Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 20 - Thiền Tông Trung Hoa 5
Quy Sơn Cảnh Sách Giảng Giải (tt)

Âm: 

Nhân thiên tam hữu, ưng vị miễn chi, như thị thọ thân, phi luận kiếp số. 

Dịch: 

Ba cõi trời người chưa thoát khỏi, cứ như vậy thọ thân số kiếp không thể tính bàn. 

Giảng: 

Chỉ vì lỗi không nỗ lực tu hành, mãi tạo nghiệp cho nên phải chìm đắm trong luân hồi, lang thang trong sáu nẻo.

Âm: 

Cảm thương thán nhạ, ai tai thiết tâm, khởi khả giam ngôn, đệ tương cảnh sách. Sở hận đồng sanh tượng quý, khứ thánh thời diêu, Phật pháp sanh sơ, nhân đa giải đãi. Lược thân quảng kiến, dĩ hiểu hậu lai, nhược bất quyên căng, thành nan luân hoán. 

Dịch: 

Cảm thương than thở, đau xót cực lòng, đâu thể im lời, nên cùng nhau nhắc nhở. Tủi vì sanh vào thời mạt pháp, cách hiền thánh đã xa, Phật pháp lôi thôi, người tu đa số biếng nhác. Thế nên lược bày chỗ thấy cạn hẹp của mình, để khuyên bảo người sau, nếu không bỏ tánh kiêu căng, thì thật khó mong chuyển đổi.

Giảng: 

Sau khi chỉ rõ lỗi lầm xong, đến đây Tổ nhắc nhở sách tấn tu hành. Ngài thấy chúng ta si mê quá, lòng rất thương xót nên nói lên những lời cảnh tỉnh thống thiết, thật là lòng từ vô hạn. Người xưa phần đông đều dũng mãnh, chỉ có một ít không cố gắng mà ngài còn than trách như thế. Huống là chúng ta ngày nay đa số đều giải đãi, ngồi thiền một giờ đã loạn động, đâu sánh được với người xưa, cả ngày đi đứng ngồi nằm đều thiền. Có khi chỉ hiểu sơ sài, rồi đem những tà thuyết ra truyền bá, khiến cho Phật pháp ngày càng lu mờ. 

Xưa Phật làm một đàng, bây giờ chúng ta đi một ngả. Như thời Phật đâu có đi đám ma, ngay đến đệ tử của Phật cũng chưa từng nghe ai đi đám. Thế mà ngày nay chúng ta đi đám liên miên. Thỉnh thoảng người này đau, người kia chết phải đi thăm, đi đám, cúng bốn mươi chín ngày... hết gia đình này đến gia đình khác. Cứ loanh quanh như thế làm sao có thời giờ gạn lọc tâm tư, thời giờ đâu để tu tập thiền quán? Thấm thoát một đời trôi qua, nhìn lại sự nghiệp tu hành nào có được gì? Ngày thường mình lo độ thiên hạ, đến lúc sắp chết mời thiên hạ độ lại mình. Đây là sự thật đau lòng! 

Phật giáo ngày nay mang nặng màu sắc tín ngưỡng, nhưng chúng ta nên đặt tín ngưỡng đúng chỗ cao đẹp, nếu đi quá đà nó sẽ trở thành mê tín biến tăng sĩ trở thành thầy cúng. Đây là điều lầm lẫn. Nếu thật tâm cầu giải thoát thì phải tạo cho mình một nếp sống đơn giản, tránh bớt những xã giao phiền toái, giữ gìn nghi lễ trang nghiêm mới đúng tinh thần Phật pháp. Như vậy mới là người vì đạo, thương mình và dẫn dắt tín đồ. Nếu không được như thế thì e rằng mình đã lầm lại làm lầm cho người. 

Đến đây ngài nói thật khiêm nhường. Ngài lược bày chỗ thấy nhỏ hẹp của mình để nhắc nhở người sau, mong người sau dẹp trừ tánh kiêu căng ngã mạn để tự sửa mình thì mới có thể tiến được. 

Âm: 

Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục. Thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu. 

Dịch: 

Phàm người xuất gia là cất bước đến phương trời cao rộng, tâm hình khác tục. Nối thạnh dòng thánh, hàng phục quân ma, nhằm đền trả bốn ân, cứu giúp ba cõi.

Giảng: 

Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương. Chữ phương đây là chỉ cho tam giới. Nghĩa là khi đã phát tâm xuất gia, phải ý thức rằng mình sẽ thoát ra khỏi tam giới, không còn kẹt trong dòng sanh tử nữa. 

Tâm hình dị tục. Hình dị tục thì chúng ta dễ biết, như cạo tóc, mặc áo nhuộm... còn tâm dị tục là thế nào? Người thế gian thấy tư tưởng là thật, thân này là thật, tất cả cảnh vật chung quanh đều thật, nên họ mê lầm và đắm chìm trong ấy. Người xuất gia thường dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu, thân tứ đại là không, ngoại cảnh sáu trần đều huyễn hóa; hoặc theo tinh thần Nhị thừa thì thấy tất cả sự vật hiện có đều là vô thường, khổ, không... đó là “tâm dị tục”. 

Tâm người xuất gia phải khác tâm người thế tục, nhưng cũng có trường hợp xuất gia mà tâm không khác tục. Bởi không khác tục nên vẫn thấy thân thật cảnh thật, rồi lo kinh doanh, tạo sự nghiệp ở đời. Vì vậy người xuất gia phải nhìn lại mình, thấy thân đã khác tục thì phải cố gắng làm sao cho tâm cũng khác tục. Nếu chỉ khác hình thức mà tâm không khác thì chưa phải là người xuất gia. Tổ chỉ dùng bốn chữ cô đọng “tâm hình dị tục”, mà đã nói lên được hoài bão của người tu là vượt ra khỏi tam giới. 

Thiệu long thánh chủng tức là nối tiếp hạt giống giác ngộ. Người xuất gia là người thắp sáng ngọn đuốc chánh pháp, soi đường cho kẻ lầm mê, vì thế phải có tâm giác ngộ, khác hẳn thế tục mới có đủ khả năng làm cho hạt giống thánh được tiếp nối và hưng thịnh.

Chấn nhiếp ma quân. Nhiếp phục ma quân, khiến chúng khiếp đảm. Nhiều người hiểu lầm, tưởng ma quân là những con ma có hình tướng, có nanh vuốt dễ sợ lắm. Theo nhà Phật nói ma quân có nhiều thứ, nhưng ở đây tôi chỉ lược nói hai thứ: Nội ma và ngoại ma. 

Nội ma là chỉ cho tham sân si... những thứ làm chướng ngại tâm thanh tịnh của mình. Như đang ngồi thiền bỗng nhớ khi nãy bị người nói nặng, cái nhớ đó là ma, nó làm mình mất thanh tịnh. Nếu ngay lúc ấy dừng lại không cho nghĩ tiếp, gọi là hàng phục ma. Thấy của rơi mà không lấy là nhiếp phục ma tham, hoặc có ai vô cớ trêu chọc sắp nổi nóng liền biết bỏ qua là nhiếp phục ma sân. 

Có người thấy ngồi thiền một chỗ trông im lìm nhàn hạ, cho là tiêu cực yếm thế chẳng giúp ích gì được cho ai. Họ đâu biết chính lúc ấy chúng ta đang là dũng sĩ lâm trận, chiến đấu mãnh liệt với ma quân, chứ không phải ngồi chơi thong thả. Giả sử muốn tạo được một ngôi chùa cũng rất nhọc nhằn, phải quyên góp tiền bạc, lo việc xây dựng cực khổ suốt mấy tháng trường, song đâu khó bằng ngồi thiền chiến đấu với chúng ma. Một cuộc chiến vô hình mà vô cùng phức tạp gay go. 

Người xưa nói: “Việc xuất gia chẳng phải là việc của tướng văn, hay tướng võ có thể làm được.” Người xuất gia đánh giặc còn hơn cả tướng cầm quân, chứ đâu phải việc tầm thường. Thế gian đánh giặc hai bên dàn trận thấy nhau, còn giặc của chúng ta ẩn núp chẳng có nơi chốn, chỉ đợi sơ hở một chút là nhảy vô liền. Giặc quá nhiều, nào là giặc của quá khứ, vị lai, chuyện mới, chuyện cũ... hàng hàng lớp lớp nhảy ra tấn công, mà ta lại không biết rõ mặt mũi chúng. Vậy nên phải có thế ngồi thật vững chắc, gan dạ đánh đuổi giặc ma ra ngoài, nếu lơ là nó sẽ chiếm mất gia bảo của mình. Đó là nhiếp phục nội ma. 

Ngoại ma tức ma bên ngoài, gồm có: tử ma, thiên ma, ngũ dục ma... nhưng không nguy hiểm bằng nội ma. Sở dĩ ma bên ngoài xâm nhập tâm chúng ta được là do bọn ma bên trong móc nối. Như ma ngũ dục là tài, sắc, danh, thực, thùy. Nếu tâm chúng ta không còn nhiễm ái, không tham tiền, không tham ăn uống, ngủ nghỉ... thì ma ngoài có rủ rê cũng không được. Nội ma lắng xuống, lập tức ma ngoài tự tiêu. 

Tử ma là loại ma do nghiệp đọa làm quỷ, chúng thường nhiễu hại người tu khi ở nơi vắng vẻ, hiện hình hay biến tướng lạ để quấy phá. Song cần phải biết rõ, ma bên ngoài không thể nhiễu loạn được chúng ta. Vua Trần Thánh Tông nói “kiến quái bất kiến quái, kỳ quái tất tự hoại”, thấy quái mà mình không quái thì quái ấy tự tiêu. Đức Phật trước khi thành đạo dưới cội bồ-đề, ngài hàng phục ma bằng cung thiền định, kiếm trí tuệ, chứ chẳng dùng ấn chú. Khi ma hiện trăm thứ kỳ quái, ngài chỉ giữ tâm an nhiên không động, ma tự xấu hổ rút lui. Nên nhớ, tâm không động thì thắng ma, còn sợ hãi thì ma thắng mình. 

Trường hợp trong khi ngồi thiền thấy ma hiện đến, nếu mở mắt thấy sợ thì nhắm mắt lại, chưa hết sợ thì nên quán tưởng, thân này do tứ đại hợp thành, thể tánh của nó là không, sáu trần cũng đều huyễn hóa thì sợ cái gì? Quán tưởng như vậy tự nhiên ma biến mất. 

Có một số người ngồi thiền phát cuồng là do thấy những tướng lạ đâm ra hoảng hốt, sợ hãi. Bởi vì đang lúc ngồi yên mà có gì tác động mạnh đến tinh thần, khiến tâm loạn động phát sợ phát cuồng. Hoặc khi ngồi thiền bỗng thấy Phật đến xoa đầu thọ ký, sẽ thành Phật một ngày gần đây, bấy giờ mừng quá la lên trở thành cuồng loạn. Tâm còn động thì thấy Phật hay thấy ma gì cũng là bệnh, thế nên trong nhà thiền thường nói: “Phùng Phật sát Phật, phùng ma sát ma” là ý này vậy. Thấy ma hay thấy Phật hiện đến, cũng đều biết là bóng dáng không thật, không nên mừng rỡ hay kinh sợ, chỉ giữ tâm an tịnh. Đa số người ngồi thiền ở trạng thái nửa tỉnh nửa mê, sắp ngủ gục, lúc ấy vọng tưởng dấy thành chiêm bao với những hình ảnh tạp nhạp, rồi cho là ngồi thiền thấy này, thấy nọ... Nếu chợt tỉnh mở mắt sáng lên thì những hình ảnh đó sẽ tự biến mất. 

Nội ma hay ngoại ma đều không đáng sợ, điểm cốt yếu là nhiếp phục ma trong thì ma ngoài không nhiễu hại được. Ma trong không dẹp, cho dù có bùa chú gì vẫn bị ma dẫn đi. Tâm an định, ma đến mặc ma, ta vẫn là ta, ấy là hay nhất. Chúng ta nên nhớ kỹ điều này để tránh tai hại trong khi tu thiền. 

Dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu. Nhiếp phục được ma quân rồi mới có thể đem công đức tu hành mà đền đáp bốn ơn, cứu giúp chúng sanh trong ba cõi. Nếu việc mình chưa xong mà lo đền ơn đáp nghĩa thì chưa chắc đền đáp được, đôi khi còn làm chướng ngại trên đường tu. 

Tóm lại, Tổ nhắc nhở người xuất gia, trước phải lập chí giải thoát, tâm chớ giống người thế tục. Kế làm sáng tỏ chánh pháp và nhiếp phục ma quân. Như thế mới khả dĩ trên đền đáp bốn ơn, dưới cứu giúp ba cõi.

Âm: 

Nhược bất như thử, lạm xí tăng luân, ngôn hạnh hoang sơ, hư triêm tín thí. 

Dịch: 

Nếu chẳng như thế, xen lẫn trong chúng tăng, ngôn hạnh hoang sơ, luống hao của tín thí. 

Giảng: 

Nếu chẳng làm được những điều kể trên thì chỉ là kẻ lẫn lộn, làm ô danh chúng tăng, chẳng phải người chân chánh xuất gia. 

Lạm xí có nơi giải thích là điểu thử tăng, tức ông thầy chim chuột. Như con dơi khi gặp chim thì nó xòe cánh ra làm chim, gặp chuột thì nó xếp cánh làm chuột. Hoặc gọi phốc cư sĩ, cư sĩ đầu trọc. Làm tăng nhưng không có tâm hạnh của người xuất gia, lời nói việc làm không phù hợp chánh pháp, chỉ như cư sĩ trọc đầu. Đó gọi là lạm xí tăng luân. Người như thế chỉ luống ăn tiêu của tín thí, chẳng lợi ích gì cho đạo. Chúng ta mỗi người hãy tự kiểm vậy. 

Âm: 

Tích niên hành xứ, thốn bộ bất di, hoảng hốt nhất sanh, tương hà bằng thị. 

Dịch: 

Chỗ đi năm trước, tấc bước không rời, lơ láo một đời, lấy chi nương tựa.

Giảng: 

Có người xuất gia được hai ba mươi năm, nhưng càng tu càng lùi. Năm thứ nhất Phật tại tiền, năm thứ hai Phật thăng thiên, năm thứ ba về sau chẳng còn thấy Phật. Cho nên tôi thường nhắc tăng ni, người tu như kẻ chèo thuyền ngược nước ngược gió. Nếu cảm thấy quá mệt mỏi thì nên cắm sào, bỏ neo, đậu lại nghỉ ngơi cho khỏe rồi tiếp tục chèo, không nên buông chèo để mặc trôi giạt đến đâu cũng được. 

Chúng ta là kẻ đi ngược dòng đời, thế gian mê ta tỉnh, thế gian đắm chìm trong ái dục ta ra khỏi ái dục. Vì thế phải luôn cần mẫn, vững tay chèo mới có thể tiến nổi. Nếu lơ là, ắt dòng đời như thác lũ kia sẽ cuốn phăng mình theo dòng sanh tử. Chúng ta tự xét lại xem từ khi xuất gia đến giờ, trải qua năm mười năm rồi, đã tiến được bao nhiêu hay vẫn còn nguyên chỗ cũ? Thậm chí có khi còn lùi nữa. Như thế thì đời tu nào có ra gì, thật đáng hổ thẹn! Lơ láo một đời, lấy chi nương tựa? Tổ cho một roi đau điếng để chúng ta hổ thẹn, nhớ lại bổn phận của mình mà cố gắng. 

Âm: 

Huống nãi đường đường tăng tướng, dung mạo khả quan, giai thị túc thực thiện căn, cảm tư dị báo. Tiện nghĩ đoan nhiên củng thủ, bất quý thốn âm, sự nghiệp bất cần, công quả vô nhân khắc tựu. Khởi khả nhất sanh không quá, ức diệc lai nghiệp vô tỳ.

Dịch: 

Huống nữa đường đường tăng tướng, dung mạo dễ xem. Sở dĩ được như thế là do đời trước đã gieo trồng căn lành, nên đời này mới cảm quả báo thế ấy. Lại chỉ biết ngồi sững khoanh tay, chẳng tiếc thời giờ, đạo nghiệp không nỗ lực chuyên cần thì công quả do đâu thành tựu? Chẳng những đời nay luống qua, đời sau cũng sẽ vô ích. 

Giảng: 

Huống nãi đường đường tăng tướng, dung mạo khả quan, giai thị túc thực thiện căn, cảm tư dị báo. Chúng ta ngày nay mang thân người sáu căn đầy đủ, lại được xuất gia hình tướng như Phật, đó là do đời quá khứ đã gieo trồng căn lành, đời nay mới cảm được quả báo tốt như vậy. Nhìn quả hiện tại biết nhân quá khứ, nhìn nhân hiện tại, biết quả vị lai. 

Tiện nghĩ đoan nhiên củng thủ, bất quý thốn âm. Sự nghiệp bất cần, công quả vô nhân khắc tựu. Đời nay đã được duyên lành thì phải làm sao, chẳng lẽ chỉ biết ngồi sững khoanh tay, ngu ngơ qua ngày tháng? Chẳng những đời này không lợi ích, mà đời sau cũng không chỗ tựa nương. Hiếp Tôn Giả suốt đời hông không dính chiếu, tổ Bá Trượng thì “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”, một ngày không làm, một ngày không ăn. Chúng ta ngày nay vào chùa thọ lãnh của thí chủ quá nhiều, mà không siêng tu phước tuệ, không quý tiếc thời giờ, một mai cởi áo cà-sa, bỏ mất thân người, thật đáng tiếc!

Khởi khả nhất sanh không quá, ức diệc lai nghiệp vô tỳ. Đời này không có công đức, làm sao đời sau được tốt đẹp? Tổ Quy Sơn tâm lão bà tha thiết, quở rầy xong an ủi, an ủi rồi lại quở rầy. Ngài đắng miệng khô môi cũng chỉ vì muốn cho con cháu đời sau được nên người xứng đáng. 

Âm: 

Từ thân quyết chí phi truy, ý dục đẳng siêu hà sơ. Hiểu tịch tư thổn, khởi khả thiên diên quá thời.

Dịch: 

Từ giã thân quyến, quyết chí mặc áo nhuộm là ý muốn vượt đến chỗ nào? Sớm tối lo nghĩ, đâu thể dần dà để thời giờ qua mất.

Giảng: 

Tổ nhắc lại bổn phận và ước nguyện ban đầu của người xuất gia, từ bỏ cha mẹ thân quyến vào chùa mặc áo nhuộm, là vì lý tưởng cao siêu giải thoát chứ đâu phải để tìm chỗ an thân, thế nhưng dần dà chúng ta quên mất bổn phận của mình. Vì vậy ngài nhắc sớm tối suy nghĩ, phải thường hỏi mình “tại sao đi tu?” Hằng nghĩ nhớ lại tâm nguyện xuất gia để nỗ lực vươn lên, không nên bỏ lửng, ăn rồi giỡn cười để ngày giờ qua mất. 

Âm: 

Tâm kỳ Phật pháp đống lương, dụng tác hậu lai quy cảnh. Thường dĩ như thử, vị năng thiểu phần tương ưng!

Dịch: 

Lòng tự hẹn làm rường cột cho Phật pháp, gương mẫu cho đời sau. Thường xét nghĩ như thế mà còn chưa được chút phần tương ưng. 

Giảng: 

Khi chúng ta xuất gia là trong lòng đã kỳ hẹn làm rường cột cho Phật pháp, gương mẫu cho đời sau, chứ không phải ăn tiêu của tín thí, làm con mọt đục chùa. Hằng xét nét như thế mà còn chưa phù hợp được một phần nhỏ của sự xuất gia, huống là tu bao nhiêu năm mà không biết mình phải làm gì thì thật là tệ! 

Âm: 

Xuất ngôn tu thiệp ư điển chương, đàm thuyết nãi bàng ư kê cổ, hình nghi đĩnh đặc, ý khí cao nhàn. 

Dịch: 

Nói ra phải hợp với kinh điển, luận bàn phải noi theo gương mẫu người xưa, hình dung đĩnh đạc, ý chí cao nhàn. 

Giảng: 

Nếu chúng ta thật tình muốn làm rường cột cho Phật pháp, làm mẫu mực cho người sau thì nói ra lời gì cũng phải đúng đắn chân thật, phù hợp với kinh điển, với lời Phật ý Tổ, chẳng nên đặt điều nói bướng, nói đùa. Thân tướng trang nghiêm, đi đứng chỉnh tề. Ý chí thênh thang siêu thoát, chẳng nên có những ý tưởng thấp kém tầm thường. Tổ chỉ dạy thật tường tận, từ ngôn ngữ, hình nghi cho đến ý chí. Chúng ta phải cố gắng thực hành như lời Tổ dạy mới xứng đáng là Sa-môn Thích tử, là người chân chánh xuất gia. 

Âm: 

Viễn hành yếu giả lương bằng, sác sác thanh ư nhĩ mục, trụ chỉ tất tu trạch bạn, thời thời văn ư vị văn. Cố vân, sanh ngã giả phụ mẫu, thành ngã giả bằng hữu. 

Dịch: 

Đi xa cần nương bạn lành, để thường gạn lọc tai mắt. Trú ở cần nên chọn bạn, thường được nghe điều chưa nghe. Nên nói, sanh ta là cha mẹ, tác thành nên ta là bạn bè. 

Giảng: 

Chúng ta ra đi tìm thầy học đạo cốt phải nương nhờ thầy lành, bạn tốt giúp cho tai mắt trong sạch, được nghe lời hay, thấy được cái đẹp. Khi dừng ở phải như thế. Gần thầy hay bạn tốt, chúng ta mới nghe được điều lợi ích chưa từng nghe. Nếu gần thầy không hơn mình, bạn chẳng tốt thì dù ở chung ngàn năm cũng chẳng lợi ích, đôi khi lại còn lui sụt. 

Sanh ta là cha mẹ, làm nên ta là thầy bạn. Đây là sự thật không nghi ngờ. Chúng ta được hình vóc vẹn toàn này là từ cha mẹ mà có, nhưng có được trí tuệ, hiểu biết những điều siêu xuất thế gian, lại chính là nhờ thầy bạn bồi đắp mà nên. Nhờ thầy bạn chúng ta mới thành người hữu ích cho chính mình và chúng sanh. Như bản thân tôi, nay được biết đạo lý giảng dạy thế này, hoàn toàn là nhờ thầy bạn, chứ cha mẹ không thể làm được. Có nhiều người thiếu phước, phát tâm xuất gia mà không gặp thầy lành bạn tốt, nên ở chùa mấy mươi năm cũng vẫn lẩn quẩn. Thật là tội nghiệp! Điều này cũng do phước duyên của mỗi người, chứ lúc phát tâm đi tu đâu biết gì mà chọn lựa. 

Âm: 

Thân phụ thiện giả, như vụ lộ trung hành, tuy bất thấp y, thời thời hữu nhuận. 

Dịch: 

Gần gũi người lành như đi trong sương móc, tuy không thấy ướt áo mà dần dần thấm nhuần. 

Giảng: 

Như chúng ta đi ngoài trời lúc sáng sớm, tuy không thấy sương rơi ướt áo, nhưng lát sau cảm thấy lành lạnh. Cũng vậy, được gần thầy lành bạn tốt, không phải chúng ta được lành tốt ngay, mà sống gần gũi lâu ngày tự nhiên có sự nhuần thấm. Nói đến đây tôi nhớ lại Thầy tôi là hòa thượng Viện trưởng, đã nói: “Thanh Từ thuở xưa không khác nào cục sắt, do tôi mài giữa nay được thành cây kim.” Thật đúng vậy, nay tôi được hữu dụng cho Phật pháp cũng nhờ công thầy uốn nắn, lo lắng từ vật chất đến tinh thần. Thế nên trong đời tu của chúng ta, nếu được gặp thầy lành bạn tốt là phúc duyên lớn, là điều tối cần thiết cho sự tiến tu của mình. Nhờ có thầy chỉ dạy mà chúng ta trở nên người hữu dụng, công ơn ấy thật to lớn vô cùng. 

Âm: 

Hiệp tập ác giả, trưởng ác tri kiến, hiểu tịch tạo ác, tức mục giao báo, một hậu trầm luân, nhất thất nhân thân, vạn kiếp bất phục.

Dịch: 

Gần gũi kẻ ác, thêm ác tri kiến, sớm tối tạo ác, trước mắt chịu quả báo, chết rồi phải trầm luân, một phen mất thân người, muôn kiếp khó tìm lại được. 

Giảng:

Tổ cảnh tỉnh chúng ta, nếu không chịu gần thầy lành bạn tốt cố gắng tiến tu, mà chỉ gần gũi kẻ ác thì hậu quả sẽ mãi mãi trầm luân chịu mọi thống khổ. Một phen mất thân người muôn kiếp khó tìm lại. Tổ thật từ bi chỉ dạy từng li từng tí, cốt mong sao cho chúng ta thành người hữu dụng. 

Âm:

Trung ngôn nghịch nhĩ, khởi bất minh tâm giả tai? Tiện năng tháo tâm dục đức, hối tích thao danh, uẩn tố tinh thần, huyên hiêu chỉ tuyệt. 

Dịch: 

Lời thẳng trái tai, há chẳng ghi lòng đó sao? Có thế mới hay rửa lòng nuôi đức, ẩn tích mai danh, chứa nhóm tinh thần, xa lánh ồn náo.

Giảng: 

Lời nói thẳng thường trái tai, tuy trái tai song phải ghi lòng, có thế mới tiến được. Người tu trước phải xa lìa chỗ ồn náo, rửa tâm nuôi đức, kế đến ẩn hành tung chôn vùi tên tuổi, để chứa nhóm tinh thần cho trong sạch. Sở dĩ chúng ta không thể gội rửa tâm hồn, nuôi dưỡng đức hạnh là do hiện tướng sờ sờ, tên tuổi thiên hạ đều biết. Vì hiện tướng sờ sờ nên ai thấy cũng mời, nay đi chỗ này, mai đi chỗ nọ, đi mãi làm sao có ngày giờ để rửa tâm nuôi đức? Vì thế người tu thường ở núi rừng xa vắng, cốt để người không gặp, tên tuổi chẳng ai biết đến, mới có cơ hội uẩn tố tinh thần. 

Như tôi khi xưa suốt mấy năm lăng xăng làm việc này việc nọ, lúc ra núi này nếu không tuyên bố nhập thất, chắc cũng không làm gì được. Vì ai thấy cũng mời, rảnh rang đâu lo việc của mình! Nhờ ẩn tu, không ai biết tên thấy mặt, mới từ từ nuôi dưỡng cái cao siêu, gội rửa dần những cáu bợn, nên mới có thể làm được đôi chút lợi ích cho người. Người tu phải khéo sắp đặt cho mình một hoàn cảnh thuận tiện để tiến tu, chứ cứ mãi hòa mình trong dòng ngầu đục của thế gian thì biết đến bao giờ mới trong, cũng chẳng được ích lợi gì? 

Âm: 

Nhược dục tham thiền học đạo, đốn siêu phương tiện chi môn, tâm khế huyền tân, nghiên cơ tinh yếu, quyết trạch thâm áo, khải ngộ chân nguyên.

Dịch: 

Nếu muốn tham thiền học đạo, là môn vượt ngoài phương tiện thì trong phải hợp với mé huyền và nghiên cứu tường tận cái tinh yếu của đạo. Chọn lựa được chỗ thâm sâu rồi, mới có thể khai ngộ được nguồn chân. 

Giảng: 

Người tham thiền học đạo trước phải rõ đây là pháp môn vượt ngoài phương tiện. Sao vậy? Tất cả các pháp tu trong kinh Phật dạy như quán sổ tức, quán từ bi, quán bất tịnh v.v... đều có danh ngôn hình tướng, tức là phương tiện, sao đây lại nói pháp môn không phương tiện? 

Khi tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa, thấy chư tăng thời ấy chuyên về văn tự mà không rõ lý đạo, nên ngài mới phương tiện dạy pháp môn giáo ngoại biệt truyền, tức là truyền ngoài giáo lý, không cho kẹt trong văn tự. Nên nói “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Vậy kiến tánh có phải là thành Phật, là có thần thông hay không? Trong nhà thiền, khi có người học đạo đến thưa hỏi thì các thiền sư hoặc đáp, hoặc đánh, hoặc hét... nhờ đó mà người hỏi được ngộ. Ngộ đó là ngộ cái gì? Có thành Phật chưa? Ngộ tức là thấy đạo hay còn gọi là kiến tánh, tức nhận ra chân tánh bất sanh bất diệt nơi mình. 

Khi ấy nhìn lại thấy rõ thân này cho đến vũ trụ đều là pháp sanh diệt, huyễn hóa thì đâu dại dột gì mà đắm nhiễm chạy theo. Từ đó tiến tu mãi không lùi thẳng đến quả vị Phật, chứ không phải kiến tánh là thành Phật ngay. Kiến tánh là nhân, thành Phật là quả. Phương pháp này tiến thẳng một đường, không trải qua ngôi vị nào khác, nên gọi là Tối thượng thừa. 

Phật nói “Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành”. Đó là sự thật. Chỉ vì chúng ta chưa tin được, nên không là Phật sẽ thành. Kiến tánh là then chốt của người tu thiền, vì kiến tánh mới có thể tu thành Phật. Cho nên Tổ chỉ thẳng vào tâm, biết cái sanh diệt đừng theo, cái không sanh diệt thì hằng sống, đó là không dùng phương tiện. 

Trong kinh Pháp Hoa, Phật nói: “Chư Phật ra đời cốt chỉ cho chúng sanh nhận được tri kiến Phật của chính mình.” Chư tổ thiền tông cũng chỉ cho chúng ta nhận được cái sẵn có đó. Như tôi giảng kinh cũng nhằm làm sao để người nghe nương kinh mà thấy được cái chân thật. Kinh Lăng-nghiêm nói: “Kinh như ngón tay chỉ mặt trăng.” Người mới vào chùa tập tu, thường được dạy đếm hơi thở, hoặc bảo niệm Phật, trì chú... tất cả đều là phương tiện. Phương tiện ví như cây vịn để lần qua cầu khỉ, người yếu chân nương cây vịn đi qua, qua khỏi cầu thì buông cây vịn. 

Cũng vậy, khi niệm Phật đến chỗ nhất tâm, câu niệm Phật không còn cần thiết nữa, vì vô niệm mới là cứu cánh. Trong kinh A-hàm Phật dạy, người quán Tứ niệm xứ từ một ngày, hai ngày... cho đến bảy ngày mà không tạp niệm, sẽ chứng thánh quả. Tôi nói, nếu người nào quán Bát-nhã từ một ngày cho đến bảy ngày mà không có niệm khác sẽ được Bát-nhã hiện tiền. Những lời nói này đâu có khác, đến cứu cánh thì phương tiện không còn. Nếu chúng ta không hiểu, chỉ đứng ở một khía cạnh mà nhận xét, rồi chấp cho pháp này hay pháp kia dở, bám chặt vào phương tiện để chỉ trích pháp không phương tiện, đó là lầm lỗi. Nên biết, cửa phương tiện bước vào tuy nhiều, nhưng ngôi nhà Phật pháp thì chỉ có một.

Tổ Quy Sơn nói, tham thiền học đạo là môn vượt ngoài phương tiện. Bởi vì thông thường người sơ cơ thì phải tụng kinh, ngồi thiền để điều phục tâm, nếu vọng tưởng dấy lên liền nhiếp phục nó. Nhưng đến lúc dẹp hết ma quân rồi, như trâu đã thuần đâu cần cầm roi kéo mũi, nên nói vượt ngoài phương tiện. 

Nhiều người lầm tưởng cho rằng ngồi thiền hai ba giờ, hoặc ngồi cả ngày đến quên ăn uống, đó là tu giỏi. Thật sự không phải vậy. Thiền trong tất cả thời, chứ không phải ngồi mới gọi là thiền. Ở đây tôi chỉ cho ngồi thiền tối đa là hai giờ, cốt sao trong tất cả thời như cuốc đất xem hoa, tưới kiểng, uống trà... đều được thong thả. Chừng nào không cần ngồi thiền mà tâm vẫn an nhiên không động, chừng đó mới là cứu cánh. Cho nên tu thiền thấy dường như khó, vì không có phương tiện. Nhưng đến cứu cánh thì thật dễ, vì không có cái gì để bỏ. Chỉ cốt vọng tưởng dấy lên liền biết, vọng tưởng hết thì tâm nhất như. Nghe như dễ, nhưng lại rất khó. Tuy nhiên chẳng phải là dễ hay khó, chỉ do chúng ta có chí hay không mà thôi.

Âm: 

Bác vấn tiên tri, thân cận thiện hữu. Thử tông nan đắc kỳ diệu, thiết tu tử tế dụng tâm, khả trung đốn ngộ chánh nhân, tiện thị xuất trần giai tiệm. 

Dịch: 

Rộng hỏi tiên tri, thân gần thiện hữu. Tông này khó đạt được chỗ nhiệm mầu, cần phải dụng tâm chín chắn. Nếu trong ấy đạt được chánh nhân, đó chính là thềm bậc giải thoát. 

Giảng: 

Nếu không khế ngộ được nguồn chân thì phải tham vấn các bậc tiên tri, tức là người đã tu học trước mình. Vì tông này rất khó đạt được diệu chỉ, nên cần phải dụng tâm cho chín chắn. Khi ngộ được chánh nhân rồi, liền vượt khỏi cõi trần không cần theo thứ lớp. Đây là chỗ quan trọng của Thiền tông. 

Thiền tông là con đường tắt không quanh co, không theo thứ tự, nên khó mà nhận được yếu chỉ. Nhưng nếu khéo dụng tâm đạt được bản nhân rồi thì tin chắc ngay trong đời hiện tại này, không còn bị luân hồi lôi kéo nữa. Song đây không phải là việc dễ, phải khéo cẩn thận. Có nhiều người tu thiền cầu được những điều hay lạ, tâm chạy theo danh sắc nên đã lạc lầm đi trong sanh diệt. Có người muốn tu, đến đây nhờ tôi nói một câu chỉ thẳng yếu chỉ, tôi bảo học ba năm rồi sẽ thấy chứ chỉ liền không thể được, vì đây là chỗ không hình tướng. Tuy không phải là không ngơ, nhưng khó có thể chỉ bày. Chúng ta chịu khó ngày nay nghe thấm một ít, ngày mai nghe thấm một ít, cho đến hôm nào chợt lãnh hội được yếu chỉ thì sự tu hành mới bảo đảm không lầm. Dù là pháp môn không phương tiện, nhưng trình độ chúng ta không thể khai thông liền, nên phải có thời gian, đủ cơ hội tốt sẽ tự lãnh hội. 

Âm: 

Thử tắc phá tam giới, nhị thập ngũ hữu. 

Dịch: 

Đây là phá ba cõi, hai mươi lăm loài. 

Giảng: 

Kinh Lăng-nghiêm, Phật chia ra hai mươi lăm cõi, nên đây nói hai mươi lăm loài. Theo tinh thần Thiền tông, chúng ta chỉ là khách qua lại trong tam giới, cho nên khi tu là phải quyết tâm, ngay đời này ra khỏi tam giới, dứt dòng luân hồi. Nếu có trở lại cũng chỉ là tùy nguyện độ sanh, chứ không phải bị nghiệp trói buộc nữa. 

Âm: 

Nội ngoại chư pháp, tận tri bất thật, tùng tâm biến khởi, tất thị giả danh. 

Dịch: 

Trong ngoài các pháp, đều biết không thật, từ tâm biến khởi, thảy là giả danh.

Giảng: 

Một câu này tuy chúng ta nhận hiểu rồi, nhưng tu suốt kiếp cũng chưa xong. Đối với các pháp bên trong và bên ngoài, tức năm uẩn và sáu trần, hằng chiếu soi thấy nó không thật, ấy là giải thoát. Kinh nói, giả sử bố thí châu báu nhiều bằng quả đất, cũng chưa giải thoát. Vì sao? Vì còn thấy mình thật, người thật, của cải thật. Đó là nhân luân hồi, nhưng luân hồi trong cõi lành, chứ chưa giải thoát. Người quyết tâm cầu giải thoát phải luôn dùng trí tuệ thấy rõ năm uẩn, sáu trần, các pháp thế gian và xuất thế gian đều không thật, vì đều từ tâm biến khởi. 

Sở dĩ chúng ta luân hồi trong tam giới là do nghiệp gây nên, mà gốc nghiệp là từ thân miệng ý. Thân và miệng là công cụ của ý, ý là chủ động. Bởi ý có nghĩ thì thân mới làm, miệng mới nói. Vì thế chúng ta tu cốt làm sao cho ý dừng lặng, không còn tạo nghiệp nữa, đó là giải thoát. Tất cả pháp tu đều quy về chỗ đó. Niệm Phật, trì chú phải đến chỗ nhất tâm, tham thiền phải bặt vọng tưởng ý thức. Chúng ta không hiểu thấu đáo nên chấp cho rằng tụng kinh có phước, trì chú có linh nghiệm, tham thiền có công đức v.v... mà không biết rằng tất cả phương tiện, chỉ cốt đập tan dòng ý thức cuộn chảy trong chúng ta mà thôi. Khi ý thức lặng rồi thì tâm thanh tịnh nhất như. Có người tu đến chỗ lặng vọng tưởng lại hoảng hốt, tưởng mình đâu mất. Cầu thanh tịnh mà khi được thanh tịnh lại hoảng sợ, chẳng khác nào chàng cùng tử trở về quê nhà, thấy cha lại hoảng kinh chạy trốn, buộc lòng người cha phải dùng phương tiện dẫn dụ, sai làm những công việc hèn hạ như hốt rác, đổ phân... thế mà hài lòng. Thật đáng thương xót!

Phật mượn phương tiện dạy chúng ta thứ lớp tu hành. Như tu thiền quán tứ đại thì trước tiên là quán thủy đại. Quán nước trong thân lần lần tràn khắp hư không thì được định thứ nhất là Sơ thiền. Kế quán gió, lửa v.v... cuối cùng xả hết đến Diệt thọ tưởng định là chặn đứng dòng tâm ý. Chỉ vì chúng ta không nhận nổi chỗ trực chỉ, nên Phật phải dẫn quanh một vòng phương tiện, đến rốt cùng cũng là bặt tâm ý thức. 

Thiền tông chỉ thẳng khiến người hoảng hốt, tưởng rằng đến đó là không còn gì nữa. Đây là bệnh do mê lầm mà ra. Vì chúng ta lâu ngày hằng sống với cái hư giả mà cho là thật, còn cái thật thì lại hồ nghi. Ví như kẻ xa quê lâu ngày, muốn về thăm cha mẹ nhưng quên mất số nhà, chỉ nhớ loáng thoáng con đường. Khi đến con đường ấy lại cứ đi tới đi lui mãi, thậm chí dừng trước cổng nhà mình mà cũng không biết, phải tìm người để hỏi. Chúng ta cũng vậy, khi vọng tưởng dấy lên cuồn cuộn thì ra sức dẹp, khi hết vọng tưởng lại thấy không ngơ rồi sợ, mà không dám nhận cái thật trong đó, nên tiếp tục trở lại vọng tưởng. Cứ lẩn quẩn loanh quanh tu mãi chẳng đến đâu. Nếu chúng ta biết rõ manh mối chánh yếu của việc tu thì đi thẳng vào nhà không còn sợ sệt gì nữa. Thế nên Tổ dạy, người tu thiền trước phải dùng trí tuệ chiếu soi, thấy năm uẩn, sáu trần đều không thật, từ tâm biến khởi chỉ có giả danh. Đây là giai đoạn căn bản bước vào cửa thiền.

Âm: 

Bất dụng tương tâm thấu bạc, đãn tình bất phụ vật, vật khởi ngại nhân. 

Dịch: 

Chẳng cần đem tâm nương gá, chỉ lòng không gá vật thì vật đâu chướng ngại được người. 

Giảng: 

Tu thiền thật đơn giản. Ngồi thiền mà tâm còn nhớ việc này, nghĩ chuyện kia, gọi là thấu bạc. Ở đây cốt đánh tan ý thức, chẳng đem đề tài nào suy gẫm, chỉ không cho vọng tình chạy theo sự vật bên ngoài. Nếu ngồi thiền mà chợt nhớ người này cảnh kia là tình đã gá vật. Một khi tâm chạy theo vật phải biết chặn lại ngay, đừng để tâm rong ruổi theo cảnh vật. Đến cả danh ngôn cũng vậy, đây là cái dễ làm cho mình loạn tâm nhất. Lúc đầu loạn theo cái thô, lần lần đến tế. Chúng ta thường đuổi theo những lời nói trong kinh sách hoặc của cổ đức, vì cho là nghĩ lành. Đó là bệnh mà người tu thiền hay mắc phải. Đâu biết vừa dấy niệm là tình đã gá vật rồi. 

Tất cả những nghĩ tưởng của chúng ta đều không rời danh ngôn, sắc tướng. Khi ngồi yên không thấy người cảnh bên ngoài, nhưng bất chợt nhớ đến hình ảnh nào thì người cảnh ấy liền hiện ra, hoặc nghĩ nhớ câu nói gì liền nghe như có tiếng vang lên trong tâm thức. Đó gọi là pháp trần. Lúc ấy chúng ta không gá vào những vật hiện có trước mặt, nhưng gá vào bóng dáng của vật còn lưu lại trong tâm thức, đây cũng là gá vật, vì vật từ tâm biến ra. Vì thế chủ yếu của người tu thiền là đừng để cho tâm gá vật. Thấy người, thấy cảnh mà tâm không duyên theo thì đâu có gì chướng ngại. Dù vàng ngọc đầy trước mặt mà tâm không dấy động, thử hỏi có gì làm chướng ngại mình? Chướng là do ma bên trong chực sẵn, cộng thêm lũ quỷ bên ngoài, nội công ngoại kích, chúng phá tan thành trì giới luật và thiền định của chúng ta. 

Việc tu hành đơn giản vô cùng, chỉ cần tâm không gá vật. Như có người hỏi thiền sư: “Thế nào là giải thoát?” Đáp: “Tâm cảnh không đến nhau là giải thoát.” Đây chính là tình không gá vật. Chúng ta thấy rõ giải thoát đâu cần tìm đâu xa, cũng chẳng phải tu nhiều đời nhiều kiếp mới được, chỉ cần tâm cảnh không đến nhau. Tâm cảnh dính nhau mới bị trói buộc. Chính vọng tưởng trói chúng ta vào dòng sanh tử, dứt vọng tưởng thì nhân trói buộc đâu còn, đó là giải thoát ngay hiện đời. 

Âm: 

Nhậm tha pháp tánh châu lưu, mạc đoạn mạc tục. Văn thanh kiến sắc, cái thị tầm thường, giá biên na biên, ứng dụng bất khuyết. 

Dịch: 

Mặc tình pháp tánh trùm khắp, chẳng phải đoạn dứt, cũng chẳng cần tiếp nối. Nghe tiếng thấy sắc là việc tầm thường, bên này bên kia, ứng dụng không thiếu.

Giảng: 

Khi tâm cảnh không dính nhau, không còn lệ thuộc vào vọng tình, lúc đó cái gì là mình? Chừng nào vọng tưởng hết, chừng ấy chúng ta mới thể nhập pháp tánh vô biên. Chỉ vì lâu nay lầm nhận hòn bọt cho là biển cả, nay đập tan hòn bọt mới thấy biển cả mênh mông. Chỗ này tổ Tăng Xán gọi là “viên đồng thái hư, vô khiếm vô dư”. Khi tâm không chạy theo vọng tưởng nữa đừng tưởng là hết, mà ấy là lúc đập tan hòn bọt để hòa cùng biển cả. Nơi nơi chốn chốn đều có mình, mình không còn hạn cuộc trong thân nhỏ bé này nữa, mà trùm khắp hư không. Vì thế Thiện Tài đồng tử khi bước vào lầu các của Bồ-tát Di-lặc, liền thấy vô lượng vô biên chư Phật, mỗi chỗ mỗi chỗ đều có mặt ngài đang đảnh lễ. Thể nhập pháp tánh trùm khắp, không cắt đứt cũng không tiếp nối, an nhiên tự tại, hằng sống với pháp thân. Vì vậy chư tổ nói một lời là một bài kệ, đi đứng nói nín... đều là đạo. Không cần đợi đến chết mới nhập pháp thân, chỉ cần dứt vọng tưởng là được. 

Văn thanh biến sắc, cái thị tầm thường, nghe tiếng thấy sắc đều là tầm thường. Bởi khi đã thể nhập pháp tánh, nhận được tâm chân thật rồi thì thấy tất cả sự vật ở thế gian đều là ảo ảnh không thật, không có gì đáng quyến luyến. Đó là nói người đã thể nhập pháp tánh, còn người tu chưa đến thì phải thận trọng. 

Có một số tu sĩ trẻ xem ti-vi, nghe nhạc, hút thuốc, uống bia... rồi tự cho mình là phá chấp, là tự tại, trong khi tâm còn đầy ắp vọng tưởng. Đó là ngụy biện để che mắt thế gian. Chúng ta chỉ tự tại khi nào thể nhập pháp tánh châu lưu, nhận được cái chân thật thì cái giả mới không màng. Như trẻ em nhà quê được mẹ mua cho đôi bông bằng vàng giả, vui mừng hý hửng đem khoe với bạn bè, tự hài lòng vui thích vì tưởng là vàng thật. Nhưng đối với người có đôi bông vàng ròng hay kim cương thì đôi bông giả kia đâu có giá trị gì! Dù cho những thứ giả ấy đầy trước mắt, họ cũng không thèm để ý, huống nữa là quý thích. Khi chúng ta nhận được mặt thật xưa nay, đối với thế gian này mới hoàn toàn không ô nhiễm. Như ngài Phù Dung nói: “Ngộ thanh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa, kiến lợi kiến danh như nhãn trung trước tiết”, gặp thanh gặp sắc như cây trồng trên đá, thấy lợi thấy danh như bụi rơi trong mắt vậy. Đối với người đã đạt được pháp tánh rồi thì thanh sắc, danh lợi không bám được, chẳng có chi phải bận lòng. 

Giá biên na biên, ứng dụng bất khuyết. Bên này bên kia, ứng dụng không thiếu. Bên này bên kia là thế nào? Đứng về thế gian thì tùy cơ ứng biến diệu dụng không lường. Đứng về xuất thế gian thì không còn bị năm trần ô nhiễm. Không chấp có, không kẹt không, không mắc trong thế gian, cũng không đắm nơi giải thoát. Tự tại qua lại trong tam giới, tùy duyên hóa độ muôn loài. Đó là chỗ cứu cánh của người tu. 

Đoạn trên Tổ đã chỉ chỗ chí yếu của việc tu để chúng ta không còn ngờ vực, đến đây Tổ lại khen ngợi để sách tấn.

Âm:

Như tư hành chỉ, thật bất uổng phi pháp phục, diệc nãi thù báo tứ ân, bạt tế tam hữu. Sanh sanh nhược năng bất thoái, Phật giai quyết định khả kỳ, vãng lai tam giới chi tân, xuất một vị tha tác tắc.

Dịch: 

Nếu làm được như thế, mới thật không uổng mặc áo pháp, cũng là đền đáp bốn ân, cứu giúp ba cõi. Đời đời nếu không thối chuyển thì quả Phật quyết chắc được nên. Làm người khách qua lại trong ba cõi, ra vào làm phép tắc cho người. 

Giảng: 

Nếu “ngộ thanh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa” thì mới thật không uổng mặc áo pháp trong nhà Phật. Vì vậy chủ trương của chúng tôi là loại bỏ tất cả kiến thức, vì còn kiến thức là còn vọng tưởng, chẳng bao giờ thể nhập được pháp tánh châu lưu. Chúng ta phải gan dạ loại bỏ các kiến thức tạp nhạp, vì càng nhiều kiến thức càng tầm thường. Muốn vượt khỏi sự tầm thường ấy, chỉ nên đi thẳng theo một con đường cho đến nơi đến chốn. 

Như có người đánh máy, đào mương, hội họa, làm bếp... cái gì cũng biết, chắc chắn sẽ không giỏi hẳn một môn nào. Chỉ có thể tùy thân hữu dụng, chứ không thể thành người tài giỏi. Muốn thành người tài giỏi chỉ nên chuyên một ngành thôi. Tất cả kiến thức khôn ngoan đều là vọng tưởng, chẳng phải chân thật. Chúng chỉ là những hòn bọt ngoài bể cả, nào có nghĩa lý gì. Chúng ta phải gan dạ đập nát những hòn bọt vọng tưởng kia, để thấy được diệu dụng khôn lường của mình, chừng đó mới đủ khả năng gánh vác Phật pháp. 

Âm: 

Thử chi nhất học, tối diệu tối huyền, đãn biện khẳng tâm, tất bất tương trám. 

Dịch: 

Môn thiền này rất diệu rất huyền, chỉ cần có đủ quyết tâm, mới biết Phật tổ không dối. 

Giảng: 

Một hôm trên hội Linh Sơn, Phật đưa cành hoa sen lên cả chúng hội đều ngơ ngác, chỉ có ngài Ca-diếp đắc ý chúm chím cười. Về sau, có một thiền khách đem việc này đến hỏi thiền sư: 

- Vì sao nói Như Lai có mật ngữ mà không có mật tàng? 

Thiền sư liền đưa tay lên, hỏi: 

- Hội không? 

- Không hội. 

- Nếu ông không hội thì Như Lai có mật ngữ, nếu ông hội thì Như Lai không có mật tàng. 

Điều Phật muốn nói muốn chỉ, vượt ngoài tầm hiểu biết theo vọng tưởng của mình, nên chúng ta nghe như bí mật. Vì chúng ta không lãnh hội được nên thấy như Phật có mật tàng, còn đối với ngài Ca-diếp thì Như Lai có mật ngữ nhưng không có mật tàng. Khi chưa lãnh hội thì nghi ngờ lời Phật tổ, lãnh hội được rồi hết nghi mới thấy môn thiền này rất diệu huyền. Người tu phải cố gắng nhận ra cái chân thật, mới thấy Phật tổ không dối gạt mình. Chúng ta thường nghi ngờ, nếu dẹp hết kiến thức rồi còn gì? Chẳng lẽ tu không biết gì hết, cứ ngơ ngơ sao? Đừng lo chuyện ấy, chỉ lo trong lòng chưa được trống không, chứ khi dứt hết vọng tưởng điên đảo rồi thì bên này bên kia, ứng dụng không thiếu

Có lắm vị ngồi thiền được yên tĩnh giây lát sanh nghi, tới chỗ yên rồi sao không thấy có diệu dụng? Mới yên được chốc lát làm sao có diệu dụng, chừng nào đi đứng nằm ngồi đều như như, chừng ấy mới pháp tánh châu lưu. Như ngài Triệu Châu suốt ngày không có tạp niệm, chỉ trừ hai thời cơm cháo là còn khởi quán tưởng. Chúng ta ngồi thiền chưa yên, chưa có được năm phút hay nửa ngày như như thì làm sao có diệu dụng? Chỉ khi không còn vọng tưởng, mới thấy mình chẳng phải là thân bé nhỏ mong manh này, mà là cái bất sanh bất diệt như như. 

Chỗ cứu cánh này không chỉ riêng Thiền tông, mà chư tổ Tịnh độ cũng thấy như thế. Có vị tăng đến hỏi đạo một vị sư Nhật Bản: 

- Thầy tu pháp môn nào? 

- Tôi tu pháp môn Tịnh độ. 

- Đức Phật A-di-đà bao nhiêu tuổi? 

- Bằng tuổi của tôi. 

- Vậy Ngài bao nhiêu tuổi? 

- Bằng tuổi Phật A-di-đà.

Câu đáp này chứng tỏ vị sư đó đã thể nhập pháp tánh, nên không thấy Phật A-di-đà là một vị Phật ở cõi xa xôi nào, mà chính là tự tánh của mình, nên nói bằng tuổi của tôi. Chúng ta nghe qua thấy như vị sư này phạm thượng, dám so sánh tuổi mình bằng tuổi Phật, nhưng đối với người tu hiểu thấu đáo rồi, thấy đó là sự thật.

Tổ e có người đối với giáo lý cao siêu như thế không kham lãnh nổi, nên đến đây ngài hạ xuống dạy phương pháp khác. 

Âm: 

Nhược hữu trung lưu chi sĩ, vị năng đốn siêu, thả ư giáo pháp lưu tâm, ôn tầm bối diệp. Tinh sưu nghĩa lý, truyền xướng phu dương, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức. 

Dịch: 

Nếu có kẻ bậc trung, chưa thể vượt qua được phương tiện, thì phải đối với giáo pháp lưu tâm, ôn tầm kinh luận. Tinh thông nghĩa lý, truyền bá mở mang, tiếp dẫn hậu lai, báo ân đức Phật. 

Giảng: 

Nếu người đốn siêu được thì ngay trong đời này có thể cứu giúp chúng sanh trong ba cõi, đền đáp bốn trọng ơn. Còn chưa được như thế thì phải nghiên cứu kinh điển cho tinh thông để đem ra truyền bá, hầu tiếp dẫn người sau, đáp đền ơn Phật. Như thế cũng là tốt vậy.

Âm: 

Thời quang diệc bất hư khí, tất tu dĩ thử phù trì, trụ chỉ oai nghi, tiện thị tăng trung pháp khí. 

Dịch: 

Thời giờ chớ nên luống bỏ, phải dùng giáo pháp để phò trì, đi đứng oai nghi, mới là pháp khí Tăng bảo. 

Giảng: 

Chúng ta không phải là người nhất thời thấu suốt về thiền, cũng không nên luống bỏ thời giờ, cần phải nghiên cứu kinh điển thâm sâu, để dạy dỗ người sau, giữ gìn nề nếp, đi đứng oai nghi... làm mẫu mực cho tăng chúng, đền đáp ơn Phật. 

Âm: 

Khởi bất kiến ỷ tùng chi cát, thượng tủng thiên tầm. Phụ thác thắng nhân, phương năng quảng ích. 

Dịch: 

Há chẳng thấy, dây sắn nương cây tùng mà vượt cao lên ngàn trượng. Nương gá nhân lành thù thắng thì mới được lợi ích rộng nhiều. 

Giảng: 

Dây sắn, dây bìm nhờ nương quấn cây tùng mà vượt lên cao ngàn trượng. Cũng vậy, chúng ta là kẻ tầm thường thì phải nương nhờ kinh luật để tu. Vì sao? Vì kinh giáo ví như chiếc bè để qua sông, như ngón tay chỉ mặt trăng. Nương ngón tay mà thấy mặt trăng, nhân kinh mà ngộ được bản tánh. Dù đời này không tỏ ngộ được thì cũng chứa nhóm thiện căn, nuôi dưỡng hạt giống Phật. Đồng thời nghiên cứu kinh điển mới nắm vững đường lối tu, để hướng dẫn người sau khiến cho mọi người bớt khổ được vui. Vì vậy, chúng ta tu là phải biết khéo léo linh động, để được lợi ích cho mình và cho người. 

Âm: 

Khẩn tu trai giới, mạc man khuy du. Thế thế sanh sanh, thù diệu nhân quả. 

Dịch:

Phải nên thiết tha tu hành trai giới cho thanh tịnh, chớ nên khinh dối bỏ qua. Đời đời kiếp kiếp, sẽ được nhân quả tốt đẹp.

Giảng: 

Khẩn tu trai giới, mạc man khuy du. Ở trên Tổ đã khuyên học kinh nhưng sợ chúng ta chấp lý bỏ sự, hạnh giải không tương ưng, nên đến đây ngài lại dạy phải nghiêm trì giới luật, chớ nên thiếu sót bỏ qua. Giữ giới là sự, học kinh là lý, sự lý phải viên dung. Như chim có hai cánh thiếu một không thể bay được, người có hai chân thiếu một không thể đi được. Thế nên tổ Ca-diếp trọn đời tu hạnh đầu-đà, ngài Vĩnh Gia không ăn rau dưới đầu cuốc vì sợ làm chết trùng kiến, ngài Khuê Phong quanh năm không rời đãy lọc nước... Chư Tổ đã ngộ đạo đối với giới luật còn không dám coi thường, huống người thời nay học hiểu được chút ít lý thiền đã vội buông lung phá giới, đó là bệnh.

Thế thế sanh sanh, thù diệu nhân quả. Giữ giới thì hiện đời tâm trong sạch, đời sau được báo thân đoan chánh trang nghiêm. Cho đến thân ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của Phật cũng do nhiều đời giữ giới mà được thành tựu. Nên nói, đời đời kiếp kiếp nhân quả tốt đẹp. 

Âm: 

Bất khả đẳng nhàn quá nhật, ngột ngột độ thời, khả tích quang âm, bất cầu thăng tiến. Đồ tiêu thập phương tín thí, diệc nãi cô phụ tứ ân. Tích lụy chuyển thâm, tâm trần dị ủng. Xúc đồ thành trệ, nhân sở khinh khi. 

Dịch: 

Chẳng nên thong thả qua ngày, ngẩn ngơ hết buổi. Thời giờ đáng tiếc sao chẳng cầu tu tiến. (Như thế thật là) luống hao của tín thí, cũng là cô phụ bốn ân. Tích chứa càng nhiều, tâm trần dễ lấp, gặp việc ngăn bít, bị người chê cười. 

Giảng: 

Bất khả đẳng nhàn quá nhật, ngột ngột độ thời. Không nên lửng lơ thong thả qua ngày, ngơ ngáo hết tháng. Chữ ngột ngột có chỗ dùng để chỉ cho người tâm nhất như, trong lòng không còn một chút kiến giải nào. Ngơ ngáo nhưng không phải là cái ngơ ngáo của người không hiểu đạo lý. Chữ ngột ngột ở đây Tổ dùng để quở người tu mà lo ăn chơi theo thế tục, cứ ngơ ngơ để ngày tháng trôi qua vô ích.

Khả tích quang âm, bất cầu thăng tiến. Đồ tiêu thập phương tín thí, diệc nãi cô phụ tứ ân. Phải biết quý tiếc thời giờ mà nỗ lực tiến tu, nếu không thì đã luống tiêu hao của tín thí mà cũng là cô phụ tứ ân. 

Tích lụy chuyển thâm, tâm trần dị ủng. Xúc đồ thành trệ, nhân sở khinh khi. Tích chứa tiền của càng nhiều, tâm dễ bị bụi trần che lấp. Như khi chúng ta không có một xu dính túi đâu cần suy nghĩ, nhưng nếu có ai cho vài ngàn thì lúc đó liền suy nghĩ phải mua thứ gì, tức vọng tưởng dấy lên. Tiền ít thì vọng tưởng ít, tiền nhiều vọng tưởng càng nhiều. Nếu người có bạc tỷ thì thật khó tu, vì bận lo nghĩ làm sao cho khỏi mất mát, làm sao để sanh lợi? Tâm lúc nào cũng bất an, tức đã bị bụi trần phủ che. Thế nên người nào chứa nhóm càng nhiều càng bị chướng ngại, ở trong Phật pháp không sáng tỏ được. Tuy có tiền của nhiều nhưng vẫn bị người khinh, vì tu mà đạo lý không biết gì cả. 

Âm: 

Cổ vân: “Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ, bất ưng tự khinh nhi thối khuất.” Nhược bất như thử, đồ tại truy môn, nhẫm nhiễm nhất sanh, thù vô sở ích. 

Dịch: 

Người xưa nói: “Kia trượng phu ta đây cũng thế, chớ tự khinh mình mà lui sụt.” Nếu chẳng như thế, luống ở trong cửa đạo, dần dà hết một đời, trọn không có lợi ích.

Giảng: 

Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ, bất ưng tự khinh nhi thối khuất. Trong kinh A-hàm kể, ngài La-hầu-la đi tu lúc còn bé nên hay chọc phá. Có lần thấy các vị Tỳ-kheo ngủ ngài đến chọc phá, các Tỳ-kheo thưa lên Phật, Phật quở: 

- Sao ông không học theo những vị trưởng lão đằm thắm nghiêm chỉnh, lại đùa giỡn như thế? 

La-hầu-la thưa:

- Bạch Thế Tôn, con đâu dám bì với các hàng trưởng lão. 

Phật dạy: 

- Kia là trượng phu, mình cũng thế. Cớ sao tự khinh, lại có những tánh xấu như vậy? 

Từ đó câu nói “bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ, bất ưng tự khinh nhi thối khuất” thường được nhắc đến. Chúng ta có bệnh tự ty mặc cảm, nghe nói đến Phật thì nghĩ Phật ngồi trên cao, còn mình ở dưới thấp. Biết thế nên Phật đã hạ ngài xuống để hòa với chúng ta và bảo: “Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành.” Phật đã nâng chúng ta lên mà chúng ta vẫn không dám nhận, luôn xem việc thành Phật là quá cao xa, không làm nổi, không dám tin mình sẽ thành Phật. Do cứ thầm tưởng như vậy, nên thay vì cố gắng mười phần, chỉ ráng năm sáu phần thôi. Như học trò sắp thi tú tài mà mang mặc cảm sẽ thi rớt, nên đến trường học cầm chừng, bạn bè rủ đi chơi liền đi, không lo học hành. Từ ý niệm thiếu tự tin dẫn đến bê tha. Nếu tin sẽ thi đậu thì sẽ cố học, có ai rủ rê cũng không dám đi chơi, nhờ thế mà siêng năng cần mẫn. Bê tha hay cần mẫn là do tự tin hay không tự tin mà thôi. 

Hiện nay đa số người tu hầu như mất tự tin, vì nghĩ mình tu không thành Phật nên cứ thong thả không cố gắng tu. Vậy nên nếu có ai rủ đi giải trí một chút thì nghĩ, đi cho khuây khỏa chắc cũng không phạm tội gì. Cứ thế từ lỗi nhỏ dẫn dần đến lỗi lớn, càng ngày càng xa đạo. Gốc là do thiếu tự tin. 

Trong kinh Pháp Hoa, Bồ-tát Thường Bất Khinh thường làm một việc xem như đùa, đến đâu gặp ai ngài cũng nói: “Tôi không dám khinh các ngài, vì các ngài đều sẽ thành Phật.” Không kể ngài tu hạnh gì, chỉ nói một câu ấy thôi, mà Phật bảo: “Bồ-tát Thường Bất Khinh là tiền thân của ta, nhờ tu hạnh ấy mà bây giờ ta được thành Phật. Những người mà ta gieo hạt giống thời đó, hiện tại đang ở trong hội chúng đây, có người là Bồ-tát, có người là La-hán.” Chỉ một câu nói “tôi không dám khinh các ngài, vì các ngài đều sẽ thành Phật” mà đã gieo vào lòng người một niềm tin, đó là tin mình có hạt giống Phật. 

Chúng ta vì mất niềm tin nơi chính mình, nên đối với quả Phật cảm thấy vô phần, trong khi mỗi người đều có Phật tánh. Đã có hạt giống Phật thì quyết định sẽ có ngày thành Phật, nên Tổ nói Phật giai quyết định khả kỳ, quả Phật chắc chắn sẽ có ngày thành tựu. Phật tổ cũng là người như chúng ta, nếu chịu tu đúng theo các ngài chỉ dạy thì chúng ta cũng sẽ thành Phật thành tổ. Tu chưa ra gì mà tự xưng là tổ thì là ngã mạn, còn nói quyết định sẽ thành tổ thì đâu phải ngã mạn. Chỗ này chúng ta nên hiểu rõ, để cố gắng vươn lên. 

Nhược bất như thử, đồ tại truy môn, nhẫm nhiễm nhất sanh, thù vô sở ích. Nếu không được như vậy thì luống ở trong đạo, lơ lửng một đời, trọn không có lợi ích. Tới đây Tổ vừa nhắc nhở vừa quở rầy, mà chúng ta đâu đó vẫn y nguyên, mới biết mình nghiệp chướng thật sâu dày. 

Âm: 

Phục vọng hưng quyết liệt chi chí, khai đặc đạt chi hoài. Cử thố khán tha thượng lưu, mạc thiện tùy ư dung bỉ. Kim sanh tiện tu quyết đoán, tưởng liệu bất do biệt nhân.

Dịch: 

Trông mong (các ông) phát chí dũng mãnh, mở lòng rộng xa. Việc làm phải noi gương hàng thượng đức, chớ học kẻ tầm thường. Đời này tự mình quyết đoán, chẳng do người khác liệu giùm. 

Giảng: 

Tổ trông mong chúng ta hãy khởi ý chí quyết liệt, mở tâm rộng rãi, phàm làm việc gì phải noi gương Phật tổ, chớ duyên theo những kẻ tầm thường. Đời này phải chính mình lo giải quyết lấy việc sanh tử, chớ trông cậy vào người khác. Như thế mới xứng đáng và không uổng phí một đời tu. Tổ thúc đẩy mạnh mẽ để chúng ta một bề thẳng tiến.

Âm: 

Tức ý vong duyên, bất dữ chư trần tác đối. Tâm không cảnh tịch, chỉ vị cửu trệ bất thông. 

Dịch: 

Dứt ý quên duyên, đừng với các trần làm bạn. Tâm không cảnh lặng, chỉ vì hằng lâu ngăn trệ chẳng thông. 

Giảng: 

Dứt ý quên duyên đừng làm bạn cùng trần cảnh, tức tâm không duyên theo cảnh. Nếu ở giữa chợ mà tâm không duyên theo cảnh thì đó là cảnh tịch, còn ở núi non vắng vẻ mà tâm cứ nhớ đây nhớ kia đó là cảnh ồn. Cảnh vắng hay ồn là do tâm duyên hay không duyên theo cảnh. Xưa nay tâm vốn rỗng rang, trần cảnh vốn lặng lẽ, chỉ vì quên chân theo vọng, lâu ngày bị các duyên che lấp, khuất mất bản tâm khiến phải lăng xăng trong sáu nẻo. Chỉ cần dừng vọng tưởng là dừng bước luân hồi. 

Âm: 

Thục lãm tư văn, thời thời cảnh sách. Cưỡng tác chủ tể, mạc tuẫn nhân tình. Nghiệp quả sở khiên, thành nan đào tỵ. Thanh hòa hưởng thuận, hình trực ảnh đoan. Nhân quả lịch nhiên, khởi vô ưu cụ. 

Dịch: 

Hãy đọc kỹ văn này, thường tự nhắc nhở. Cố gắng làm chủ, chớ theo tình người. Nghiệp quả kéo lôi, thật khó trốn tránh. Tiếng hòa thì vang thuận, hình thẳng thì bóng ngay. Nhân quả rõ ràng, há không lo sợ. 

Giảng: 

Thục lãm tư văn, thời thời cảnh sách. Cưỡng tác chủ tể, mạc tuẫn nhân tình. Tổ dạy chúng ta phải thường đọc bản văn này cho thuộc lòng để luôn tự đánh thức mình. Cố gắng tự chủ, đừng chạy theo tình người mới có thể tiến tu được. 

Nghiệp quả sở khiên, thành nan đào tỵ. Thanh hòa hưởng thuận, hình trực ảnh đoan. Nhân quả lịch nhiên, khởi vô ưu cụ. Một khi nghiệp quả đã buộc ràng thì khó trốn tránh. Gây nhân lành được quả tốt, cũng như tiếng êm ái thì âm vang nhẹ nhàng, hình ngay thì bóng thẳng. Nhân quả theo nhau rõ ràng như vậy. Nếu đời này tu hành chưa giải thoát thì phải biết gây nhân gì gặt quả nấy. Thế nên người biết tu cần dè dặt. 

Âm: 

Cố kinh vân, giả sử bách thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong, nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thọ. 

Dịch: 

Cho nên kinh nói: “Giả sử trăm ngàn kiếp, nghiệp đã tạo không bao giờ mất. Nhân duyên khi gặp gỡ, quả báo lại phải chịu.”

Giảng: 

Tổ dẫn kinh Nhân Quả. Nếu đã tạo nghiệp thì dù trải qua trăm ngàn kiếp, nghiệp đó cũng không mất. Khi hội đủ duyên quả báo sẽ đến và chúng ta phải nhận chịu lấy. Có người tưởng rằng những việc đã làm sẽ qua mất theo thời gian, nhưng thật sự nó không mất mà âm hưởng vẫn còn. Như tiếng nói phát ra chúng ta tưởng là mất, thật sự nó vang ra và còn lưu lại đâu đó, điều này bây giờ khoa học đã giúp cho thấy rõ. Những hành động của chúng ta cũng như thế. 

Tuy nhiên, không mất mà mất, mất mà không mất. Như khi chúng ta có quyền thế, đối với người xung quanh lắm lúc có những lời lẽ hay hành động khinh miệt. Lúc đó vì sợ uy lực của mình, tuy bên ngoài không dám buồn trách, nhưng trong lòng họ nhớ mãi. Đến một ngày nào đó chúng ta sa cơ thất thế, họ lại có uy thế hơn, bấy giờ sẽ trả thù mình, chừng ấy mới thấy nhân quả rõ ràng. Là người tu biết rõ lý nhân quả, chúng ta cần phải dè dặt từng hành động, từng lời nói, để không dẫn đến nhân quả chẳng lành. 

Âm: 

Cố tri tam giới hình phạt, oanh bạn sát nhân, nỗ lực cần tu, mạc không quá nhật. 

Dịch: 

Nên biết ba cõi hình phạt, trói buộc hại người, gắng sức lo tu, chớ luống qua ngày tháng. 

Giảng: 

Ba cõi là chỗ chúng sanh thọ quả báo, nên nói ba cõi hình phạt. Phiền não vọng tưởng là sợi dây trói buộc, là giặc thù cướp mất tuệ mạng, gia bảo của chúng ta, nên nói trói buộc hại người. Đến đây Tổ kết thúc và nhắc nhở hết sức thiết tha. 

Âm: 

Thâm tri quá hoạn, phương nãi tương khuyến hành trì, nguyện bách kiếp thiên sanh, xứ xứ đồng vi pháp lữ. 

Dịch: 

Biết rõ lỗi lầm, nên mới khuyên nhau tu tập, nguyện trăm kiếp ngàn đời, chỗ chỗ cùng làm bạn pháp.

Giảng: 

Sở dĩ Tổ khuyên như vậy, vì ngài đã thấy rõ lỗi lầm đó nên mới khuyên chúng ta tu tập. Ngài nguyện trăm kiếp ngàn đời, nơi nơi chỗ chỗ đồng làm bạn pháp, để nhắc nhau cùng tu cùng sớm thành Phật đạo. Đây cũng chính là sở nguyện của tất cả người tu. Để toát yếu lại, ngài làm bài minh. 

Âm: 

Nãi vi minh viết: 

Huyễn thân mộng trạch, 

Không trung vật sắc. 

Tiền tế vô cùng, 

Hậu tế ninh khắc?

Dịch: 

Bèn làm bài minh rằng: 

Thân huyễn nhà mộng, 

Vật sắc trong không. 

Mé trước không cùng, 

Mé sau đâu biết? 

Giảng: 

Thân là huyễn hóa, cõi này như cõi mộng. Tất cả hình ảnh sự vật trước mắt, chẳng khác nào hoa đốm giữa hư không, đều là huyễn hóa do nhân duyên sanh. Nhân duyên thì trùng trùng điệp điệp, nên mé trước không cùng, mé sau không thể tính hết. 

Âm:

Xuất thử một bỉ, 

Thăng trầm bì cực. 

Vị miễn tam luân, 

Hà thời hưu tức? 

Dịch: 

Thoát đây chìm kia, 

Lên xuống cực nhọc. 

Chưa khỏi ba đường, 

Bao giờ thôi dứt? 

Giảng: 

Khi chúng ta chưa giác ngộ giải thoát, cứ mải ra đây vào kia lẩn quẩn sáu nẻo, lang thang trong dòng luân hồi, hết lên lại xuống từ vô thủy đến bây giờ không biết đã bao lần. Nếu chưa thoát khỏi ba cõi thì biết đến bao giờ sự lên xuống nhọc nhằn kia mới thôi dứt. 

Âm: 

Tham luyến thế gian, 

Ấm duyên thành chất. 

Tùng sanh chí lão, 

Nhất vô sở đắc. 

Dịch: 

Tham luyến cõi đời, 

Ấm duyên thành chất. 

Từ sanh đến già, 

Trọn không gì được.

Giảng: 

Vì tham luyến thế gian nên mới có thân, hợp năm uẩn lại thành sắc chất. Như vậy có thân đây là do gốc luyến ái mà ra. Nhưng từ lúc sanh cho đến già nhắm mắt, nào có được gì đâu. Đến tay không đi cũng tay không. Chỉ có mang theo nghiệp, mà còn nghiệp thì sanh tử lại trùng trùng tiếp nối. 

Âm: 

Căn bản vô minh, 

Nhân tư bị hoặc. 

Quang âm khả tích, 

Sát-na bất trắc.

Dịch: 

Căn bản vô minh, 

Nhân đây mê hoặc. 

Thời giờ đáng tiếc, 

Khoảnh khắc khó lường. 

Giảng: 

Cội gốc vô minh, do đây bị mê lầm. Mê lầm chồng chất mê lầm, không biết bao giờ dứt được. Thế nên chúng ta phải tiếc từ tấc bóng. Mạng sống con người trong khoảng sát-na không thể lường được, đang sống đây nhưng có duyên nào đó đưa đến liền ngã ra chết. Thế là đã qua đời khác. 

Âm: 

Kim sanh không quá, 

Lai thế trất tắc. 

Tùng mê chí mê, 

Giai nhân lục tặc. 

Dịch: 

Đời nay luống qua, 

Đời sau ngăn lấp. 

Từ mê đến mê, 

Đều do sáu giặc. 

Giảng: 

Nếu đời này luống qua thì đời sau bít lấp. Từ mê đến mê cũng đều do sáu tên giặc, mắt tai mũi lưỡi thân ý, khiến chúng ta không thoát khỏi sáu trần.

Âm:

Lục đạo vãng hoàn, 

Tam giới bồ bặc. 

Tảo phỏng minh sư, 

Thân cận cao đức. 

Dịch: 

Qua lại sáu đường, 

Lăn lóc ba cõi. 

Sớm tìm minh sư, 

Thân gần cao đức. 

Giảng:

Cứ mải qua lại trong sáu đường, lăn lóc ba cõi không dứt, vì vậy nên phải hỏi các bậc minh sư và gần gũi các vị cao đức.

Âm: 

Quyết trạch thân tâm, 

Khử kỳ kinh cức. 

Thế tự phù hư, 

Chúng duyên khởi bức? 

Dịch: 

Gạn lọc thân tâm, 

Bỏ điều gai góc. 

Đời tự giả hư, 

Duyên nào ép ngặt?

Giảng:

Thường phải gạn lọc thân tâm, bỏ đi những vọng tưởng gai góc, để cây bồ-đề được tăng trưởng. Cuộc đời hư giả, do các duyên tụ hội. Thấy rõ như vậy thì duyên nào bức bách được mình! 

Âm: 

Nghiên cùng pháp lý, 

Dĩ ngộ vi tắc. 

Tâm cảnh câu quyên,

Mạc ký mạc ức.

Dịch: 

Xét tột pháp lý, 

Chứng ngộ mới thôi. 

Tâm cảnh đều quên, 

Chẳng ghi chẳng nhớ. 

Giảng: 

Chúng ta phải nghiên cứu đạo lý cho cùng tột, đi đến chỗ giải thoát mới thôi. Tâm cảnh đều dẹp hết, chớ ghi chớ nhớ. 

Âm: 

Lục căn di nhiên, 

Hành trụ tịch mặc. 

Nhất tâm bất sanh, 

Vạn pháp câu tức.

Dịch: 

Sáu căn an nhiên, 

Đứng đi lặng lẽ. 

Một tâm chẳng sanh, 

Muôn pháp đều dứt. 

Giảng: 

Nếu sáu căn an nhiên, không chạy theo sáu trần thì đi đứng nằm ngồi đều lặng lẽ. Một tâm chẳng sanh thì muôn pháp đều dứt đoạn. 

Tổ dùng bài minh này để cô đọng lại toàn văn cảnh sách ở trên. Ngài nhắc nhở tới lui chỉ vì muốn chúng ta trở thành người xuất gia xứng đáng, để không phụ ơn cha mẹ, thầy tổ, đàn-na thí chủ... và làm lợi ích cho Phật pháp, cho chúng sanh đời sau vậy.

Mục Lục
Danh sách chương: