Thiền Tông Việt Nam
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Sơ tổ phái Trúc Lâm TRẦN NHÂN TÔNG - Tham Vấn (Giảng 3)

Lại có vị Tăng hỏi: Ngài Linh Vân khi xem hoa đào ngộ thì thế nào?

Ngài đáp:

Tự nở tự tàn theo thời tiết,
Đông quân bị hỏi cũng khôn lời.

Ngài Linh Vân(1) là đệ tử của Tổ Qui Sơn Linh Hựu. Khi nhìn thấy hoa đào nở, bỗng dưng Ngài ngộ đạo, do đó có vị Tăng nghi nên hỏi. Sơ tổ Trúc Lâm đáp là hoa đào tùy theo thời tiết mà có nở có tàn. Nếu hỏi tại sao xem hoa đào ngộ đạo, giả sử như Đông quân cũng không đáp được. Đông quân là chỉ thần mặt trời hay thần mùa xuân. Nói cách khác, ngài Linh Vân nhìn thấy hoa đào mà ngộ đạo, đó là tùy theo thời tiết nhân duyên, khi chín mùi chợt gặp thì ngộ. Còn muốn hỏi lý do thì không ai đáp được.

Hỏi: Khi giết người không nhìn lại thì sao?

Ngài đáp: Gan dạ cùng mình. Nếu giết mà không nhìn lại tức là gan dạ cùng mình chớ gì.

Lại hỏi thêm: Người đại tu hành lại rơi vào nhân quả hay không?

Ngài liền đáp:

Khẩu tợ huyết bồn ha Phật Tổ,
Nha như kiếm thọ chủy Thiền lâm.
Nhất triêu tử nhập A-tì ngục,
Tiếu sát Nam-mô Quán Thế Âm.

Dịch:

Miệng dường chậu máu chê Phật Tổ,
Răng như kiếm bén gặm rừng thiền.
Một mai chết đọa A-tì ngục,
Cười ngất Nam-mô Quán Thế Âm.

Tiếu sát, chúng ta có chữ dịch rất hay là cười ngất. Câu hỏi này là do câu chuyện: Trong hội Tổ Bá Trượng, một hôm sau buổi tham vấn, toàn chúng ra về chỉ còn một ông già ở lại. Tổ đến hỏi: Sao ông chưa về? Ông thưa: Con không phải là người. Thời quá khứ thuở đức Phật Ca-diếp, con là một vị Tỳ-kheo tăng ở núi này, nhân có người hỏi: người đại tu hành lại rơi vào nhân quả chăng, con đáp: không rơi vào nhân quả. Do đó con phải đọa làm thân chồn đến năm trăm kiếp. Nay xin Hòa thượng nói cho con một chuyển ngữ để con thoát khỏi kiếp chồn. Tổ bảo: Ông hỏi lại ta đi. Ông già hỏi: Người đại tu hành có rơi vào nhân quả không? Tổ đáp: Không lầm nhân quả. Ngay câu nói ấy ông ngộ được, làm lễ thưa: Con đã thoát thân chồn. Con ở sau núi, dám xin Hòa thượng lấy theo lễ tống táng con như một vị Tăng.

Câu hỏi trên hết sức quan trọng đối với người tu. Người đại tu hành là người nào? Nói cho dễ hiểu là người ngộ đạo. Ngộ đạo rồi, đời sau có rơi vào nhân quả không? Tôi dẫn cho quí vị thấy: Người đại tu hành không ai bằng Phật, thế mà đức Phật còn bị nạn kim thương mã mạch, nghĩa là Ngài còn chưa ra khỏi nhân quả. Thế nên ông già trả lời “không rơi vào nhân quả”, là trái với giáo lý đức Phật dạy, đã tạo nhân thì phải chịu quả. Tuy nhiên nếu chúng ta dẫn lại lời Thiền sư Huyền Giác, Ngài nói:

Liễu tức nghiệp chướng bản lai không,
Vị liễu ưng tu hoàn túc trái.

Nghĩa là người liễu ngộ rồi thì nghiệp chướng xưa nay là không, còn người chưa liễu ngộ thì phải đền nợ trước, tức là bị nhân quả. Thế thì ông già trả lời đúng như lời ngài Huyền Giác nhưng tại sao ông bị đọa? Đó là vì ông hiểu lầm chữ liễu của Ngài, ông tưởng rằng liễu rồi là không còn kẹt vào nhân quả nữa, nhưng không ngờ liễu thì nghiệp chướng bản lai không.

Ngài Trần Nhân Tông trả lời rất khéo như sau:

Miệng dường chậu máu chê Phật Tổ,
Răng như kiếm bén gặm rừng thiền.

Nghĩa là tạo tội tạo nghiệp, chê Phật chê Tổ, phá những người tu.

Một mai chết đọa A-tì ngục,
Cười ngất Nam-mô Quán Thế Âm.

Nếu làm việc ác, chết phải đọa địa ngục A-tì tức là địa ngục Vô Gián. Làm ác thì chịu quả ác không nghi ngờ, nhưng khi quả ác đến thì cười ngất Nam-mô Quán Thế Âm. Đây là câu của người đại tu hành. Tại sao? Tôi dùng một ví dụ nhỏ cho quí vị hiểu. Khi chúng ta mê muội, tranh hơn tranh thua với một người nào, cãi vã rồi chửi mắng họ, lúc đó vì thế yếu họ không dám chống nhưng họ hận. Mai kia thế chúng ta yếu, người đó lại mạnh, khi gặp chúng ta họ xử sự như thế nào? Xưa chúng ta mắng họ một, nay họ trả lại gấp hai, ba phần. Tuy nhiên rất mừng là chúng ta đã ngộ đạo, nên trước những lời mắng chửi nặng nề, chúng ta chỉ cười ngất. Vậy có trả hay không? Nếu chưa ngộ đạo, chúng ta thấy những lời mắng chửi là thật, tự nhiên mình chịu không nổi, nên rất khổ sở. Nhờ ngộ đạo, biết những lời chửi rủa như gió thoảng qua tai, có nghĩa lý gì đâu nên chúng ta cười. Như vậy để thấy rằng nhân quả vẫn phải trả, nhưng khi mê thì khổ, khi ngộ thì cười. Thế nên Ngài dùng hình ảnh rất đẹp:

Một mai chết đọa A-tì ngục,
Cười ngất Nam-mô Quán Thế Âm.

Người mê rơi xuống địa ngục thì than khóc khổ sở, còn người ngộ thì cười, đó là hiện tại nhân quả không mất, nhưng ngộ rồi thì trả mà không trả. Đây là một câu trả lời khéo vô cùng.

Tăng hỏi:

Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết,
Trên cây oanh đậu một cành hoa,

thì thế nào?

Ngài đáp: Lầm!

Tăng hỏi tiếp: Theo Đại tôn đức thì thế nào?

Ngài bảo:

Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết,
Trên cây oanh đậu một cành hoa.

Tăng thưa: Đó là câu nói của tôi.

Ngài tiếp:

Muốn biết thần tiên lò luyện thuốc,
Linh đơn vốn thiệt tử châu sa.

Qua đoạn này quí vị thấy có điều gì lạ? Vị Tăng dẫn hai câu thơ đặt thành câu hỏi:

“Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết,
Trên cây oanh đậu một cành hoa”,

thì thế nào?

Hai câu thơ rất là tuyệt, dưới thửa ruộng trống bầy cò trắng đậu trông như những điểm tuyết trên đồng cỏ. Trên cành chim oanh vàng đậu nhìn thấy như đóa hoa nở trên cây. Khi vị Tăng hỏi như vậy, Ngài đáp: Lầm! Tại sao? Vì ông dẫn câu của người khác diễn tả cảnh để hỏi về thiền nên Ngài nói lầm. Vị Tăng mới hỏi thêm: Theo Đại tôn đức thì thế nào? Nghĩa là vậy ý Ngài nghĩ như thế nào? Ngài liền dẫn lại nguyên văn hai câu trên:

Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết,
Trên cây oanh đậu một cành hoa.

Ông Tăng tức quá mới thưa: đó là câu nói của tôi, như vậy đâu phải ý của Ngài, Ngài chỉ lặp lại ý của tôi thôi.

Ngài liền đáp:

Muốn biết thần tiên lò luyện thuốc,
Linh đơn vốn thiệt tử châu sa.

Những người tu tiên lấy tử châu sa để trong lò luyện thành linh đơn, như vậy linh đơn gốc từ tử châu sa ra chớ không có gì lạ. Ngài đáp cho vị Tăng hiểu thâm ý của Ngài muốn dạy cho người học. Người tu thiền khi thấy tâm cảnh không hai thì tất cả cảnh không ngoài tâm. Bầy cò đậu dưới ruộng hay chim hoàng oanh đậu trên cành cây… những cảnh đó đều không ngoài tâm. Như vậy Ngài dẫn hai câu thơ trên để nói ngoài cảnh không tâm, cũng như ngoài tâm không cảnh. Chúng ta đừng tìm kiếm cái gì xa lạ kỳ đặc, nên Ngài nói người tu tiên luyện linh đơn là thứ thuốc trường sanh bất tử, nhưng gốc từ tử châu sa mà ra. Như vậy chỗ ngộ đạo, chỗ thấy được Chân tánh không ngoài hình ảnh bầy cò đậu dưới ruộng giống như ngàn điểm tuyết, chim hoàng oanh đậu trên cành cây giống như một đóa hoa. Ngay trước mắt là cái chân thật mà tất cả người tu thiền cần phải đạt đến, đừng bỏ cảnh này đi tìm cái gì xa lạ khác, không có cái chân thật ngoài những cảnh hiện tiền.

Tăng hỏi: Thế nào là Thanh tịnh pháp thân?

Ngài đáp:

Đục vàng rơi trong phân sư tử,
Người đen đúa vác bó hương thơm.

Vị học tăng không hiểu nói: Học nhân không hiểu.

Ngài bảo:

Chớ học thói hồ đồ trả giá,
Cười người chân thật dối lầm nhau.

Như vậy Ngài trả lời câu: “thế nào là Thanh tịnh pháp thân” chưa? Đục vàng rơi trong phân sư tử. Cây đục là cái tầm thường nhưng vàng là quí. Phân là cái xấu xa mà sư tử là quí. Câu này nói rằng cái quí cái tiện không có hai, không rời nhau. Người đen đúa vác bó hương thơm là dịch câu: Thiết côn lôn thượng chá cô ban(2). Người đen đúa là tiện, hương thơm là quí. Câu này nói quí không rời tiện, quí tiện không hai. Tóm lại hai câu thơ diễn tả hình ảnh quí không rời tiện, tiện không ngoài quí. Pháp thân thanh tịnh không tìm ngoài cái quí tiện. Tại sao? Nếu chúng ta còn thấy quí khác tiện khác là thấy hai bên. Thấy hai bên, kẹt ở hai bên thì không bao giờ thấy được Pháp thân. Đó là ý nghĩa Ngài chỉ rõ ràng nhưng vị Tăng lại thưa: học nhân không hiểu, nghĩa là câu Ngài trả lời con không hiểu gì cả. Ngài bảo:

Chớ học thói hồ đồ trả giá,
Cười người chân thật dối lầm nhau.

Có phải Ngài mắng vị Tăng không? Hồ đồ trả giá, trả giá tức là có đắt rẻ, hơn thua. Nếu còn thấy có đắt rẻ hơn thua thì không bao giờ thấy được Pháp thân, nghĩa là muốn nhận ra Pháp thân, thì đừng so sánh, phân biệt. Như câu chuyện ngài Hưng Hóa Tồn Tương khi vua Đường Trang Tông đi Hà Bắc, trở về Ngụy phủ, dừng tại Hành cung, nghe đồn Ngài là một vị Thiền sư nổi tiếng, nhà vua cho mời Ngài đến để hỏi đạo. Khi Ngài đến, nhà vua nói: Trẫm thâu trung nguyên nhận được hòn ngọc quí, chưa từng có người trả giá. Sư nói: Xin bệ hạ cho xem. Vua lấy hai tay vuốt từ đầu đến chân. Ngài Hưng Hóa nói: Ngọc quí của đấng quân vương ai dám trả giá. Nghĩa là nhà vua đã trình cái Thanh tịnh pháp thân, mà Thanh tịnh pháp thân là một hòn ngọc vô giá, nhà vua hỏi thử Thiền sư xem người thấu rõ được hòn ngọc đó hay chưa, nên nói: Mời Thiền sư đánh giá hòn ngọc. Ngài Hưng Hóa nói rõ rằng: Hòn ngọc của đấng quân vương ai dám trả giá. Nếu trả giá thì thuộc về hạng hồ đồ rồi. Hiểu như thế mới thấy được ý “chớ học thói hồ đồ trả giá”. Chúng ta quen thói gặp đâu đánh giá đó, trúng cũng được, sai cũng được. Nhưng đó là chỗ không đánh giá tức là không so sánh, không thấy có hơn thua v.v… Ngài nói thật, Ngài chỉ Pháp thân, nhưng vị Tăng không hiểu tưởng như Ngài giấu giếm.

Vị Tăng hỏi thêm: Thế nào là Viên mãn báo thân?

Thường trong kinh nói Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. Pháp thân là Thanh tịnh pháp thân cũng gọi là Tỳ-lô-xá-na. Báo thân là Viên mãn báo thân hay gọi là Lô-xá-na. Khi hỏi thế nào là Viên mãn báo thân, Ngài đáp:

Cánh bằng bay bổng dừng cơn gió,
Ly châu lắng lạnh biển trong ngần.

Vị Tăng lễ bái. Ngài bảo:

Nguyên lai đầy đủ nhiều công dụng,
Bởi chú quàng xiên chẳng được thành.

Tôi giải thích lại ba thân để quí vị thấu suốt được câu hỏi này. Thanh tịnh pháp thân là chỉ cho Pháp thân hoàn toàn thanh tịnh, không tướng mạo, Pháp thân đó không sanh diệt, là thể của tất cả thân. Báo thân là thân do quả báo, như thân người thế gian thì gọi là nghiệp báo, người tu gọi là phước báo. Đức Phật có ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp, đó là thân phước báo. Như vậy hỏi thế nào là Viên mãn báo thân, tức là thân phước báo của Phật. Thân thứ ba là Hóa thân, tức là tùy theo các loài chúng sanh cần gì thì hóa hiện theo đó, nó không thật. Thí dụ như kinh Phổ Môn kể lại: Nếu người cần được Tỳ-kheo độ thì Bồ-tát Quán Thế Âm hiện thân Tỳ-kheo độ, nều cần được Tỳ-kheo ni độ thì Ngài hiện thân Tỳ-kheo ni, cần đồng nam độ thì hiện thân đồng nam, cần đồng nữ thì hiện thân đồng nữ, cho đến tướng tể quan v.v… tùy theo nhu cầu đương cơ mà hiện ra để hóa độ. Thân hóa độ đó gọi là Hóa thân chớ không phải là thân thật.

Ở đây khi hỏi về Báo thân, ngài Điều Ngự trả lời:

Cánh bằng bay bổng dừng cơn gió,
Ly châu lắng lạnh biển trong ngần.

Nghĩa là cánh chim đại bàng bay bổng lên không làm cho gió phải đứng lại, hạt châu ở dưới cằm con rồng (ly châu) có giá trị lắng hết cặn bã ở dưới biển làm cho nước biển được mát mẻ và trong ngần. Hai câu này nói gì về nghĩa Báo thân? Báo thân là thân do phước báo đầy đủ của chư Phật, thân đó có diệu dụng không thể lường, giống như con chim đại bàng cất cánh bay lên cao làm cho gió phải đứng lại, như hạt ly châu của con rồng khi ở sâu dưới đáy biển làm cho nước biển mát và trong.

Vị Tăng nghe liền lễ bái, nhưng không biết hiểu hay chưa, nên Ngài nói thêm:

Nguyên lai đầy đủ nhiều công dụng,
Bởi chú quàng xiên chẳng được thành.

Ai cũng có Báo thân nhưng vì chúng ta không nhận ra, không sống được, không được thành, nên nói là quàng xiên. Những tâm tưởng lăng xăng nhớ việc này tưởng việc kia, chạy ngược chạy xuôi, tâm tưởng đó là quàng xiên. Chúng ta vẫn nuôi dưỡng nó nên không thấy được Báo thân đầy đủ công đức của chính mình.

Đến câu hỏi thứ ba: Thế nào là Thiên bách ức hóa thân? Nghĩa là thân ứng hóa trăm ngàn thứ, trăm ngàn loại là thế nào? Thân đó không cố định, tùy theo duyên chúng sanh mà hiện rất nhiều.

Ngài đáp:

Mây dồn sương phủ trời mù mịt,
Tấc nước như xưa trước đỉnh đầu.

Ba thứ mây, sương, mù, mây che cả không gian, sương cũng rơi đầy, mù cũng khắp cả vùng. Nhưng cả ba gốc từ cái gì? Gốc từ tấc nước ở đỉnh đầu mà ra. Đó là để nói Hóa thân hiện trăm ngàn muôn thứ, bao nhiêu diệu dụng, tùy duyên hóa độ chúng sanh. Hóa thân đó không ngoài cái thể của Pháp thân, nó không có riêng cũng không phải tự thành, đều từ Pháp thân mà ra, cũng như từ nước biển thành mây, thành sương, thành mù che khắp trời đất, cả ba chẳng qua là một tấc nước ở đỉnh đầu ông, chớ không có gì lạ.

Vị Tăng nói: đúng thế, tức là đúng rồi, con biết rồi!

Ngài bảo:

Cười ngất kẻ gom mây dưới đảnh,
Bốn bề nuốt lấy hòn sắt tròn.

Nghĩa là có kẻ ngu thấy mây phủ ở sườn núi, toan tính lên đó gom lại dồn vào bao đem về, nên cười ngất kẻ gom mây dưới đảnh. Như vậy ông sẽ không khỏi bị nuốt hòn sắt nóng ở địa ngục. Nói rằng đúng là xem như ông thấy, nhưng sự thật là chưa thấy gì, ông là kẻ ngớ ngẩn chưa được cái gì. Tuy nghe chê, nhưng ôngTăng vẫn lễ bái lui ra.

Như thế Ngài giải rõ ba thân: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân, giải rất là rõ nhưng rất là khó hiểu.

(1) Thiền sư Chí Cần ở Linh Vân, Phước Châu. Sư quê tại Trường Khê, Bổn Châu. Ban đầu ở chỗ ngài Qui Sơn, nhân thấy hoa đào ngộ đạo, Sư có làm kệ:

Tam thập niên lai tầm kiếm khách,
Kỷ hồi lạc diệp hựu sưu chi.
Tự tùng nhất kiến đào hoa hậu.
Trực chí như kim cánh bất nghi.

Tạm dịch:

Ba chục năm qua tầm kiếm khách,
Bao lần lá rụng với cành trơ.
Từ khi được thấy hoa đào nở,
Mãi đến ngày nay chẳng chút ngờ.

(Ngũ Đăng Hội Nguyên Tiết Dẫn)

(2) Chá cô ban: tên một thứ hương. Trong quyển Danh Hương Phổ nói: “Hương Chá cô ban sản xuất ở Nhật Nam, giống như nhũ hương.” Thơ Hoàng Đình Kiên có câu: “Loa giáp cát Côn lôn nhĩ, Hương tài tiếu chá cô ban.” (Từ Hải)

Côn lôn:

1. Mạch núi lớn nhất ở Trung Hoa, bắt đầu từ Thông Lãnh nơi cao nguyên Mạt mễ nhĩ chạy qua địa phận biên giới Tây Tạng, Tân Cương vào nội địa Trung Hoa.

2. Một ngọn núi ở Đông Bắc huyện Ung Ninh, Quảng Tây, trên đó có ải Côn Lôn, là nơi Địch Thanh nhà Tống phá Nùng Trí Cao. Theo Việt Nam Địa Dư Đồ Thuyết thì núi này chạy dài từ phía Nam Quảng Tây vào An Nam.

3. Tên một chủng tộc xưa. Theo truyện Nam Loan, Cựu Đường Thư nói: “Từ Lâm Ấp về phía Nam đều thân đen, tóc quăn, gọi chung là Côn Lôn.” Và ngày xưa cũng dùng để dụ cho những người thân thể đen đúa. Truyện Lý Thái Hậu trong Tấn Thư nói: “Hậu là cung nhân trong phường dệt, cao mà đen, cung nhân bảo là Côn Lôn.” Và truyện Mộ Dung Ngạn Siêu trong Ngũ Đại Sử nói: “Ngạn Siêu sắc đen, râu hồ, hiệu là Diêm Côn Lôn.” (Từ Hải)

Mục Lục
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Danh sách chương: