Thiền Tông Việt Nam
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Sơ tổ phái Trúc Lâm TRẦN NHÂN TÔNG - Tham Vấn

Mở đầu pháp hội, Ngài niêm hương báo ân xong bước lên tòa. Vị Thượng thủ bạch chùy v.v… rồi Ngài nói:

- Thích-ca Văn Phật vì một đại sự mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt bốn mươi chín năm chuyển động đôi môi mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ngươi lên ngồi tòa này, biết nói chuyện gì đây?

Ngồi giây lâu, Ngài ngâm:

ÂM:

Thân như hô hấp tỹ trung khí,
Thế tợ phong hành lãnh ngoại vân.
Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú,
Bất thị tầm thường không quá xuân.

DỊCH:

Thân như hơi thở ra vào mũi,
Đời giống mây trôi đỉnh núi xa.
Tiếng quyên từng chập vầng trăng sáng,
Đâu phải tầm thường qua một xuân.

Ngài vỗ bàn một cái nói:

- Không có gì sao? Ra đây, ra đây!

*

Có vị Tăng hỏi:

- Thế nào là Phật?

Ngài đáp:

- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.

- Thế nào là pháp?

- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.

- Thế nào là Tăng?

- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.

- Cứu kính thế nào?

Đáp:

Chữ bát đã bày trao hết sạch,
Đâu còn có việc nói cùng ngươi.

(Bát tự đả khai phân phó liễu
Cánh vô dư sự khả trình quân.)

Lại hỏi:

- Thế nào là một việc hướng thượng?

Ngài đáp:

- Đầu gậy khêu nhật nguyệt.

- Dùng công án cũ làm gì?

- Một lần nhắc lại một lần mới.

- Thế nào là giáo ngoại biệt truyền?

- Ễnh ương nhảy không khỏi đấu.

- Sau khi ra khỏi đấu thì thế nào?

- Lại theo con ếch nhảy xuống bùn.

- Vẫn là nhảy chẳng khỏi.

Ngài bèn lớn tiếng nạt:

- Kẻ mù! Thấy cái gì?

- Đại tôn đức lừa người làm gì?

Ngài liền “hừ, hừ”.

Vị Tăng suy nghĩ.

Ngài liền đánh. Vị Tăng lại suy nghĩ để hỏi.

Ngài liền hét. Vị Tăng cũng hét.

Ngài hỏi:

- Lão tăng bị một cái hét, hai cái hét của ngươi, rốt cuộc thế nào? Nói mau! Nói mau!

Vị Tăng suy nghĩ.

Ngài lại hét một tiếng, nói:

- Con chồn hoang quỉ quái! Vừa rồi tinh lanh, giờ ở chỗ nào?

Vị Tăng lễ bái lui ra.

*

Tăng hỏi:

- Đại tôn đức khổ nhọc tu hành, đã trải qua nhiều năm, đối với sáu thông của Phật, Ngài đã được mấy thông?

Ngài đáp:

- Cũng được sáu thông.

- Năm thông kia gác qua, thế nào là tha tâm thông?

- Đầy cả quốc độ, có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết, Như Lai đều thấy.

Vị Tăng liền đưa nắm tay lên nói:

- Đã biết hết thấy hết, vậy biết cái này có vật gì?

Ngài đáp:

- Như có như không, chẳng phải không chẳng phải sắc.

- Xưa Tăng hỏi Hòa thượng Lang Gia: “Thanh tịnh bản nhiên, vì sao chợt sanh sơn hà đại địa?” Ý chỉ thế nào?

- Thật giống thuyền chài ra biển.

- Ý này thế nào?

- Ai biết nơi chốn khói sóng xa khơi kia, riêng có chỗ nên suy nghĩ.

*

Hỏi:

- Thế nào là gia phong Phật quá khứ?

Đáp:

Vườn rừng vắng vẻ ai xem sóc
Lý trắng đào hồng hoa tự nhiên.

(Viên lâm tịch mịch vô nhân quàn,
Lý bạch đào hồng tự tại hoa.)

Hỏi:

- Thế nào là gia phong Phật hiện tại?

Đáp:

Gia phong sóng bạc mê yến sớm
Tiên uyển đào hồng say gió xuân.

(Bạch thùy gia phong mê hiểu yên,
Hồng đào tiên uyển túy xuân phong.)

Hỏi:

- Thế nào là gia phong Phật vị lai?

Đáp:

Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt
Xóm chài nghe sáo khách nhớ nhà.

(Hải phố đãi triền thiên dục nguyệt,
Ngư thôn văn địch khách tư gia.)

Hỏi:

- Gia phong Hòa thượng thế nào?

Đáp:

Áo rách che mây, sáng ăn cháo
Bình xưa tưới nguyệt, tối uống trà.

(Phá nạp ủng vân triêu khiết chúc,
Cổ bình tả nguyệt dạ tiên trà.)

Lại hỏi:

- Ngài Linh Vân khi xem hoa đào ngộ thì thế nào?

Đáp:

Tự nở tự tàn theo thời tiết
Đông quân bị hỏi cũng khôn lời.

Hỏi:

- Khi giết người không nhìn lại thì sao?

Đáp:

- Gan dạ cùng mình.

Hỏi:

- Người đại tu hành lại rơi vào nhân quả hay không?

Đáp:

Miệng dường chậu máu chê Phật Tổ,
Răng như kiếm bén gặm rừng thiền.
Một mai chết đọa A-tì ngục,
Cười ngất Nam-mô Quán Thế Âm.

(Khẩu tợ huyết bồn ha Phật tổ,
Nha như kiếm thọ chủy Thiền lâm.
Nhất triêu tử nhập A-tì ngục,
Tiếu sát Nam-mô Quán Thế Âm.)

