Thiền Tông Việt Nam
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Tổ thứ ba phái Trúc Lâm THIỀN SƯ HUYỀN QUANG - THƠ PHÚ CÒN SÓT LẠI 2

ÂM:

THẠCH THẤT

Bán gian thạch thất hòa vân trụ,
Nhất lĩnh thuế y kinh tuế hàn.
Tăng tại thiền sàng kinh tại án,
Lô tàn cốt đột nhật tam can.

DỊCH:

THẤT ĐÁ

Nửa gian nhà đá lẫn trong mây,
Một mảnh áo lông trải tháng ngày.
Tăng ở trên giường, kinh tại án,
Lò hương tàn lụn, mặt trời lên.

GIẢNG:

Ở đây (Trúc Lâm) mai kia tôi sẽ đổi thành mộc thất, “bán gian mộc thất hòa vân trụ” phải không?

Nhất lĩnh thuế y kinh tuế hàn là một chiếc áo lông trải qua những năm tháng lạnh. Ngài thì áo lông, chúng ta thì áo len.

Tăng tại thiền sàng kinh tại án, Tăng đang ngồi trên giường thiền, quyển kinh ở trên bàn.

Lô tàn cốt đột nhật tam can là lò hương đốt đã tàn lụn, mặt trời lên đã ba sào. Tam can là ba sào.

Quí vị thấy bài thơ này đạo lý ở điểm nào?

Hai câu đầu diễn tả cảnh thất ở trên núi cao lạnh lẽo. Hai câu sau diễn tả Tăng ngồi trên giường thiền, kinh để trên bàn không ai mở ra. Kinh trên án, Tăng ngồi thiền, lò hương tàn, mặt trời lên, bốn thứ không dính gì nhau, tất cả đều ở trong tĩnh lặng. Như vậy cả thất mang một bầu không khí tịch tĩnh, an tịnh vô cùng. Vậy khi quí vị vào thất phải nhớ như thế, thứ nào ở chỗ ấy, đừng có lộn xộn. Đừng ngồi thiền một lát rồi nhìn xem nhang tàn chưa để biết mình ngồi hết giờ chưa, rồi nhìn bên ngoài xem mặt trời lên chưa để xả thiền. Còn Ngài thì mặt trời lên mặc mặt trời, nhang tàn mặc nhang, kinh mặc kinh, ngồi thiền cứ lặng lẽ. Đó là tâm trạng rất thanh tĩnh của người tu.

ÂM:

TẶNG SĨ ĐỒ TỬ ĐỆ

Phú quí phù vân trì vị đáo,
Quang âm lưu thủy cấp tương thôi.
Hà như tiểu ẩn lâm tuyền hạ,
Nhất tháp tùng phong, trà nhất bôi.

DỊCH:

TẶNG CON EM LÀM QUAN

Giàu sang mây nổi đến dần dà,
Ngày tháng trôi nhanh chẳng đợi mà.
Chi bằng tiểu ẩn nơi rừng suối,
Một giường gió mát, một chung trà.

GIẢNG:

Giàu sang mây nổi đến dần dà, phú quí công danh giống như mây nổi, hợp rồi tan, không có gì bền lâu vững chắc. Thế mà sự giàu sang đến rất chậm, lại khó tìm.

Ngày tháng trôi nhanh chẳng đợi mà. Nhưng tháng ngày lại trôi nhanh, nó không chờ đợi ai cả. Thời gian không đợi mà muốn thỏa mãn sự giàu sang thì thỏa mãn được không? Đó là hai điều để chỉ bao nhiêu danh vọng tài sắc trong cuộc đời chỉ là tạm bợ, mà người đời đuổi theo giành giật, trong khi đó năm tháng trôi qua nhanh mà không nhớ.

Chi bằng tiểu ẩn nơi rừng suối. Theo nhà nho, tiểu ẩn là về ẩn ở nơi vắng vẻ, còn đại ẩn là ẩn ở giữa thành thị. Về ẩn nơi rừng núi làm gì?

Một giường gió mát, một chung trà. Thật đẹp làm sao! Ngồi trên giường gió thổi mát rồi uống một chung trà là đủ. Cuộc đời thanh đạm và an lành làm sao! Đuổi theo đám mây nổi làm chi cho khổ. Đó là lời Ngài nhắc nhở những người còn hiếu danh hiếu lợi.

ÂM:

YÊN TỬ SƠN AM CƯ

Am bức thanh tiêu lãnh,
Môn khai vân thượng tầng.
Dĩ can Long Động nhật,
Do xích Hổ Khê băng,
Bảo chuyết vô dư sách,
Phù suy hữu sấu đằng.
Trúc Lâm đa túc điểu,
Quá bán bạn nhàn tăng.

DỊCH:

Ở AM YÊN TỬ

Cao ngất am lạnh lẽo,
Cửa mở tận từng mây.
Mặt trời soi Long Động,
Tuyết dầy che Hổ Khê.
Vụng về không mưu lược,
Nương gậy đỡ thân gầy.
Trúc Lâm nhiều chim ngủ,
Quá nửa bạn với thầy.

GIẢNG:

Đoạn đầu diễn tả am trên núi Yên Tử.

Cao ngất am lạnh lẽo, vì núi Yên Tử trên ngọn có tuyết phủ nên rất lạnh.

Cửa mở tận từng mây. Am như hiện ra tận trên mây, vì mây luôn luôn ấp núi.

Mặt trời soi Long Động. Mặt trời lên soi sáng Long Động, một động trên Yên Tử.

Tuyết dầy che Hổ Khê, Hổ Khê cũng là một cái khe ở núi Yên Tử.

Vụng về không mưu lược, người tu vụng về không có mưu lược gì cả.

Nương gậy đỡ thân gầy. Già rồi khi đi nhờ cây gậy đỡ tấm thân gầy.

Trúc Lâm nhiều chim ngủ, tối nào chim cũng bay về ngủ rất đông đảo.

Quá nửa bạn với thầy, hơn phân nửa số chim đều là bạn với thầy. Hai câu này thật là vui. Chẳng những cỏ cây không có riêng biệt với người mà cả chim chóc cũng không hai, không khác, đều là thân thích. Thế thì người tu đến khi tâm và cảnh vật đều không hai, đó là đến chỗ tâm rất thanh tĩnh, an lành.

ÂM:

NHÂN SỰ ĐỀ CỨU LAN TỰ

Đức bạc thường tàm kế Tổ đăng,
Không giao Hàn, Thập khởi oan tăng.
Tranh như trục bạn qui sơn khứ,
Điệp chướng trùng sơn vạn vạn tằng.

DỊCH:

NHÂN VIỆC ĐỀ CHÙA CỨU LAN

Đức mỏng thẹn mình nối Tổ đăng,
Luống cho Hàn, Thập dấy hờn căm.
Chi bằng theo bạn về non quách,
Núi chất chập chùng muôn vạn tầng.

GIẢNG:

Bài này nói về tâm tình Ngài sau khi ngài Pháp Loa tịch rồi giao Ngài chịu trách nhiệm điều khiển cả Giáo hội.

Đức mỏng thẹn mình nối Tổ đăng. Đức của mình kém nên hổ thẹn khi được trao cho trách nhiệm nối ngọn đèn Tổ.

Luống cho Hàn, Thập dấy hờn căm, luống làm cho Hàn Sơn, Thập Đắc nổi giận. Tại sao? Tôi thuật sơ lược sự tích Hàn Sơn, Thập Đắc. Đời Đường tại tỉnh Chiết Giang, huyện Thủy Phong, núi Thiên Thai, ở phía tây cách bốn mươi cây số có cái hang tối tại núi Hàn Nham, có một người không biết danh tánh tự xưng là Hàn Sơn, hoặc Hàn Sơn tử hoặc Bần tử. Ngài thường đi đến chùa Quốc Thanh, trong chùa có vị Tăng tên là Thập Đắc coi về việc dọn bàn cơm cho chư Tăng. Hai người kết bạn thân với nhau, Thập Đắc mót những thức ăn dư của chúng để vào trong thúng, Hàn Sơn đến thì hai vị cõng nhau đi chơi, ăn những thức ăn thừa đó. Thích sử Thai Châu là Lư Khâu Dận được Hòa thượng Phong Can giới thiệu hai vị Bồ-tát Văn-thù, Phổ Hiền là Hàn Sơn và Thập Đắc, nên đến chùa Quốc Thanh để lễ bái. Khi Lư Khâu Dận đến chùa Quốc Thanh hỏi, người ta mới dẫn hai ngài Hàn Sơn, Thập Đắc ra, Lư Khâu Dận lễ bái, hai vị liền nói “giặc, giặc!” rồi cõng nhau chạy mất.

Lại một sách khác ghi hơi khác một chút. Nguyên Thiền sư Phong Can có một cái thất trong khu chùa Quốc Thanh, ông thường ngao du nơi này nơi kia, có khi cỡi cọp đi về. Một hôm khi đi dạo ông gặp một đứa bé bị bỏ rơi ngoài đường, ông lượm đem về gởi chùa Quốc Thanh nuôi và đặt tên là Thập Đắc (Thập là lượm, Đắc là được). Đứa bé lần lần lớn lên, lo việc săn sóc cơm cháo cho chư Tăng và lượm những thức ăn thừa của chư Tăng gom lại ăn. Gặp Hàn Sơn, hai người kết bạn với nhau, khi cõng nhau chạy, khi kinh hành, khi nhìn trời mây chửi mắng om sòm, ăn thì ăn thức ăn thừa, mặc thì mặc y phục rách rưới, nên chư Tăng trong chùa cũng bực bội, cho hai vị là điên. Khi Hòa thượng Phong Can tịch, ông Lư Khâu Dận được bổ nhậm về đó. Ông đau nặng, thuốc thang điều trị không khỏi, một đêm ông nằm mộng thấy Hòa thượng Phong Can chỉ cho phương thuốc, ông dùng thuốc đó trị thì lành bệnh. Sau khi lành bệnh, ông cầu nguyện ngài Phong Can chỉ cho ông các vị Bồ-tát để ông đảnh lễ đền ơn. Ngài Phong Can bảo: Trong chùa Quốc Thanh có hai vị Hàn Sơn là Bồ-tát Văn-thù, Thập Đắc là Bồ-tát Phổ Hiền, hãy đến đó đảnh lễ. Khi ông tìm đến đảnh lễ hai Ngài, thì hai Ngài cõng nhau chạy vào núi.

Trong bài dẫn: Hàn, Thập khởi oan tăng, là e Hàn Sơn, Thập Đắc bực bội vì hai vị đều không ưa thích danh lợi, thế mà nay Ngài lãnh trách nhiệm này tức là kẹt trong danh lợi, e hai vị giận mình.

Chi bằng theo bạn về non quách là về núi ở luôn cho xong.

Núi chất chập chùng muôn vạn tầng.

Tóm lại đây là bài kệ tâm tình của ngài Huyền Quang khi Ngài tự thấy không đủ sức gánh vác việc lớn. Lúc ngài Pháp Loa tịch, ngài Huyền Quang đã bảy mươi bảy tuổi. Thấy mình quá già, không làm được việc gì nên Ngài trao trách nhiệm cho những người nhỏ, rồi trở về núi yên tu.

ÂM:

XUÂN NHẬT TỨC SỰ

Nhị bát giai nhân thích tú trì,
Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.
Khả liên vô hạn thương xuân ý, 
Tận tại đình châm bất ngữ thì.

DỊCH:

TỨC CẢNH NGÀY XUÂN

Thêu gấm thưa tay dáng mỹ nhân,
Líu lo oanh hót, khóm hoa gần.
Đáng thương vô hạn, thương xuân ý,
Chỉ tại dừng kim, chẳng mở lời.

GIẢNG:

Bài thơ này bị nhiều người phê bình là một Thiền sư lại làm bài thơ quá dồi dào tình cảm.

Nhị bát giai nhân thích tú trì. Nhị bát là hai lần tám tức là mười sáu. Cô gái đẹp mười sáu tuổi ngồi thêu nên nói thêu gấm thưa tay dáng mỹ nhân.

Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly. Hoàng ly là chim oanh. Tử kinh là hoa tử kinh. Líu lo oanh hót khóm hoa gần. Một mỹ nhân đang thêu gấm, ngoài kia chim hoàng oanh hót dưới một khóm hoa tử kinh nở. Thật cảnh đẹp làm sao!

Khả liên vô hạn thương xuân ý: Đáng thương vô hạn, thương xuân ý. Rất là thương, thương ý xuân, thương ở điểm nào?

Tận tại đình châm bất ngữ thì: Chỉ tại dừng kim chẳng mở lời. Người đọc thấy Ngài thương cô gái đang thêu quá. Nhưng không ngờ câu cuối: Chỉ ở chỗ dừng kim không còn thêu và không nói. Thương rất là thương ở chỗ đó. Nghĩa là sao? Chúng ta nhớ Ni sư Diệu Nhân có bài thơ:

Mê chi cầu Phật,
Hoặc chi cầu thiền,
Thiền Phật bất cầu,
Uổng khẩu vô ngôn.

Nghĩa là khi Thiền Phật không còn cầu nữa thì “uổng khẩu vô ngôn” là không còn lời nói, tức là đến chỗ cứu kính.

Bài thơ trên, về sau, khi tra khảo lại có người nói rằng nó giống bài thơ của một Thiền sư đời Tống ở Trung Hoa. Nhưng trong nhà thiền chúng ta có điểm đặc biệt là của ai cũng mặc, khi mình dùng thì thành của mình nên nói mỗi lần nhắc lại là mỗi lần mới. Thế nên khi Ngài dùng lại bài thơ là tâm trạng của Ngài, chớ không phải của người xưa nữa. Tâm trạng này như thế nào? Ngài diễn tả người đẹp, cảnh đẹp và lòng mình thương dạt dào, nhưng thương là thương điểm nào? Thương chỗ dừng kim, thương chỗ không mở lời. Trong kinh Nam tông có giảng Niết-bàn là không đan dệt. Chúng ta cứ đan dệt nghiệp càng ngày càng dày. Còn Niết-bàn là dừng hết sự đan dệt tức là dừng nghiệp. Nói dừng kim tức là dừng sự đan dệt, mà dừng đan dệt tức là Niết-bàn. Còn nghiệp thì còn sanh tử, hết nghiệp thì vô sanh, nên Niết-bàn có nghĩa là vô sanh, đó là chỗ ước mơ của người tu. Người tu phải đạt đến chỗ không còn nghiệp sanh tử, đến chứng quả vô sanh, tức Niết-bàn. Thế nên thích nhất, quí nhất là chỗ không còn đan dệt, tức là dừng kim. Và cứu kính của Thiền là chỗ không mở lời vì ngôn ngữ đều nằm trong đối đãi sanh diệt, mà đến chỗ cứu kính là không còn sanh diệt đối đãi nên không còn lời. Đó là hai điểm thích nhất của người tu, chớ không phải thích mỹ nhân, thích hoa hay thích chim hoàng oanh. Chính là thích chỗ dừng kim, không còn đan dệt nghiệp, thích chỗ không lời, chỗ cứu kính không còn đối đãi.

ÂM:

NGỌ THỤY

Vũ quá khê sơn tịnh,
Phong lâm nhất mộng lương.
Phản quan trần thế giới,
Khai nhãn túy mang mang.

DỊCH:

NGỦ TRƯA

Mưa tạnh, khe núi sạch,
Rừng phong giấc ngủ ngon.
Nhìn lại đời bụi bặm,
Mở mắt dường ngủ say.

GIẢNG:

Qua bốn câu trên chúng ta thấy đạo lý như thế nào?

Vũ quá khê sơn tịnh. Khi đám mưa qua rồi núi được sạch, bụi bặm tuôn xuống hết nên mưa tạnh khe núi sạch.

Phong lâm nhất mộng lương, trong rừng phong ngủ một giấc thật ngon, khi mở mắt:

Phản quan trần thế giới, nhìn lại cuộc đời bụi bặm này.

Khai nhãn túy mang mang: mở mắt dường ngủ say! Sao lạ vậy? Người đời cho nhắm mắt là ngủ, là mê, mở mắt là thức, là tỉnh, nhưng trong cõi trần này, người đời mở mắt mà vẫn mê. Thí dụ như ở đời những gì hữu ích cho mọi người thì người ta làm là phải, nhưng có những việc vô ích hại mình, hại người mà người ta vẫn thích làm, vậy là mê hay tỉnh? Trong khi làm họ vẫn mở mắt, như vậy có phải mở mắt dường ngủ say không? Gần nhất như người tu chúng ta luôn luôn khẳng định trong lòng là không để sáu trần lôi cuốn. Khi nào chúng ta làm đúng, đó là tỉnh, còn khi nào làm khác điều khẳng định, đó là mê.

Như trong lúc quí vị mở mắt đi lại nói năng đàng hoàng mà có khi nhớ tránh lục trần, có khi lại quên, tuy mở mắt mà xông vào lục trần, đó là mở mắt dường ngủ say! Như vậy không phải chỉ trong khi ngủ mới say, mới mê, mà chính trong lúc mở mắt chúng ta vẫn say vẫn mê, nên việc không đáng làm mà vẫn làm!

ÂM:

PHIẾM CHU

Tiểu đĩnh thừa phong phiếm diểu mang,
Sơn thanh thủy lục hựu thu quang.
Sổ thanh ngư địch lô hoa ngoại,
Nguyệt lạc ba tâm giang mãn sương.

DỊCH:

CHƠI THUYỀN

Lướt gió thuyền con ruổi tít mù,
Non xanh nước biếc, ánh trời thu.       
Khuất lau sáo thổi vài ba tiếng,
Sương phủ, trăng chìm dưới sóng sâu.

Huệ Chi

GIẢNG:

Bài này có nói đạo lý hay toàn là cảnh chơi thuyền?

Lướt gió thuyền con ruổi tít mù, một chiếc thuyền con đi xa tít trong dòng sông rộng mênh mông.

Non xanh nước biếc ánh trời thu, nào là non xanh nước biếc, nào là ánh sáng trời thu… Hai câu này toàn là tả cảnh.

Khuất lau sáo thổi vài ba tiếng, là ngoài đám hoa lau có vài tiếng sáo thổi.

Nguyệt lạc ba tâm giang mãn sươngsương phủ trăng chìm dưới sóng sâu.

Như vậy chúng ta thấy con thuyền vô tình, non nước vô tình, ánh mặt trời cũng vô tình, nhưng trong cảnh vô tình đó, ngoài khóm hoa lau lại trỗi lên tiếng sáo, khi ấy sương phủ, trăng lặn dưới lòng sông. Tất cả là một cảnh im vắng bao phủ bởi một bầu trời trong trẻo lặng lẽ, chợt có mấy tiếng sáo vang lên, đó là để nói rằng trong cảnh tịch tĩnh có cái động chớ không phải hoàn toàn im lặng. Chúng ta thấy những bài thơ của ngài Điều Ngự cũng có nói điều này, nghĩa là tả cảnh núi sông yên vắng, rồi cuối cùng có tiếng chim hót… Nghĩa là trong chỗ tịch tĩnh vẫn còn có một cái động, đó là cái động giác, cái động của người thức tỉnh.

ÂM:

ĐỀ ĐỘNG HIÊN ĐÀN VIỆT GIẢ SƠN

Hoa mộc di duyên chủng tác sơn,
Lung yên trạo nguyệt, lạc hoa hàn.
Tùng tư niệm lự đô vô tục,
Doanh đắc thanh phong nhất chẩm an.

DỊCH:

ĐỀ NÚI NON BỘ CỦA THÍ CHỦ Ở ĐỘNG HIÊN

Quanh quất cây leo, núi chất chồng,
Hoa rơi lạnh giữa khói trăng lồng.
Từ nay niệm tục thôi vương vấn,
Chiếc gối an nhàn trước gió trong.

                                    Huệ Chi

GIẢNG:

Ngài đến thăm nhà của một đàn việt, thấy trước nhà có hòn non bộ, cảm hứng Ngài làm bài thơ này. Trong bài thơ, hai câu đầu hoàn toàn tả cảnh.

Quanh quất cây leo, núi chất chồng, những hòn đá chồng lên thành từng ngọn núi nhỏ trên hòn non bộ, lại có cây, có dây leo chung quanh.

Hoa rơi lạnh giữa khói trăng lồng. Trên hòn non bộ có những thứ hoa rơi rụng giữa khói có trăng lồng bóng. Đến tâm tư:

Từ nay niệm tục thôi vương vấn là dịch câu tùng tư niệm lự đô vô tục. Tục là thế tục, nghĩa là từ nay những niệm vương vấn với thế tục không còn nữa.

Chiếc gối an nhàn trước gió trong là dịch câu doanh đắc thanh phong nhất chẩm an.

Như vậy tuy có ngọn núi, có hoa, có dây leo, có trăng, có gió, nhưng nếu ngọn núi chỉ là ngọn núi thì không có giá trị gì đối với sự tu hành. Giá trị tu hành chính là chỗ khi nhìn ngọn núi, dầu là giả sơn, chúng ta vẫn hướng đến chỗ tâm an tịnh, còn bận bịu những niệm trần tục và nghĩ đến trên ngọn núi cao, gió mát, nằm ngủ một giấc thật ngon.

Tóm lại ý nghĩa của bài thơ là tâm tư của người tu được ở trên núi nằm yên ngủ, mọi niệm lự trần tục đều dứt sạch.

Mục Lục
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Danh sách chương: