xong. Cho nên tôi chỉ dạy một môn tu thiền, còn niệm Phật đã có quý hòa thượng khác dạy.
Vị ấy nói:
- Tu thiền mà không niệm Phật thì không bao giờ đạt đạo. Tu thiền mà niệm Phật nữa thì như cọp mọc sừng.
Xong vị ấy lại dẫn trong kinh nói:
- Người tu thiền như con kiến từ dưới đất bò lên núi. Người niệm Phật như chiếc thuyền có buồm xuôi gió thuận nước, giương buồm lên là chạy đến nơi. Vì vậy tu niệm Phật mới được.
Tôi hỏi:
- Thầy thấy lời đó trong kinh nào nói?
Vị sư kia ngẩn ra vì không biết kinh nào.
Thế gian có nhiều chuyện lạ đời, trong đạo cũng giống như vậy. Chính mình không hiểu việc mình đang làm có được hay không, vậy mà nghe nói ai làm khác hơn thì chống lại. Pháp môn của mình vẫn chưa nắm vững mà đi công kích người khác. Rõ ràng là người không có con mắt trí tuệ.
Thiền học chẳng phải việc nhỏ, chưa có cái dụng siêu Phật vượt tổ, được rồi muốn siêu việt cũng chẳng khó. Cao Bưu Tôn Thừa Vụ biên thư nói tôi: “Chẳng rời ý tưởng, chẳng ở có không, thế nào là phải?” Tôi đáp: “Nếu hỏi thế nào thì chẳng phải, không hỏi thế nào cũng chẳng phải.” Khách say bừng tỉnh thì thần châu tự sẵn đủ, đâu có thể dự tính làm rồi sau mới nhận. Người lanh lợi bậc nhất, tìm tòi chẳng đến một niệm này, khó được tự thấy, thấy đó tức phải, không riêng có lối tẽ. Tầm thường cho niệm trước là phải, lấy niệm sau soi đó, trước sau đuổi nhau, lấy tâm dụng tâm, tâm ắt thành cảnh. Cái nguyên tắc buổi đầu đã thành tâm cảnh rồi, lần lượt lại chẳng kham.
Thiền sư Thanh Viễn nói thiền học là một việc lớn. Khi đạt đạo rồi thì có cái dụng siêu Phật vượt tổ cũng không khó. Chỗ này nghe như kiêu mạn vì như vậy chúng ta siêu vượt hơn Phật tổ hay sao? Thật ra nói siêu Phật vượt tổ là khi chúng ta sống được với tâm thể, tự có đầy đủ những diệu dụng siêu thoát không khó khăn. Người chưa sống được với tâm thể mà muốn có dụng siêu thoát là việc vô lý.
Nên biết có hai hạng người tu: Một là chạy theo ngọn, hai là trở về gốc. Hạng thứ nhất, khi nghe Phật tổ, các vị A-la-hán tu hành chứng tam minh, lục thông, họ cũng thích có thần thông như bay được, biết tâm người khác v.v... Họ cho những thứ đó là siêu việt. Đây là người căn cứ trên ngọn mà tu, vì Phật nói thần thông diệu dụng chỉ là dụng của tâm thể.
Hạng thứ hai, khi sống được với tâm thể thì những thần thông diệu dụng kia không cầu mà tự có. Trái lại, chưa sống được với tâm thể mà cầu thần thông thì dễ lạc vào đường tà. Bởi ma cũng có thần thông, khi biết chúng ta muốn thấy Phật nó sẽ hiện Phật, muốn bay nó sẽ làm cho mình bay v.v... Chúng ta làm sao biết việc ấy là chánh hay tà. Nhiều người tu thiền bị điên cuồng vì họ mong có thần dụng. Chúng ta trở về gốc tức là trở và với tâm thể lặng lẽ thênh thang thì vô lượng diệu dụng sẽ tự đầy đủ, không gì có thể quyến rũ hoặc làm mình rơi lạc.
Cao Bưu Tôn Thừa Vụ biên thư hỏi tôi: “Chẳng rời ý tưởng, chẳng ở có không, thế nào là phải?” Tôi đáp: “Nếu hỏi thế nào thì chẳng phải, không hỏi thế nào cũng chẳng phải.” Dù ông có hỏi thế nào đi nữa đều chẳng phải, chẳng hỏi thế nào cũng chẳng phải. Thí dụ, chúng ta đang ngồi trong lớp học, ai cũng nhìn thấy trên bàn giảng có một ly nước. Tôi hỏi huynh đệ có thấy ly nước không? Huynh đệ nào mắt sáng nhìn lên bàn đều thấy. Có một vị hỏi lại “Cái ly đó phải ly nước không?” Như vậy huynh đệ ấy chưa thấy hoặc thấy chưa rõ ly nước. Cũng thế, hỏi tu thế nào tức là chưa phải, không hỏi tu thế nào cũng chưa phải. Bởi thế nào hay không thế nào đều là hai bên, còn hai bên tức còn đối đãi. Lại, hỏi phải hay chẳng phải là còn nghi ngờ chưa quyết định, há có thể đúng được sao?
Khách say bừng tỉnh thì thần châu tự sẵn đủ, câu này lấy ý trong phẩm Thí Dụ của kinh Pháp Hoa. Có một người nghèo tới thăm bạn, hai người uống rượu với nhau. Người bạn giàu có việc đi gấp, muốn tặng hạt châu cho người bạn nghèo, nhưng thấy bạn của mình say quá, đành lấy hạt châu cột trong chéo áo. Thời gian sau gặp lại, thấy người bạn nghèo vẫn lang thang đói khổ nên nói, tôi đã cho anh hạt châu cột trong chéo áo, tại sao anh không đem ra dùng? Do đó nói, khách say bừng tỉnh thì thần châu tự sẵn đủ. Người tu thiền chỉ cần nhận ra kho báu của mình thì cái gì mà chẳng đủ. Đâu cần hỏi phải hay chẳng phải. Vì hỏi phải chẳng phải là còn nghi ngờ, chưa nhận mình có hạt châu.
Thế nên đâu có thể dự tính làm rồi sau mới nhận, vì hạt châu vốn sẵn. Chúng ta không phải làm việc này việc kia xong mới nhận ra hạt châu. Cũng như không thể nói tu hành phải trải qua mười năm, hai mươi năm mới nhận ra tâm yếu. Có những người đang là kẻ thế tục, chỉ cần nghe một câu nói cũng có thể nhận ra liền. Nên nhớ không phải do công phu nhiều mà chính là khéo nhận, nói cách khác là cần phải có trí tuệ Bát-nhã.
Người lanh lợi bậc nhất, tìm tòi chẳng đến một niệm này, khó được tự thấy, thấy đó tức phải, không riêng có lối tẽ. Dù cho người lanh lợi nhất thế gian, muốn suy nghĩ cho ra tâm thể cũng không bao giờ tìm được. Cho nên trong kinh Pháp Hoa, đức Phật nói: “Giả sử cả thế giới này có bao nhiêu người thông minh trí tuệ như Xá-lợi-phất, cộng lại cũng không suy lường được trí tuệ của Phật.” Câu nói đó có ẩn ý, chúng ta cứ tưởng trí tuệ của Phật cao lắm nên cộng bao nhiêu người lại cũng không bằng. Không ngờ lỗi tại mình suy nghĩ, càng suy nghĩ càng không thấy. Thành ra được trí tuệ như ngài Xá-lợi-phất là ít có, cộng hết cả những người trong thế gian này có trí tuệ bằng ngài vẫn không suy lường được trí tuệ Phật. Vậy nên người lanh lợi nhất thế gian muốn tìm kiếm niệm này cũng không được. Chỉ có người thấy đó tức phải, không riêng có lối tẽ. Nghĩa là khi nhận ra được tâm thể thì há còn lối nào khác hơn nữa.
Tầm thường cho niệm trước là phải, lấy niệm sau soi đó, trước sau đuổi nhau, lấy tâm dụng tâm, tâm ắt thành cảnh.
Bình thường cho niệm trước là phải rồi lấy niệm sau soi niệm trước, cứ lấy cái này soi cái kia. Thí dụ, khi chưa dấy niệm ta cho đó là tịnh, lúc dấy niệm ta cho đó là động. Lấy cái động để soi cái tịnh thì cái tịnh đã thành cảnh bị soi. Như vậy, niệm sau là niệm hay soi, niệm trước là cảnh bị soi. Cho nên tâm biến thành cảnh, tức đã có hai. Do đó trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ bác quán tịnh. Chỉ cần biết ngay niệm khởi là hư giả, không cần phải tìm niệm trước. Nếu lấy tâm dụng tâm, tâm ắt thành cảnh.
Cái nguyên tắc buổi đầu đã thành tâm cảnh rồi, lần lượt lại chẳng kham. Vì khi đã thành tâm thành cảnh, tức đã thành hai thì làm sao dứt được.
Như hiện nay niệm sau chẳng nhận, tự không có chỗ khởi diệt, chính nơi đó là giải thoát. Niệm vốn chẳng sanh, sao lại có ý tưởng có không làm lưu ngại? Một niệm ngộ tâm liền thành chánh giác chính là nói nơi đây vậy. Niệm niệm không sanh, niệm niệm không tướng đồng với hư không. Chạm vật gặp duyên đều là diệu dụng Phật. Không có mảy tơ đối đãi. Hạt châu trong chéo áo, riêng soi sáng khắp thế giới mười phương. Việc này mục kích liền rõ, chẳng đợi dấy ý, sau rồi mới biết. Sự nghiệp đại trượng phu này không thể chẳng thành tựu. Nếu muốn cầu phải, liền có pháp chẳng phải làm chướng ngại; muốn cầu đắc niệm, là lý do trước sau đều thất niệm. Ngày đêm không tự tại, muốn hợp đạo cũng không có mảy nào để hợp, càng gấp càng không hợp, bệnh tại chỗ lấy một bỏ một. Không khéo dụng tâm chẳng được yếu thuật, mờ mịt không hiểu, mỗi ngày cách đạo càng xa.
Đoạn này thiền sư Thanh Viễn chỉ cho chúng ta yếu thuật của sự tu. Chỗ này cần thấy rõ, nhận kỹ thì việc tu mới thảnh thơi và mau tiến.
Như hiện nay niệm sau chẳng nhận, tự không có chỗ khởi diệt, chính nơi đó là giải thoát. Sao gọi là niệm sau? Niệm trước chúng ta không nhớ, niệm vừa muốn dấy lên khởi nghĩ gọi là niệm sau. Nếu mình không theo thì tự nó mất, vì vậy không có chỗ khởi cũng không có chỗ diệt, chính nơi đó là giải thoát.
Niệm vốn chẳng sanh, sao lại có ý tưởng có không làm lưu ngại? Khi chúng ta thấy rõ niệm dấy lên là không thật, mình không theo thì tự nó tan hoại. Như vậy cần gì phải khởi ý tưởng cái đó có hay không, sanh ra trở ngại.
Một niệm ngộ tâm liền thành chánh giác, chính là nói nơi đây vậy. Một niệm ngộ tâm là gì? Tức là vọng niệm dấy lên ta biết ngay nó là giả, không theo để sống với cái thật. Chỗ này chúng ta thường nghe nhưng ít ai để ý nên không thấy quan trọng. Mê tâm là quên cái thật chạy theo cái giả, quên tâm chân thật chạy theo vọng tưởng.
Thử xét coi trên thế gian này có bao nhiêu người không chấp nhận vọng tưởng là tâm mình? Thường chúng ta hay nói tôi nghĩ thế này, tôi tính thế kia v.v... xác nhận cái nghĩ cái tính đó là mình. Suy nghĩ là tôi thì tâm chân thật kia là của ai? Do mê tâm nên chấp nhận cái hư vọng là mình thì tâm thể kia không bao giờ biết đến. Hãy nhìn kỹ lại xem ông bà, cha mẹ mình có giây phút nào không mê tâm chăng? Nếu chưa học đạo thì người nào cũng vậy, cứ cho những suy nghĩ là mình rồi theo con đường đó suốt từ đời này đến đời kia. Cho nên ngộ tâm là trở về tánh giác chứ không có gì lạ.
Chánh giác không phải là giác cái này, cái kia ở bên ngoài. Chánh giác là ngay nơi cái lầm tưởng của mình, bây giờ biết rõ nó chỉ là chú hề, là giả, không theo nó tự nhiên trở về cái chân thật. Trở về cái chân thật gọi là ngộ đạo. Thường chúng ta không quan trọng kiểu ngộ này, cứ nghĩ ngộ là phải bừng sáng, có trí tuệ biết tất cả mọi việc. Chỉ mong kiểu ngộ đó mà không chịu nhận chỗ ngộ này. Song cái ngộ này đâu phải dễ thấy. Từ lúc sanh ra đến giờ có ai thấy được không? Nếu chưa học đạo, chúng ta đều cho cái nghĩ tính là mình, có ai dám nói nó không phải là mình.
Khi thấy rõ nó chỉ là bóng dáng, không phải thật mình, tự nhiên nó hết và “ông chủ” hiện tiền. Nếu chúng ta gan dạ chấp nhận tất cả những suy nghĩ là bóng dáng, không thật thì chắc rằng nhiều người ở chung một nhà cũng không phiền não. Người hiểu đạo rồi thì cả ngày lo làm việc của mình, có rảnh rỗi đâu mà ngồi nói hơn nói thua, nói phải nói quấy, chuyện người này người kia. Thành ra biết tu thì sống bao nhiêu người cũng êm đềm, cũng đạo vị.
Hiểu như vậy mới thấy sự tu có lợi ích thiết thực, còn không thì thấy tu làm sao mà ba năm, bảy năm rồi vẫn còn sân. Cứ chấp cái nghĩ của mình là đúng, nhưng chính cái nghĩ đó thay đổi luôn luôn, bây giờ phải, lát nữa lại không phải. Ngay suy nghĩ của mình mà buổi sáng thấy đúng chiều lại sai, huống là với người khác. Thế mà mỗi khi nghĩ ra điều gì, ta thường cho nó là chân lý rồi bắt người khác tuân theo, nếu người không theo ta liền nổi sân. Chuyện đó thật là vô lý, không có đạo đức. Đạo đức là trở về cái chân thật, không chạy theo mê để tỉnh. Chẳng lẽ tu hành lại chịu mê suốt đời hay sao?
Niệm niệm không sanh, niệm niệm không tướng cùng với hư không đồng. Chạm vật gặp duyên đều là diệu dụng Phật. Đã không sanh sao nói niệm niệm? Nói niệm niệm tức có sanh rồi. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ nói bài kệ đối lại thiền sư Ngọa Luân. Ngọa Luân cho rằng khi đối cảnh tâm không khởi suy nghĩ, Tổ nói hằng suy nghĩ. Khi chúng ta mới tu tâm chưa lặng vì vẫn còn niệm, nhưng niệm dấy lên mình đều biết nó là bóng dáng không thật thì có chỗ nào sanh, chỗ nào diệt. Vì vậy nói niệm niệm không sanh, niệm niệm không diệt, niệm niệm không tướng. Bởi niệm là bóng dáng nên không có thật tướng, tức là rỗng rang đồng với hư không, là trở về tâm thể. Đã trở và với tâm thể thì khi chạm vật, gặp duyên liền dấy lên diệu dụng.
Thiền sư Ma Cốc cùng thiền sư Nam Tuyền và thiền sư Quy Tông ghé quán uống nước. Bà già nấu một bình trà, bưng ba chén chung đến hỏi:
- Hòa thượng nào có thần thông thì uống trà?
Ba ngài nhìn nhau chưa nói câu nào, bà già liền bảo:
- Xem kẻ già này trình thần thông đây.
Nói xong bà nghiêng bình rót trà vào chung, rồi đi.
Như vậy nếu chúng ta hằng thấy niệm là không sanh, không tướng thì niệm đó đồng với hư không, là tâm thể rỗng rang. Khi sống được với tâm thể đó thì cái gì dấy lên cũng là diệu dụng. Vì vậy ông Bàng Uẩn nói “Thần thông cùng diệu dụng, gánh nước bửa củi tài”, nghĩa là gánh nước bửa củi đều là đạo. Cho nên đâu phải không niệm mới là đạo. Chính mỗi niệm dấy lên, biết nó không thật là sống với đạo.
Do đó không có mảy tơ đối đãi. Không sanh, không tướng thì lấy gì đối đãi. Sở dĩ chúng ta có niệm thiện niệm ác, nghĩ tốt nghĩ xấu vì chấp nhận nó là thật nên thấy có đối đãi. Giờ đây biết rõ nó không thật thì còn gì đối đãi.
Hạt châu trong chéo áo, riêng soi sáng khắp thế giới mười phương. Hạt châu này dụ cho tâm thể. Tất cả chư Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên là khai thị chúng sanh nhận ra được tâm thể của chính mình. Vì vậy mỗi niệm dấy lên, chúng ta biết rõ nó là bóng dáng sáu trần không thật, không chạy theo thì tâm thể rộng thênh thang. Đó là hạt thần châu tự hiện bày.
Việc này mục kích liền rõ, chẳng đợi dấy ý, sau rồi mới biết. Tức là ngay đó nhận ra không phải suy nghĩ gì nữa.
Sự nghiệp đại trượng phu này không thể chẳng thành tựu. Nếu nhận ra được như vậy là thành tựu sự nghiệp của đại trượng phu.
Nếu muốn cầu phải, liền có pháp chẳng phải làm chướng ngại, tức là khi hỏi phải thì đã có cái không phải ngăn che.
Muốn cầu đắc niệm, là lý do trước sau đều thất niệm. Thí dụ muốn làm cho niệm yên, vừa nghĩ đã bị cái niệm yên làm loạn rồi. Cho nên không cần nó yên, chỉ biết nó hư giả không thật, không theo thì nó tự yên. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ đâu chẳng nói niệm dấy lên liền giác, giác liền là Phật. Như vậy một niệm dấy lên mình giác thì thành một ông Phật. Ngàn niệm dấy lên đều có giác thì thành ngàn ông Phật. Cho đến hằng hà sa số niệm dấy lên đều có giác thì thành hằng hà sa số ông Phật. Vì vậy không sợ niệm khởi chỉ sợ giác chậm. Giác thì niệm tự hết. Niệm hết tức trở về tâm thể.
Ngày đêm không tự tại, muốn hợp đạo cũng không có mảy nào để hợp, càng gấp càng không hợp. Thường chúng ta tu hay băn khoăn làm sao hợp với đạo nhưng đạo ở đâu mà hợp? Nếu đòi hợp với đạo thì đạo là một cái khác rồi. Nhưng đạo chính là mình thì hợp cái gì? Chỉ không theo vọng thì đạo hợp, càng cầu hợp thì càng xa với đạo.
Bệnh tại chỗ lấy một bỏ một, tức là lấy chân bỏ vọng. Đa số chúng ta thường than thở tu mà vọng hoài thật là khổ nên muốn cầu chân để hết vọng. Bây giờ chỉ ngay nơi vọng, biết thể vọng vốn là chân, vậy cầu chân làm gì? Càng cầu càng khổ lại không có chỗ được. Thành ra kẻ không khéo dụng tâm chẳng được yếu thuật, mờ mịt không hiểu, mỗi ngày cách đạo càng xa. Yếu thuật ở đây là không theo vọng tưởng, cũng không theo chân. Khi đi đứng nằm ngồi, vừa dấy niệm liền biết nó là bóng dáng không thật. Chỉ cần lặng lẽ biết chứ không theo thì tự nó hết. Đây là yếu thuật đơn giản mà kết quả lại rất tốt.
Nếu an tọa tinh thần, chẳng nhọc tự biện biệt. Đại sư Đạt-ma bảo ông Dương Huyễn Chi rằng:
Cũng chẳng bỏ trí mà gần ngu,
Cũng chẳng bỏ mê mà đến ngộ.
Đạt đại đạo chừ quá lượng,
Thông Phật tâm chừ vượt bậc.
Chẳng cùng phàm thánh đồng hành,
Siêu nhiên gọi đó là Tổ.
Dương Huyễn Chi hỏi thế nào là đạo? Tổ Đạt-ma đáp chẳng bỏ trí mà gần ngu, chẳng bỏ mê mà đến ngộ. Vì có trí có ngu là có hai, có mê có ngộ cũng là hai. Chỉ ngay cái ngu mà biết ngu là trí, ngay cái mê biết mê là ngộ. Người biết được như vậy thì đạt đại đạo. Thông Phật tâm chừ vượt bậc, người nào thông đạt Phật tâm tức đã vượt bậc. Chẳng cùng phàm thánh đồng hành, tức là vượt lên hai đầu phàm thánh, người được như vậy gọi đó là Tổ.
Chẳng chấp bỏ một bên đến một bên, phải biết rõ ràng rành rẽ, rõ ràng tác dụng, nhận thẳng hội lấy, chuyển phàm thành thánh, điểm sắt thành vàng. Cần yếu được lối tắt, không thể chẳng như thế mà nghiên cứu. Chỉ e người người chạy theo hai đầu, một đã chẳng thành, hai lại chẳng phải. Chẳng biết huyền chỉ, luống nhọc niệm tịnh. Nhị thừa do đoạn phiền não mà được chứng đạo, gọi là tu thiên lệch. Chẳng bằng ứng niệm liền hóa thành vô thượng, hiểu biết ấy rất chóng.
Chúng ta tu chẳng nên bỏ một bên đến một bên, nghĩa là đừng cho đây là vọng để tìm chân, đây là mê để tìm ngộ. Chỉ ngay nơi vọng biết chân, ngay nơi mê biết ngộ. Phải biết rõ ràng rành rẽ, rõ ràng tác dụng, nhận thẳng hội lấy, chuyển phàm thành thánh, điểm sắt thành vàng. Phải biết rõ ràng rành rẽ chỗ đó, biết tác dụng, nhận thẳng nơi đó, hội lấy nơi đó, đừng tìm ở đâu khác. Được như vậy thì chuyển phàm thành thánh, điểm sắt biến thành vàng, diệu dụng vô ngần.
Cần yếu được lối tắt, không thể chẳng như thế mà nghiên cứu, nghĩa là đừng chạy theo hai bên, chỉ mong được lối thẳng tắt mà tu. Cho nên chỉ e người chạy theo hai đầu, một đã chẳng thành, hai lại chẳng phải. Nếu chạy theo hai đầu, bỏ vọng cầu chân, chân không thành chân, vọng cũng không hết. Như vậy một không thành, hai chẳng phải, cái nào cũng không xong. Lối tu này hơi khó. Nhiều người nói tu phải có đối đãi như tốt trị xấu, thiện trị ác v.v... nhưng cách đó dành cho người sơ cơ trong bước đầu, còn đến chỗ cứu cánh mà dùng như vậy là bệnh.
Chúng ta tu theo đạo Phật là cầu thoát khỏi sanh tử, cho nên thiền sư Thanh Viễn dẫn lời tổ Tăng Xán trong bài Tín Tâm Minh: “Chẳng biết huyền chỉ, luống nhọc niệm tịnh.” Nghĩa là người không biết được yếu chỉ mầu nhiệm này, cứ nhọc nhớ về tịnh thì càng nghĩ tịnh lại càng không tịnh. Vì tịnh là cái không suy nghĩ, vừa suy nghĩ là động rồi.
Hàng Nhị thừa cho rằng dùng phương tiện đoạn được phiền não là chứng đạo, mà không biết còn phiền não để trừ tức còn có hai. Cho nên được đạo chỉ là đạo một bên, chưa phải cứu cánh. Chẳng bằng ứng niệm liền hóa thành vô thượng, nghĩa là dù dấy lên niệm tốt xấu, thiện ác v.v... mà ngay đó chúng ta tỉnh giác thì niệm biến thành chân. Hiểu biết ấy rất chóng, người được như vậy rất mau. Đó là yếu thuật từ trước tới nay thiền sư nào cũng nói đến, vậy mà chúng ta lại coi thường điều này.
Người tu hành khi gặp phiền não khởi thì phải làm sao? Cổ nhân nói: Chỉ dùng chánh tri kiến trị nó. Tôi thì chẳng thế, chỉ dùng phiền não trị nó. Nhìn lại phiền não này, liền chẳng thấy có phiền não. Tại sao? Phiền não không thể lại trị phiền não. Như lửa không thể tự đốt lửa, nước lại chẳng ướt nước, vì thể tánh đồng một, không thể được hiện bày. Đây rõ vọng tưởng vốn không, chẳng cần trừ dẹp. Nếu khởi trí đoạn trị, đè bẹp, lại thành dụng tâm khác. Có đối đãi là bị hai cảnh lôi quanh, dù có được cũng cong vạy phần hạn. Người tu hành phải đi đường thắng tắt là trên hết. Cổ nhân nói: Kiếp hỏa từng đem không hơi thổi, chẳng nhọc công lực liền đó hết. Đó là ý này vậy.
Cổ nhân nói người tu hành khi gặp phiền não khởi chỉ cần dùng chánh tri kiến trị nó, nhưng ở đây thiền sư Thanh Viễn nói chỉ dùng phiền não trị. Thí dụ mình nổi sân phiền não dấy lên, vậy phải làm sao để trị? Không cần lấy cái gì khác trị, chỉ cần tìm xem cái sân, cái phiền não ở đâu, hình dáng ra sao. Ngay đó thấy sân, phiền não không thật. Tìm lại cội nguồn thì nó không có nên tự tan hoại, nghĩa là lấy nó trị nó. Chính thuật này tổ Bồ-đề-đạt-ma đã dùng để an tâm cho tổ Huệ Khả. Không cần đem pháp khác dạy an tâm, chỉ cần quay lại tìm tâm bất an xem nó ở đâu, tìm không thấy thì nó tự an. Đó cũng là yếu thuật chung của nhà thiền.
Tại sao? Phiền não không thể lại trị phiền não? Như lửa không thể tự đốt lửa, nước lại chẳng ướt nước, vì thể tánh đồng một, không thể được hiện bày. Đây rõ vọng tưởng vốn không, chẳng cần trừ dẹp.
Ngay nơi phiền não biết phiền não là không thật thì còn gì để trừ dẹp. Thí dụ chúng ta đi dưới trời nắng thấy có cái bóng, liền khởi nghĩ làm sao dẹp cái bóng này. Chỉ cần biết bóng không thật, đi vào chỗ mát thì bóng hết, chứ có gì phải dẹp. Cứ chạy ngoài trời kêu la làm sao cho hết cái bóng, như thế có ích gì không? Làm sao hết? Càng chạy la cái bóng càng hiện rõ ràng. Nên biết nó không thật, chỉ cần bước vào trong mát thì nó hết.
Thật ra thuật tu rất đơn giản, đây chính là con đường thẳng tắt đến với đạo, còn gọi là đường chim bay. Không quanh co, không dùng cái này để trị cái kia. Tu còn có đối trị đều là lối quanh co. Tuy thủ thuật thẳng tắt cũng là phương tiện nhưng là đường chim. Như từ Vũng Tàu về Sài Gòn, đi xe, đi máy bay hay đi tàu đều là phương tiện. Song phương tiện xe khác hơn phương tiện tàu, phương tiện tàu khác hơn phương tiện máy bay. Vì vậy thời gian dài ngắn khác nhau.
Nếu khởi trí đoạn trị, đè bẹp, lại thành dụng tâm khác. Nếu dùng trí để trị nó, đè nó, dẹp nó tức là dụng tâm khác, thành ra có hai tâm, tâm bị trị và tâm hay trị. Như vậy nơi chúng ta có hai người, mình chưa sống trở về cái chân thật được.
Có đối đãi là bị hai cảnh lôi quanh, dù có được cũng cong vạy phần hạn. Đây chính là chỗ khác biệt giữa tinh thần Đại thừa và Nhị thừa. Chỗ cứu cánh của Nhị thừa là luôn luôn thấy “sanh tử đau khổ, Niết-bàn an vui”, nên phải gấp giải quyết sanh tử để cầu Niết-bàn. Vì vậy nếu có được Niết-bàn, chỉ là Niết-bàn phần hạn, trong kinh Pháp Hoa gọi là Hóa thành chứ chưa phải Bảo sở. Bởi vì nó còn nằm trong đối đãi, mà đối đãi thì đâu có trùm khắp. Chỗ cứu cánh của Đại thừa là trùm khắp không có gì ngoài nó. Cho nên lớn thì trùm khắp Tam thiên Đại thiên thế giới, nhỏ thì một mũi kim cũng chẳng lọt qua. Đó là chỉ tâm thể không còn đối đãi.
Nếu không hiểu thấu điều này, chúng ta sẽ không thấy được chỗ cao siêu của Đại thừa. Thật ra không phải mình có ý phân biệt giữa hai thừa, hoặc cho rằng Đại thừa có ý xem nhẹ Nhị thừa. Sự thật Phật muốn đưa chúng ta đến chỗ cứu cánh viên mãn, chứ không phải chỉ đưa đến chỗ tạm thời.
Người tu hành phải đi đường thẳng tắt là trên hết. Đường thẳng tắt là đường chim, tức là thấy rõ ngay nơi phiền não là không thật thì phiền não hết, chứ không cần tìm cái gì khác.
Cổ nhân nói: Kiếp hỏa từng đem không hơi thổi, chẳng nhọc công lực liền đó hết. Đó là ý này vậy. Ý nói khi trái đất đến thời kỳ hoại, kiếp hỏa nổi dậy, khắp quả đất đều cháy ngùn ngụt. Lúc đó ai nấy đều tắt thở, không có gì tồn tại lâu dài. Người tu đường tắt cũng vậy, chẳng nhọc công lực liền đó hết. Nghĩa là cứ thẳng ngay đó mà thấy thì tự nhiên mọi phiền não hết. Cũng như quả đất khi kiếp hỏa nổi dậy, không cần người này giết người kia, chỉ khi không có hơi thở thì tất cả mọi người ngay lập tức đều chết hết.
Việc tu cũng vậy, nếu ngay nơi phiền não biết thể nó là không, không theo thì tự nhiên nó hết, không cần tốn công, nhọc sức gì. Nếu không biết như thế ắt phải huấn luyện lâu ngày mới được.
Có khi ngồi tĩnh tọa tâm niệm chạy lăng xăng, hoặc lúc gặp việc hoàn toàn mất hết, đều bởi chưa được thân chứng. Bởi rơi vào hai, vào ba, đến sanh lầm lẫn lần lượt mất sạch. Cổ nhân nói: “Động tĩnh chẳng hai, chân vọng chẳng hai.” Ngài Duy-ma nói: “Rõ tất cả pháp đều vào pháp môn bất nhị.” Nếu nhận lãnh yếu chỉ này thì muôn cái động tự tịch diệt. Như mắt không đến sắc, sắc không đến mắt, tiếng chẳng đến tai, tai chẳng đến tiếng, mỗi pháp đều như thế. Nguyên là kho công đức của tự tâm, nên không thể lấy bỏ. Người khế ngộ đến đâu mà chẳng có lợi, đây chính là Na-già đại định.
Khi ngồi tĩnh tọa tâm niệm chạy lăng xăng hoặc khi làm việc xúc chạm đến gia cảnh, bản thân, công việc của mình, lúc đó đạo lý biến mất vì mắc phiền não, buồn giận. Người bị như vậy là do tất cả đều chưa được thân chứng, thành ra không trị được bệnh. Bởi rơi vào hai, vào ba cho nên mới như vậy. Thí dụ bây giờ chúng ta bị mất một quyền lợi nào chẳng hạn, ngay đêm đó ngủ không được hoặc ngồi thiền tâm không an ổn. Bởi vì đã rơi vào hai, vào ba tức thấy quyền lợi đó là thật nên khi mất, tâm rối lên. Nếu thấy nó không thật, thân này không thật, ngay đó sống trở về với đạo thì đâu có gì làm rối mình. Như vậy từ đây về sau, nếu mình động tâm, rối loạn lên thì biết bị kẹt vào hai, ba rồi. Đừng kẹt hai, ba thì mọi thứ hết rối. Đó là sự thật.
Cổ nhân nói: “Động tĩnh chẳng hai, chân vọng chẳng hai.” Động và yên lặng đều không phải hai. Bởi vì khi động biết động nguyên thể là không, tức lặng ngay cái động. Khi vọng biết vọng không thật, vọng lặng xuống tức là chân. Như vậy động và lặng đâu có hai, chân vọng nào cách biệt. Trong kinh Duy-ma-cật, ngài Duy-ma nói: “Rõ tất cả pháp đều vào pháp môn bất nhị.” Tức là tất cả pháp ở thế gian đều vào chỗ không hai. Nếu người nào nhận ra lý không hai đó thì mọi thứ động tự tịch diệt.
Như mắt không đến sắc, sắc không đến mắt, tiếng chẳng đến tai, tai chẳng đến tiếng, mỗi pháp đều như thế. Thí dụ tôi có mắt sáng, tất cả đồ đạc và mọi người ngồi trước mặt, dù tôi không muốn thấy cũng vẫn thấy. Tai tôi còn thính nên những tiếng động chung quanh dù không muốn nghe vẫn nghe. Tại sao nói mắt không đến với sắc, tiếng không đến với tai? Tuy mắt vẫn thấy sắc mà không có niệm phân biệt về sắc, gọi là không đến nhau. Tai với tiếng vẫn chạm nhau mà không có niệm phân biệt về tiếng, gọi là không đến nhau. Đến mà không duyên, không mắc gọi là không đến. Như vậy cả ngày thấy sắc, nghe tiếng mà tâm không động thì tâm cảnh như như, muôn cái động tự tịch diệt.
Nguyên là kho công đức của tự tâm, nên không thể lấy bỏ, nghĩa là tâm không duyên theo sắc theo tiếng thì sắc là kho công đức, tiếng cũng là kho công đức. Khi chúng ta khế ngộ được như vậy rồi thì ở đâu cũng trong Na-già đại định.
Đời này sanh ra liền tự nhận là người học đạo, vì đời trước từng gieo trồng căn lành, bởi có cội gốc liền biết phát tâm, cũng biết khởi nghi, ngay nơi mình mà tầm cứu, lại phiền não chướng mỏng yếu, có nhân duyên, nên người này dễ được hóa độ.
Nếu người chưa huân tập tâm này thì chánh tín chẳng sanh, dù có nghe cũng chẳng sanh nghi, chỉ như gió thổi qua tai, khuyên dạy lại sanh tâm sân hận phỉ báng thì có duyên gì mà được hiển bày. Do đó, nên trong ngàn người muôn người chỉ có được một, hai người mà thôi. Nếu người tự hiểu tạo kế sống, thâu thập được đầy đủ thì đời đời từ đây mà đi, lần lượt sáng suốt nhạy bén, lại không thối thất công đức, một đời hơn một đời, vào cảnh giới của chư Phật. Họ thường cùng sự tương ưng, dù sanh trên trời, cõi người cũng chỉ như thế, có đối đầu với ngũ dục, bát phong và tất cả cảnh giới đều cùng lý phù hợp, chẳng đi trong tam đồ, chỉ một vị bình đẳng chánh tri kiến, lại còn việc gì.
Đoạn này thiền sư Thanh Viễn củng cố cho chúng ta thêm vững niềm tin với sự tu.
Đời này sanh ra liền tự nhận là người học đạo, vì đời trước từng gieo trồng căn lành. Khi chúng ta sanh ra đời, chưa có ai khuyên bảo mà tự phát tâm mộ đạo đi tìm học, đây là đã từng gieo trồng căn lành đời trước cho nên ngày nay ra đời mộ đạo, chứ không phải ngẫu nhiên.
Bởi do có cội gốc, có mầm sẵn nên bây giờ gặp duyên liền biết phát tâm, khi phát tâm rồi lại biết khởi nghi. Thí dụ nghe câu nói nào đó không hiểu sanh nghi, do nghi mới tầm cứu. Nhờ phiền não chướng mỏng yếu, khi có nhân duyên người này dễ được hóa độ.
Nếu người chưa huân tập tâm này, tức là chưa có được một ít chủng tử thì chánh tín chẳng sanh, dù nghe đạo cũng chẳng sanh nghi. Nghe người nói mặc người, không nghi ngờ chi, chỉ như gió thổi qua tai. Nghe rồi mất, không nhớ không nghĩ, nếu ai khuyên dạy lại nổi sân hoặc chê bai. Người không có duyên đời trước bây giờ khó giáo hóa. Bởi không giáo hóa được nên họ không có duyên hiển bày tâm thể. Do vậy trong ngàn muôn người chỉ có một hai người nhận được tâm thể, đâu phải ai cũng nhận được, ai cũng có duyên lành. Đó là nói đến người có cơ duyên nhận được tâm thể rất ít.
Người nhận được thì tự tạo kế sống, sống tùy duyên với tâm thể. Trong luận Đại Thừa Khởi Tín gọi là tùy thuận chân như. Thiền sư Nam Tuyền nói từ nhỏ ngài nuôi một con trâu đực, tính thả ở khe Đông sợ e không khỏi phạm nước cỏ của quốc vương, tính thả ở khe Tây cũng sợ không khỏi phạm nước cỏ của quốc vương, chi bằng tùy thời nhận chút ít trọn chẳng thấy được. Như vậy gọi là biết kế sống, biết nuôi trâu. Con trâu này biết trở về với tâm thể của mình.
Thâu thập được đầy đủ thì đời đời từ đây mà đi, lần lượt sáng suốt nhạy bén, lại không thối thất công đức, một đời hơn một đời, vào cảnh giới của chư Phật. Họ thường cùng sự tương ưng, dù sanh trên trời, cõi người cũng chỉ như thế, có đối đầu với ngũ dục, bát phong và tất cả cảnh giới đều cùng lý phù hợp, chẳng đi trong tam đồ, chỉ một vị bình đẳng chánh tri kiến, lại còn việc gì.
Từ chỗ thấy đạo mà đi, lần lượt mỗi đời mỗi đời đều tiến lên. Nếu người thật tình nhận được như vậy, đời này chưa xong nhiều đời sau tiến lên cho đến ngày viên mãn, không bị tiêu mất. Đó là sự thật.
Gặp bất cứ việc gì người ấy cũng sống phù hợp với đạo. Dù ở trong cảnh sang cả sung sướng như cõi trời hay cực khổ như cõi người, họ đều sống hợp với đạo. Hoặc gặp bát phong, ngũ dục đều sống phù hợp với tâm thể, không trái và không rơi trong tam đồ, hằng sống bằng chánh tri kiến bình đẳng.
Người tu chúng ta phải gan dạ thấy rõ việc đó, tin chắc việc đó, hằng sống trong đó, đừng bị những lý luận hay lời xuyên tạc làm lung lay. Như một số vị lý luận rằng người tu thiền đời này chưa xong, chết đi đời sau trở lại mê muội thành phàm tục, còn người tu niệm Phật về Tây phương, đời này tu chưa xong đời sau tu tiếp. Đó là lối lý luận đánh bạt tâm chánh tín của chúng ta, phải chín chắn nhận rõ. Phật nói nhân quả rõ ràng, đây là căn bản thấp nhất mà còn không sai, huống là chúng ta đang sống trong trí tuệ chân thật, làm sao lại bị mất, như vậy quá vô lý.
Thí dụ người học sinh ngữ Pháp hoặc Anh, bỏ qua mười năm, hai mươi năm không nói, không dùng thì quên là phải. Nếu người học chuyên một môn sinh ngữ, năm nào tháng nào cũng nói thì càng ngày càng giỏi thêm chứ không thể lu mờ. Người bị lu mờ vì bỏ qua mười năm, hai mươi năm nhưng khi được nhắc lại vẫn còn nhớ. Cũng vậy, chúng ta có chủng tử nên mới gặp đạo và tu đạo. Thật là vô lý khi nói tu đến chết, nếu chưa viên mãn thì chủng tử đó mất luôn.
Hiện tại chúng ta tu hành, biết tạo kế sống tức là biết sống với tâm thể, thì ngay trong đời này và mãi về sau càng ngày càng sáng suốt, bén nhạy, công đức không bao giờ thối thất. Nếu đời này chưa viên mãn thì đời sau sẽ tròn đủ hơn, đời đời sống trong cảnh giới chư Phật. Giả sử người đó không sanh cõi này mà sanh cõi trời, gặp việc gì cũng phù hợp, tương ưng với đạo chứ không phải đợi gặp thiện tri thức mới tương ưng. Điều đó rất rõ ràng. Thực tế hiện nay nhiều người ra đời không gặp Phật pháp mà vẫn nói đúng lý đạo, như vậy còn gì phải nghi ngờ.
Sanh tử không thể chẳng sợ, phải rõ một đoạn tình ngụy sanh tử này mới được an lạc không gì hơn. Thân tâm là mối lụy. Thân như gông cùm, phải biết chỗ thân đi đến. Tâm như khỉ vượn, phải biết chỗ tâm khởi diệt. Hai cái này từ chỗ nào mà đến đi khởi diệt? Ắt thân tâm tròn sáng, trong ngoài nhất như mà thôi. Vả lại, tâm là ở trong thì thân ở ngoài, thân là trong thì vật là ngoài. Quốc sư bảo: “Thân tâm nhất như ngoài thân không thừa.” Thế thì không thấy có sanh tử chống lại ý mình, nên gọi là đại đạo giải thoát. Cho nên hay khiến người thấy nghe đâu chẳng được chẳng thoát, ý tưởng đâu chẳng được chẳng dứt, vật cảnh đâu chẳng được chẳng dung thông, lại còn nghi ngờ ư?
Thiền sư Thanh Viễn có ý khuyên răn, khuyến khích chúng ta trong sự tu hành. Người tu đối với việc sanh tử lúc nào cũng thấy đáng ngại đáng sợ vì cuộc sống quá mỏng manh. Nếu không cố gắng, một đời cũng chưa giải quyết được việc gì. Cho nên phải rõ một đoạn tình ngụy sanh tử này mới được an lạc không gì hơn. Tình ngụy sanh tử tức là tâm sanh tử hư giả. Thường chúng ta cho sanh tử là thật nhưng với người thấy đạo, sanh tử chỉ là giả dối không thật không hai, vì thế thân tâm tự nhiên an lạc.
Bình thường ai cũng thấy sanh là sống, tử là chết, thành ra nói sanh tử không phải hai, nhiều người thắc mắc. Sanh là tứ đại ngũ uẩn hòa hợp, tử là tứ đại ngũ uẩn tan rã, vậy sanh tử chỉ là sự hợp tan của tứ đại ngũ uẩn. Nếu không nhắc nhở điều này thường xuyên, lâu lâu chúng ta sẽ quên mất. Như hỏi tứ đại này có thật là mình không, đa số mọi người đều nói thật. Vậy thì ngay nơi gió, nước, không khí chúng ta hít vào thở ra cũng là mình chứ gì? Hít vào cho nó là hơi thở của mình nhưng khi thở ra khỏi mũi, tan loãng trong không khí thì biết là của ai. Thí dụ mười người ngồi chung trong một phòng kín bốn thước vuông, khi người kia thở ra, người này hít vào, đổi qua đổi lại. Như vậy hơi thở ra của ai, hơi hít vào của ai? Vậy mà chúng ta lại chấp hít vào là hơi thở của mình.
Nước cũng vậy, khi nó ở trong người cho là của mình, nó ra khỏi người, mình có dùng được không? Vậy mà nó còn ở trong thân thì quý như vàng, ra khỏi thân thì gớm ghê, nhàm chán. Hoặc máu ở trong thân cho là của mình nên quý tiếc, lỡ đứt tay máu chảy ra, có ai dám lấy chung hứng uống trở lại không? Nước còn ở ngoài thì đâu phải là của mình, vậy mà uống vào rồi thì nói nước của tôi, thật vô lý. Lúc trước không phải của mình, bây giờ tại sao nói của mình?
Tứ đại đi vào cơ thể rồi đi ra, vậy mà chấp ngang là của mình, cho là thật. Nó hợp thì mình còn, nó tan thì mình mất. Thật sự tứ đại có mất không? Khi chưa hợp tứ đại là tứ đại, khi tan ra tứ đại vẫn là tứ đại, đâu có mất. Tứ đại sống chết là tính chất hư ngụy. Nếu biết sống chết chỉ là sự hợp tan của tứ đại, không liên hệ đến mình thì đâu có gì phải sợ. Nhận rõ điều đó chúng ta mới thấy an lạc, giải quyết được sự đau khổ ngay ở cõi nhân gian này.
Thân như gông cùm, phải biết chỗ thân đi đến. Tâm như khỉ vượn, phải biết chỗ tâm khởi diệt. Nếu bình thường đang khỏe mạnh, sung sướng chắc là không ai tin thân này như gông cùm. Giây phút nào đó chúng ta sống được với tâm thể rõ ràng, mới thấy thân là gông cùm. Thí dụ những lúc nhức răng hay đau đầu, chúng ta thấy tâm mình không nhức không đau, nhưng mang thân này rồi phải chịu nhức chịu đau. Biết chắc thân này là gông cùm, nếu ngay đây nó rã ra thì tràn trề sung sướng. Ngược lại, nếu thấy thân là nguồn hạnh phúc, khi bỏ nó quả thật là đau.
Các thiền sư thường dạy “tử như cởi áo hạ”, đang nực quá cởi áo ra mát rượi, khỏe khoắn biết bao. Như đem quyển kinh bằng tam thiên đại thiên thế giới nhét vào hạt bụi rồi phải chịu khổ với hạt bụi. Giờ đây hạt bụi rã ra thì tràn đầy cả tam thiên đại thiên thế giới. Nếu ai thấy được điều đó thì chết là trò chơi, gõ nhịp mà hát, không có gì phải than phiền. Nếu không thấy như vậy, nghe nói chết thì buồn rầu, khổ sở. Chết là điều đáng sợ nhất trên thế gian, nếu không còn sợ chết thì thế gian này có gì đáng sợ.
Biết thân tâm là mối lụy, thân như gông cùm ắt phải biết chỗ đi, chỗ đến của nó. Nghĩa là khi sanh biết tứ đại ngũ uẩn duyên hợp, khi tử biết tứ đại ngũ uẩn tan rã. Biết chỗ khởi diệt của tâm tức là phải thấy rõ vọng tưởng như khỉ vượn, chợt khởi chợt diệt, vốn không thật thì tự nó lặng yên. Như vậy, khi biết rõ vọng tưởng không thật, biết thân sanh diệt không còn nghi không còn kẹt thì thân tâm tròn sáng, trong ngoài nhất như, không còn gì bận rộn.
Trái lại, nếu chúng ta cho tâm ở trong thân ở ngoài, hoặc cho thân ở trong vật ở ngoài thì có hai lớp trong ngoài đối đãi nhau nên cũng là bệnh. Thấy ngoài thân có vật chúng ta khởi phân biệt, dấy niệm là sai.
Đến đây thiền sư Thanh Viễn dẫn lời Quốc sư: “Thân tâm nhất như, ngoài thân không thừa.” Thường chúng ta hay hiểu lầm câu thân tâm nhất như là khi ngồi thiền phải để thân tâm thành một khối. Ở đây chỉ cho khi vọng niệm khởi lên, biết không thật thì nó tự tan, tự lặng lẽ, đối với tất cả sự vật hiện hữu mà chúng ta không khởi tâm phân biệt thì thân tâm nhất như. Trong bài luận Tín Tâm Minh, tổ Tăng Xán dạy:
Nhãn nhược bất thùy,
Chư mộng tự trừ.
Tâm nhược bất dị,
Vạn pháp nhất như.
Nghĩa là con mắt nếu không ngủ thì các mộng tự dứt. Tâm nếu chẳng khác thì muôn pháp nhất như. Thật rõ ràng.
Thế thì không thấy có sanh tử chống lại ý mình, nên gọi là đạt đạo giải thoát. Sanh tử chỉ là sự tan hợp giả dối của tứ đại, cho nên người đạt đạo không thấy có sanh tử. Không thích sanh tử cũng không sợ sanh tử, do đó sanh tử đâu chống lại ý mình. Cho nên khiến người thấy nghe thoát khỏi thấy nghe, dứt bặt ý tưởng, vật cảnh dung thông, lại còn có gì nghi ngờ ư!