Hỏi:

Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết
Trên cây oanh đậu một cành hoa,

thì thế nào?

Đáp:

- Lầm!

Hỏi:

- Theo Đại tôn đức thì thế nào?

Đáp:

Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết
Trên cây oanh đậu một cành hoa.

Tăng nói:

- Đó là câu nói của tôi.

Đáp:

Muốn biết thần tiên lò luyện thuốc
Linh đơn vốn thiệt tử châu sa.

Hỏi:

- Thế nào là Thanh tịnh pháp thân?

Đáp:

Đục vàng rơi trong phân sư tử
Người đen đúa vác bó hương thơm.

Tăng thưa:

- Học nhân không hiểu.

Đáp:

Chớ học thói hồ đồ trả giá
Cười người chân thật dối lầm nhau.

Hỏi:

- Thế nào là Viên mãn báo thân?

Đáp:

Cánh bằng bay bổng dừng cơn gió
Ly châu lắng lạnh biển trong ngần.

Vị Tăng lễ bái.

Ngài bảo:

Nguyên lai đầy đủ nhiều công dụng
Bởi chú quàng xiên chẳng được thành.

Hỏi:

- Thế nào là Thiên bách ức hóa thân?

Đáp:

Mây dồn sương phủ trời mù mịt
Tấc nước như xưa trước đỉnh đầu.

Tăng nói:

- Đúng thế.

Ngài bảo:

Cười ngất kẻ gom mây dưới đảnh
Bốn bề nuốt lấy hòn sắt tròn.

Vị Tăng lễ bái lui ra.

*

Pháp Loa hỏi:

- Nói huyền nói diệu, luận cổ bàn kim, đều thuộc thứ nói đùa, một câu không kẹt trong ngôn ngữ làm sao nói được?

Ngài đáp:

Gió đông dìu dịu ngàn hoa nở
Lách cách vành xe một tiếng vang.

Pháp Loa toan mở miệng nói, Ngài liền bảo:

Chim hót máu tuôn vẫn vô dụng
Non tây như trước phủ mây chiều.

Pháp Loa: Khi muôn dặm mây tạnh thì thế nào?

Ngài: Mưa tầm tã.

Hỏi:

- Khi muôn dặm mây che kín thì thế nào?

Đáp:

- Trăng vằng vặc.

- Cứu kính thế nào?

- Chớ động đến, động đến ăn ba mươi gậy.

- Thế nào là Bản lai diện mục?

Ngài im lặng giây lâu hỏi:

- Hiểu chăng?

Đáp:

- Chẳng hiểu.

Ngài liền đánh.

Pháp Loa hỏi: Thế nào là ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp?

Ngài đáp:

Nếu dùng sắc thấy ta,
Dùng âm thanh cầu ta,
Người ấy hành đạo tà,
Không thể thấy Như Lai.

Pháp Loa: Thế nào là Phật?

Ngài đáp: Tấm cám ở dưới cối.

- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn sang?

- Bánh vẽ.

- Thế nào là đại ý Phật pháp?

- Cùng hầm, đất không khác.

- Xưa có vị Tăng hỏi Triệu Châu “con chó có Phật tánh không”, Triệu Châu nói “không”, ý chỉ thế nào?

Đáp:

Chất muối ở trong nước
Keo xanh ở trong sắc.

Hỏi:

- Hữu cú vô cú như bìm leo cây, khi ấy thế nào?

Ngài bèn nói kệ:

Hữu cú vô cú
Đằng khô thọ đảo
Cơ cá nạp tăng
Chàng đầu khái não.

Hữu cú vô cú
Thể lộ kim phong
Hằng hà sa số
Phạm nhẫn thương phong.

Hữu cú vô cú
Lập tông lập chỉ
Đả ngõa toản qui
Đăng sơn thiệp thủy.

Hữu cú vô cú
Phi hữu phi vô
Khắc chu cầu kiếm
Sách ký án đồ.

Hữu cú vô cú
Hỗ bất hồi hỗ
Lạp tuyết hài hoa
Thủ chu đãi thố.

Hữu cú vô cú
Tự cổ tự kim
Chấp chỉ vong nguyệt
Bình địa lục trầm.

Hữu cú vô cú
Như thị như thị
Bát tự đả khai
Toàn vô bả tỹ.

Hữu cú vô cú
Cố tả cố hữu
A thích thích địa
Náo quát quát địa.

Hữu cú vô cú
Đao đao phạ phạ
Tiệt đoạn cát đằng
Bỉ thử khoái hoạt.

DỊCH:

Hữu cú vô cú
Bìm khô cây ngã
Mấy kẻ nạp tăng
U đầu sứt trán.

Hữu cú vô cú
Thể lộ gió thu
Hằng hà sa số
Va đao chạm bén.

Hữu cú vô cú
Lập tông lập chỉ
Đập ngói dùi rùa
Trèo non lội nước.

Hữu cú vô cú
Chẳng có chẳng không
Khắc thuyền tìm kiếm
Tìm ngựa cứ hình (bản đồ).

Hữu cú vô cú
Hồi hỗ, hay không
Nón tuyết giày hoa
Ôm cây đợi thỏ.

Hữu cú vô cú
Tự xưa tự nay
Chấp tay quên trăng
Đất bằng chết chìm.

Hữu cú vô cú
Như thế như thế
Chữ bát mở ra
Sao không nắm mũi?

Hữu cú vô cú
Ngó tả ngó hữu
Lau chau mồm mép
Ồn ào náo động.

Hữu cú vô cú
Đau đáu lo sợ
Cắt đứt sắn bìm
Đó đây vui thích.

Ngài bèn bước xuống tòa.

Mục Lục
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Danh sách chương: