Thiền Tông Việt Nam
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Sơ tổ phái Trúc Lâm TRẦN NHÂN TÔNG - CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ (Hội 3 - 4)

HỘI THỨ BA

Nếu mà cốc,

Tội ắt đã không;

Phép học lại thông.

Gìn tánh sáng, mựa lạc tà đạo;

Sửa mình học, cho phải chánh tông.

Chỉn Bụt là lòng, xá ướm hỏi đòi cơ Mã Tổ;

Vong tài đối sắc, ắt tìm cho phải thói Bàng công.

Áng tư tài tánh sáng chẳng tham, há vì ở Cánh Diều Yên Tử;

Răn thanh sắc niềm dừng chẳng chuyển, lọ chi ngồi am Sạn non Đông.

Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc;

Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả đồ công.

Nguyền mong thân cận minh sư, quả bồ-đề một đêm mà chín;

Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa ưu-đàm mấy kiếp đơm bông.

GIẢNG:

Nếu mà cốc,
Tội ắt đã không;
Phép học lại thông.

“Cốc” là biết, “nếu mà cốc” nghĩa là nếu mà biết. Nếu mà biết được như trên thì tội ắt đã không, việc học việc tu lại thông suốt.

Gìn tánh sáng, mựa lạc tà đạo;
Sửa mình học, cho phải chánh tông.

“Gìn” là giữ, “mựa” là chớ. Gìn tánh sáng chớ để lạc vào tà đạo. Chúng ta tu theo Phật giáo cốt lấy Tánh giác làm trọng tâm, cho nên phải giữ gìn Tánh giác, chớ để rơi vào tà đạo. Hiện nay người tu theo Phật bị lạc vào tà đạo rất nhiều. Tuy họ tu rất công phu, nhưng chỉ mong được phép thần thông, được quả báo tốt, chớ không biết xoay lại Tánh giác, không biết tu Phật cốt để giác ngộ. Tu là dẹp sạch tham sân si cho Tánh giác của mình hiện bày, đó là gốc của đạo Phật.

Sửa mình học, cho phải chánh tông. Chúng ta tu học thế nào cho đúng chánh tông của đạo Phật, đừng để sai lệch. Đạo Phật là đạo giác ngộ nên phải lấy giác ngộ làm gốc, làm chủ yếu, mà lấy giác ngộ làm chủ yếu thì đâu cần có thần thông hay huyền bí. Sở dĩ chúng ta tu lệch lạc sai lầm vì cứ mong cầu những gì không đúng gốc của đạo Phật. Chính đức Phật đi tu được thành Phật cũng do nơi giác ngộ. Đức Phật là vị Giáo chủ, là thầy của chúng ta. Ngài tu được giác ngộ thành Phật, thì ngày nay chúng ta tu phải lấy giác ngộ làm chủ đích. Như vậy mới theo đúng con đường chân chánh của người tu Phật, đó mới là chánh tông.

Chỉn Bụt là lòng, xá ướm hỏi đòi cơ Mã Tổ;
Vong tài đối sắc, ắt tìm cho phải thói Bàng công.

Chỉn Bụt là lòng. Chữ chỉn là chỉ, Bụt là Phật, lòng là tâm. Nghĩa là chỉ Phật là tâm, Phật tức tâm. Thế kỷ thứ 13, ở nước ta gọi Phật là Bụt. Bây giờ mình gọi Phật là Phật. Như vậy bây giờ gọi trúng hay thuở trước gọi trúng? Muốn biết rõ điều này, chúng ta hãy lùi lại lịch sử Phật giáo nước ta thuở trước.

Khi xưa các nhà sư Ấn Độ theo thuyền buôn vào Việt Nam và truyền bá đạo Phật ở vùng Luy Lâu. Các Sư người Ấn gọi Phật là Buddha. Chữ “Bud” là giác, chữ “dha” là người, nếu đọc theo âm Trung Quốc là Phật-đà. Chữ Bụt với chữ “Bud” rất gần, nên Tổ tiên ta đọc trại chữ “Bud” thành ra Bụt. Còn “dha” là người, nhưng vì để tỏ lòng tôn kính, ta không gọi người mà gọi ông. Vì vậy người Việt Nam xưa gọi Phật là ông Bụt. Sau này ảnh hưởng theo âm Phật-đà của Trung Quốc, nhất là từ đời Minh về sau, người Hán đem kinh tạng từ Trung Hoa sang Việt Nam truyền bá, nên chúng ta phát âm theo tiếng Hán là Phật. Hiểu rõ như vậy nên biết gọi Bụt hay Phật là do ảnh hưởng ngôn ngữ của Ấn Độ hoặc Trung Hoa, tùy theo từng thời kỳ khác nhau mà ra, chớ không ai sai cả.

Xá ướm hỏi đòi cơ Mã Tổ. Chữ “xá” là đâu cần, “ướm hỏi” cũng như gạn hỏi. Ngày xưa Mã Tổ chủ trương “tức tâm tức Phật”, Thiền sư Pháp Thường nhận được yếu chỉ này rồi về núi Đại Mai tu. Sau Mã Tổ cho người lên xem thử, hỏi: Ngài về núi đến nay đã tu hành thế nào? Ngài Pháp Thường đáp: Tôi từ khi được Mã Tổ chỉ dạy “tức tâm tức Phật”, đến nay cũng chỉ thế ấy mà thôi. Vị khách bảo: Ngày nay Mã Tổ không còn nói “tức tâm tức Phật” nữa, mà Ngài nói “phi tâm phi Phật”. Thiền sư Pháp Thường bảo: Mặc cho ông già “phi tâm phi Phật”, tôi chỉ biết “tức tâm tức Phật” thôi. Vị khách trở về thưa lại với Mã Tổ việc trên. Tổ nhóm chúng tuyên bố: Trái mai đã chín. Nghĩa là xác nhận lòng tin của Thiền sư Pháp Thường đã kiên cố, công phu đã chín, rõ biết “tức tâm tức Phật”.

Thế nên nếu chúng ta nhận ra được “tức tâm tức Phật” rồi thì cần gì tìm hỏi Mã Tổ nữa. Bởi mục đích của Tổ là dạy cho chúng ta điều đó, nay mình đã nhận rõ yếu chỉ ấy rồi thì hỏi Mã Tổ là dư.

Vong tài đối sắc. Chữ “vong tài” là quên hết tiền bạc, của cải, “đối sắc” là đối với tất cả hình tướng bên ngoài. Ắt tìm cho phải thói Bàng công. Chữ “thói” là lề lối. Ắt phải quyết tìm cho đúng con đường của Bàng Long Uẩn. Ông Bàng Long Uẩn là một nhà Nho, trước làm quan thuộc hàng khá giả. Sau khi ngộ được lý Phật, ông chở hết tiền bạc của cải đổ xuống sông Tương. Từ đó gia đình ông sống cuộc đời đạm bạc. Ông đan sáo, bà trông coi nhà cửa, con trai đi cày ruộng, còn người con gái là cô Linh Chiếu đi bán sáo. Như vậy Ngài dạy chúng ta đối với tiền bạc của cải đừng có ham mê, phải quên đi và phải học theo gương, theo tư cách của ông Bàng Long Uẩn.

Áng tư tài tánh sáng chẳng tham, há vì ở Cánh Diều Yên Tử;

Răn thanh sắc niềm dừng chẳng chuyển, lọ chi ngồi am Sạn non Đông.

Chữ “áng” có nghĩa là đám hay nhóm, “tư tài” là tiền của. Đối với nhóm tiền của, tánh sáng chúng ta không tham đắm. Tánh sáng không tham đắm tiền của thì đâu cần ở Cánh Diều Yên Tử. Cánh Diều Yên Tử tức là trên dãy Yên Tử có một ngọn núi tên Cánh Diều. Nếu đối với tiền bạc của cải, lòng chúng ta không một chút tham đắm, dính mắc, thì đâu cần phải lên tận trên núi Yên Tử chi cho xa, ngay ở thành thị tu cũng được như thường.

Chữ “thanh” là tiếng, “sắc” là hình sắc, “chẳng chuyển” là không chạy theo. “Lọ chi” là cần gì, am Sạn non Đông là tên một am trên ngọn núi Yên Tử ở về phía Đông. Nghĩa là răn nhắc lòng mình không còn những niệm đuổi theo thanh sắc nữa, thì cần gì phải lên ở am Sạn non Đông.

Tóm lại, hai câu này Ngài muốn dạy cho chúng ta thấy rõ rằng người tu hành chân chánh phải giữ tâm mình trong sáng, không tham tiền bạc của cải, thì không cần phải lên ở Cánh Diều Yên Tử. Ngay đây mà tu, đừng để vọng tưởng chạy theo thanh sắc, thì khỏi cần phải tìm kiếm nơi thanh vắng yên ở, mà chúng ta vẫn được an ổn như thường.

Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc;
Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả đồ công.

Hai câu này thật là Ngài nói hết tình với chúng ta vậy. Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc. Nghĩa là ở ngay nơi trần tục này mà nên, mà tốt, thì phước ấy càng quí rất mực. Chữ “hết tấc” là rất mực. Nếu chúng ta ở ngay cõi trần tục này mà được hay được tốt, thì phước của mình đáng cho người ta yêu quí rất mực hay tột cùng.

Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả đồ công. “Chẳng cốc” là chẳng biết. Ở trên rừng trên núi mà chẳng biết, chẳng hiểu đạo lý, không thấy được lẽ thật, đó là họa chỉ làm uổng công của mình mà thôi. Chữ “đồ” là luống uổng. Ngài dạy thật rõ ràng, dù chúng ta thích tu ở nơi nào cũng phải quyết chí tu cho đúng, thì tuy ở trần tục cũng được người quí kính. Còn trốn chạy vào rừng núi nhưng không biết đúng lẽ thật thì chỉ là họa, uổng công vô ích mà thôi.

Tuy nhiên khi đã lên sơn lâm rồi cũng phải “thực cốc” là thực biết, được thế chẳng phải họa mà là phước, chẳng phải đồ công mà là kỳ công. Nếu chúng ta ở sơn lâm mà có được cái biết thật thì phước thật là lớn, công kỳ đặc chớ không phải thường. Cho nên chúng ta lên sơn lâm mà phải “thực cốc”, mới không uổng công mà trở thành kỳ công. Đây chủ yếu Ngài dạy chúng ta trọng tâm của sự tu là hiểu đúng, tu đúng, biết đúng, chớ không quan trọng ở chỗ nơi.

Nguyền mong thân cận minh sư, quả bồ-đề một đêm mà chín;

Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa ưu-đàm mấy kiếp đơm bông.

Hai câu này rất đẹp, mong sao cho mình được gần gũi với bậc minh sư, do gần với minh sư nên quả bồ-đề một đêm được chín. Như trường hợp ngài Nhất Túc Giác tức là ngài Huyền Giác chỉ qua một đêm mà được chín, tức được giác ngộ. Như vậy gần gũi được minh sư thì quả bồ-đề nhất định sẽ đến, sẽ có kết quả. 

Nếu chúng ta có phước, tình cờ gặp được hàng thiện tri thức thì hoa ưu-đàm của mình đơm bông. Hoa ưu-đàm là tiếng Phạn, Việt Nam tạm dịch là hoa sung. Hoa sung rất hiếm thấy, thấy được rất quí. Hoa ưu-đàm cũng ít thấy ít gặp. Vì vậy người nào có phước gặp thiện tri thức cũng giống như hoa ưu-đàm đã lâu không trổ bông, bây giờ mới đơm bông.

Hai câu này nói lên sự cần yếu của bậc minh sư, thiện hữu tri thức. Trên đường tu nếu không có minh sư, không có thiện hữu tri thức, thì sự tu hành của chúng ta chỉ tốn công mà không đi đến đâu hết.

HỘI THỨ TƯ

Tin xem;

Miễn cốc một lòng;

Thì rồi mọi hoặc.

Chuyển tam độc mới chứng tam thân;

Đoạn lục căn nên trừ lục tặc.

Tìm đường hoán cốt, chỉn xá năng phục dược luyện đan;

Hỏi phép chân không, hề chi lánh ngại thanh chấp sắc.

Biết Chân như, tin Bát-nhã, chớ còn tìm Phật Tổ Tây Đông;

Chứng thật tướng, ngỏ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc.

Xem Tam tạng giáo, ắt học đòi Thiền uyển thanh qui;

Đốt ngũ phần hương, chẳng tốn đến chiên-đàn chiêm-bặc.

Tích nhân nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích-ca;

Cầm giới hạnh, đoạn ghen tham, chỉn thật ấy là Di-lặc.

GIẢNG:

“Tin xem” là câu mở đầu của hội.

Miễn cốc một lòng,
Thì rồi mọi hoặc
.

Chữ “một lòng” là nhất tâm. Cốt biết một lòng, thì rảnh hết mọi phiền lụy, mọi mê hoặc. Nghĩa là chỉ khi nhận được một tâm thì dứt hết mọi mê lầm. Hai câu này thật chí lý, nhắc cho chúng ta hiểu người tu phải làm sao ngộ được Bản tâm thì tất cả mọi thứ mê hoặc mới hết. Nếu không ngộ Bản tâm thì mê hoặc không bao giờ hết. Điều này nghe thật đơn giản, nhưng nếu chúng ta không thể nghiệm, không sống được thì không giản đơn đâu.

Như bây giờ ta thử ngồi một mình trên băng đá nhìn rừng thông chừng năm phút, mà tâm không dấy niệm chạy theo người theo cảnh, lúc đó mình tỉnh sáng hay mê lầm? Hoàn toàn tỉnh sáng, không một tí mê lầm. Như vậy một phút một giờ ta không có niệm chạy theo cảnh theo người tức là được nhất tâm, thì mọi mê lầm hết. Mỗi ngày được vài tiếng nhất tâm thì nghiệp của chúng ta đã thưa giảm nhiều rồi. Cho nên tu thiền đâu có nhọc nhằn gì, trái lại còn nhẹ nhàng đơn giản nữa. Suốt ngày chúng ta không dấy niệm, kêu ăn cơm thì ăn cơm, kêu tụng kinh thì tụng kinh, kêu tọa thiền thì tọa thiền, ngày đó có phiền não không? Không có phiền não. Nên câu “miễn được một lòng, thì rồi mọi hoặc” vô cùng chí lý.

Chuyển tam độc mới chứng tam thân,
Đoạn lục căn nên trừ lục tặc.

Chúng ta phải chuyển tam độc mới chứng được tam thân. Tam độc là gì? Là tham, sân, si. Ba thứ này là nhân dẫn chúng ta đi trong lục đạo luân hồi, nhất là trong ba ác đạo: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Các cảnh khổ đó từ tam độc mà ra, vì vậy nên nói ba thứ này là ba thứ độc, nhưng người thế gian không biết nó tối độc.

Như khi nghe ai nói một lời trái tai, chúng ta nổi sân đỏ mặt lên, quơ chân múa tay, đó là nhân xuống địa ngục. Đã nổi giận là không tốt rồi, lại còn phân bua với người khác chuyện đáng giận như vậy nên tôi mới giận. Đó là lối bênh vực để nuôi dưỡng cái giận, tức nuôi dưỡng nhân đọa địa ngục. Chúng ta biết tu, dù có bị ai chửi mắng cũng không giận, vì giận là nhân xuống địa ngục, còn bị chửi mắng, đâu có xuống địa ngục. Nên nhớ lời chửi mắng không quan trọng, vì là lời nói rỗng, qua rồi mất, còn sân giận mới đưa mình đến đường khổ.

Chúng ta thấy ba thứ độc tham, sân, si chính từ nội tâm dấy khởi, rồi dẫn chúng ta chìm đắm trong các đường dữ địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Bây giờ biết tu, chúng ta phải làm sao? Phải chuyển ba độc mới chứng được ba thân. Từ ba cái hiểm nguy đi vào ba đường ác, chúng ta chuyển lại thành ba thứ tốt đẹp, được ba thân Phật làm lợi ích cho chúng sanh.

Ba thân là Pháp thân, Báo thân và Hoá thân. Pháp thân là thân bất sanh bất diệt, không có tướng mạo. Báo thân là thân có tướng mạo tùy theo nghiệp của mỗi người. Hoá thân là thân khi ta chứng đạo, tùy duyên ứng hoá; còn chưa chứng đạo thì theo vọng tưởng sanh diệt đau khổ. Với Bồ-tát, Hoá thân tùy duyên ứng hiện cứu độ chúng sanh, với phàm phu Hoá thân tùy theo nghiệp mà lưu chú trong các đường. Vậy Pháp thân là gốc, Báo thân là theo nghiệp, Hoá thân là tùy duyên.

Đoạn lục căn nên trừ lục tặc. Lục căn với lục tặc khác nhau như thế nào? Lục căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Lục tặc cũng là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, chớ không thêm gì khác. Tại sao gọi lục tặc, lục căn? Nếu mắt, tai… thấy sắc nghe tiếng liền đuổi theo sắc tiếng, thì gọi là lục tặc, còn không đuổi theo là lục căn, hay hơn nữa được hoàn toàn thanh tịnh thì gọi là lục thông.

Chữ đoạn là dứt. Làm sao dứt lục căn? Chúng ta đừng hiểu lầm, chữ đoạn lục căn không có nghĩa làm hỏng các căn, như tự dụi mắt cho mù, móc tai cho điếc v.v… mà sáu căn đừng cho dính với sáu trần. Nghĩa là nơi mắt đối với sắc, tai đối với thanh, mũi đối với hương, lưỡi đối với vị, thân đối với xúc, ý đối với pháp không cho hai bên dính kẹt nhau, có dính nhau thì dừng lại. Đó là đoạn, chớ không phải đoạn là phá hoại sáu căn.

Nói thì dễ, nhưng trên thực tế chúng ta cứ bị dính mắc. Tỉ dụ mắt thấy sắc đẹp thì dính, bởi dính nên khi về nhà hoặc ngồi chỗ vắng thì nó hiện ra. Tai nghe người nói lời khen hay tiếng chê mình, câu nói từ miệng người phát ra, đã bay đâu mất nhưng lỗ tai mình lại dính, trong tâm cũng dính nên nghe mà chưa trả lời được, về nhà ngồi đứng không yên, cứ bực bội tức tối mãi, đó là đã dính. Còn nếu họ nói gì mặc họ, mình vẫn thản nhiên tươi cười thì đâu có dính. Như vậy sự việc hết sức giản đơn, nghĩa là chúng ta chỉ cần buông đừng cho nó dính thì mọi việc an lành, mà buông tức là đoạn. Đó là điều mà chúng ta phải cố gắng sao cho sáu căn dứt trừ thì lục tặc tự trừ.

Lục tặc là sáu đứa giặc. Sáu đứa giặc là những gì? Cũng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, nhưng nếu sáu căn không dính với sáu trần, đó là lục thông. Ngược lại nó sẽ thành lục tặc. Vì vậy thế gian thường nói “tam bành lục tặc”. Chữ tam bành trong nhà Phật gọi là tam độc, lục tặc là sáu đứa giặc. Nghĩa là nghe người ta nói điều gì mà mình dính mắc là bị lục tặc lôi, còn không dính, không kẹt là mình đã được lục thông rồi, chớ đừng đòi thần thông chi nữa. Như vậy quí vị thấy lục thông với lục tặc cách nhau bao xa? Chỉ một mảy tơ thôi, nếu để dính thì thành lục tặc, không dính trở thành lục thông. Vì vậy việc tu rất đơn giản, không quanh co nhiêu khê gì cả. Chỉ cần không cho dính mắc thì mọi việc được an nhàn, tự tại. Chúng ta cốt làm sao chuyển tam độc, đoạn lục căn, trừ lục tặc, đó là gốc của sự tu.

Tìm đường hoán cốt, chỉn xá năng phục dược luyện đan;

Hỏi phép chân không, hề chi lánh ngại thanh chấp sắc.

Người thích tu tiên, muốn đổi xương cho nhẹ để dễ bay, thì “chỉn xá” là chỉ nên hay uống thuốc và luyện đơn, tức là uống linh dược và luyện linh đơn để đổi xương, để biết bay. Còn người muốn đạt được pháp chân không, thì “hề chi lánh” nghĩa là không ngại, không chấp chi hết. Như vậy muốn đạt được lý chân không thì không cần gì phải lánh thanh ngại sắc, vì nó tạm bợ hư giả bên ngoài, còn thể chân không mới là cái bất sanh bất diệt nơi mình.

Như vậy trong hai câu này, câu trên dành cho người muốn tu tiên phải chịu khó uống thuốc trường sanh và luyện linh đơn. Câu dưới chỉ cho người tu Phật muốn đạt được lý chân không, đối với thanh sắc đừng kẹt, đừng dính thì thể chân không tự hiện bày.

Biết chân như, tin Bát-nhã, chớ còn tìm Phật Tổ Tây Đông;

Chứng thật tướng, ngỏ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc.

Biết Chân như là người tu phải nhận ra cái gì là Chân như. Tin Bát-nhã là phải thấu lý Bát-nhã. Chớ còn tìm Phật Tổ Tây Đông, nghĩa là không cần sang Tây Trúc hay đến Đông Độ để tìm Phật Tổ, mà chúng ta phải nhận ra Chân như, thấu suốt được lý Bát-nhã.

Chứng thật tướng là chứng được tướng chân thật của chính mình. Ngỏ tức là suốt, là thấy rõ lý vô vi. Khi thấy rõ lý vô vi thì không còn nhọc gì hỏi đến kinh thiền Nam tông, Bắc tông chi cả. Chữ Nam, Bắc theo Trung Hoa thì phương Bắc là ngài Thần Tú và phương Nam là Tổ Huệ Năng. Chủ yếu chúng ta chứng được thật tướng, thông suốt lý vô vi chớ không cần hỏi thiền Nam tông hay thiền Bắc tông chi nữa.

Xem Tam tạng giáo, ắt học đòi Thiền uyển Thanh qui;

Đốt ngũ phần hương, chẳng tốn đến chiên-đàn chiêm-bặc.

Chúng ta phải xem Tam tạng giáo, “giáo” là kinh điển, phải học theo những Thiền uyển Thanh qui để biết nếp sống hợp với giáo lý.

Đốt ngũ phần hương là đốt năm phần pháp thân hương. Ngũ phần hương là: giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến hương. Chúng ta tu phải luôn giữ giới cho được trong sạch, đó là giới hương. Phải làm sao cho tâm an định, đó là định hương. Phải mở sáng trí tuệ, đó là tuệ hương. Phải được giải thoát, đó là giải thoát hương và phải thoát luôn những cố chấp tế nhị của mình nữa, đó là giải thoát tri kiến hương. Được năm điều đó đủ cúng dường Phật Tổ, khỏi phải mua hương chiên-đàn hay chiêm-bặc.

Chúng ta tu đừng nặng về hình thức mà phải chú trọng đạo lý. Đạo lý tốt là thượng phẩm dâng lên cúng dường chư Phật, quí hơn hết. Đạo lý không tốt, dù dâng bao nhiêu của báu ở thế gian, Phật cũng không vui. Vì vậy ở đây Tổ dạy chúng ta dùng ngũ phần pháp thân hương sẵn có nơi mình dâng cúng cho Phật là tốt nhất.

Tích nhân nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích-ca;

Cầm giới hạnh, đoạn ghen tham, chỉn thật ấy là Di-lặc.

Chữ “tích” là chứa, “nghì” là nghĩa.  Nếu người tu biết chứa đầy nhân nghĩa, tu đạo đức là tích công lũy đức, khởi tâm từ bi làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, người này chính là đức Thích-ca chớ không ai khác. Như vậy ngay trong đời này, chúng ta biết chứa nhóm tâm từ bi và làm lợi ích chúng sanh tức làm lợi ích đầy đủ cho mọi người thì chẳng khác nào Phật Thích-ca.

Cầm giới hạnh: Cầm là gìn giữ, giữ được giới hạnh. Đoạn ghen tham: Ghen là tật đố, tham là tham lam. Đoạn dứt tâm tật đố, tâm tham lam, đó chính là đức Di-lặc. Chúng ta nhớ đức Phật Di-lặc buồn hay vui? Ngài luôn luôn vui, bởi Ngài đã tu “Tứ vô lượng tâm”: từ, bi, hỉ, xả. Có ai chọc ghẹo Ngài đều tha thứ. Ngài luôn thương yêu và giúp đỡ mọi người nên hạnh từ bi hỉ xả tràn đầy nơi Ngài, vì vậy lúc nào Ngài cũng cười, cũng vui. Còn chúng ta không cười vui được, vì chúng ta hay tật đố, tham lam. Bởi tham lam tật đố nên thấy ai hơn mình thì tức, đó là tật đố.

Song ở thế gian này, chúng ta muốn cho mọi người đừng hơn mình có được không? Trong năm, bảy người đã có năm, ba người hơn mình, vì vậy mình có tâm tật đố thì lúc nào cũng bực bội, không bao giờ hài lòng. Thấy ai hơn mình thì mình không vui, thấy ai được người khác khen mà mình không được khen thì tức, thấy ai được thiên hạ thương mà mình không được thương thì buồn phiền v.v… Như vậy cả ngày chúng ta phải khổ. Dứt được tâm tật đố, tâm tham lam thì còn gì mà khổ. Nếu biết ứng dụng đúng như vậy chúng ta sẽ là Phật Thích-ca, Phật Di-lặc chớ không đâu xa.

Tóm lại, học qua hội này, chúng ta thấy vua Nhân Tông khi đã ngộ đạo, dù ở địa vị giàu sang, ở ngôi Hoàng đế nhưng tâm hồn Ngài rất trong sáng, không bị nhiễm nhơ, rất đáng cho chúng ta tôn quí.

Mục Lục
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Danh sách chương: