Thiền Tông Việt Nam
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Sơ tổ phái Trúc Lâm TRẦN NHÂN TÔNG - THI PHÚ HÁN NÔM 3 (Phần phụ giảng)

Trong quyển Thiền Tông Bản Hạnh của Thiền sư Chân Nguyên, dưới hội thứ tư của bài phú Cư Trần Lạc Đạo, có ghi một đoạn chú thích ở sau. Thấy đây là căn bản Thiền của Phật giáo Việt Nam, cho nên chúng tôi dẫn ra để giảng cho quí vị. Phần phụ này gồm có những câu hỏi, câu trả lời và hai bài kệ bằng chữ Hán. Chúng tôi dịch nghĩa và giải thích từng phần để quí vị thấy rõ tinh thần Thiền tông Việt Nam.

Câu 1.-

Vấn: Hà giả thị Chân như?

Thị vân: Trạm tịch viên minh khước thái hư.

Dịch:

Hỏi: Thế nào là Chân như?

Đáp: Lặng lẽ tròn sáng rực thái hư.

Câu 2.-

Hựu vấn: Như hà thị Bát-nhã?

Thị vân: Căn nguyên trí tuệ tự kỷ giả.

Dịch:

Lại hỏi: Thế nào là Bát-nhã?

Đáp: Cội nguồn trí tuệ chính mình vậy.

Câu 3.-

Hựu vấn: Như hà thị chân Phật?

Thị vân: Đương cơ đối đáp thị thùy vật?

Dịch:

Lại hỏi: Thế nào là chân Phật?

Đáp: Đang khi đối đáp là vật gì?

Câu 4.-

Hựu vấn: Như hà thị chân kinh?

Thị vân: Đương cơ cử khởi thái phân minh.

Dịch:

Lại hỏi: Thế nào là chân kinh?

Đáp: Đang khi đề khởi rất phân minh.

Câu 5.-

Hựu vấn: Như hà thị truyền phó?

Thị vân: Sư đệ tứ mục giao tương cố.

Dịch:

Lại hỏi: Thế nào là truyền trao?

Đáp: Thầy trò bốn mắt cùng nhìn nhau.

Câu 6.-

Hựu vấn: Như hà thị lãnh chỉ?

Thị vân: Phản bản hoàn nguyên vô nghĩ nghị,

Nhược sanh nghĩ nghị sai quá liễu dã.

Dịch:

Lại hỏi: Thế nào là lãnh chỉ?

Đáp: Trở về nguồn gốc không nghĩ bàn,

Nếu sanh nghĩ bàn sai lầm mất.

Kệ vân:

I.

Cừ kim chính thị ngã,
Ngã kim bất thị cừ,
Nhược năng như thị hội,
Phương đắc khế Chân như.
Ngộ Tự tâm thị Phật,
Cố danh liễu đạt Chân như.
Ngộ Tự tâm thị pháp,
Cố danh nhất tự pháp môn.
Vạn pháp qui nhất,
Cố danh nhất thể Như Lai.

Dịch:

Nó nay chính là ta,
Ta nay không phải nó.
Nếu hay hiểu như thế,
Mới khế hợp Chân như.
Ngộ tâm mình là Phật,
Gọi liễu đạt Chân như.
Ngộ tâm mình là pháp,
Gọi nhất tự pháp môn.
Muôn pháp trở về một,
Gọi nhất thể Như Lai.

… Hựu vân:

II.

Đường đường chân diện mục,
Lộ lộ chủ nhân ông,
Bao hàm thiên địa ngoại,
Quán triệt sát hải trung.
Dụng thời thành diệu hữu,
Tĩnh xứ thái hư không.
Nhân nhân giai cụ túc,
Vật vật tổng viên thông.
Tùng tư lãnh ngộ đắc,
Liễu hưu tẩu tây đông.

Dịch:

Rành rành chân diện mục,
Lồ lộ chủ nhân ông,
Bao trùm ngoài trời đất,
Xuyên suốt cõi nước trong.
Khi dùng thành diệu hữu,
Chỗ lặng khắp hư không.
Người người đều đầy đủ,
Vật vật thảy viên thông.
Từ đây lãnh ngộ được,
Đâu còn chạy tây đông.

Tinh thần Thiền tông Việt Nam được biểu lộ qua các câu hỏi và hai bài kệ trên. Chúng tôi sẽ giải thích từng phần.

Câu 1

Hỏi: Thế nào là Chân như?

Đáp: Lặng lẽ tròn sáng rực thái hư.

Lâu nay chúng ta thường giải thích Chân như theo từ ngữ, chân là chân thật, như là như như không biến đổi. Nhưng với Thiền sư Chân Nguyên, Ngài nhìn thấy rõ Chân như là cái lặng lẽ tròn sáng, rực rỡ cả thái hư, chớ không phải cái lặng lẽ im lìm không có gì. Nói như vậy để chúng ta hiểu khi tu đạt đến Chân như, mới biết đó là cái lặng lẽ sáng rực trùm khắp cả hư không.

Câu 2

Hỏi: Thế nào là Bát-nhã?

Đáp: Cội nguồn trí tuệ của chính mình vậy.

Chúng ta thường học kinh Bát-nhã, hay trì tụng Bát-nhã Tâm Kinh v.v…, vậy Bát-nhã nghĩa là gì. Ở đây đáp rất rõ ràng: Bát-nhã là cội nguồn trí tuệ của chính mình vậy. Tại sao dùng chữ cội nguồn? Vì ở thế gian ai học hỏi thông minh được gọi là người trí tuệ. Nhưng trí đó đối với trong đạo là thế trí hay trí thế gian, chưa phải là trí cội nguồn, trí cội nguồn tức là Trí căn bản bên trong của chính mình. Trí này không phải là cái lanh lẹ sáng suốt bình thường của người thế gian, mà trí này thấu suốt được lẽ thật của con người và vũ trụ cho nên nói là cội nguồn trí tuệ của chính mình vậy.

Câu 3

Hỏi: Thế nào là chân Phật?

Đáp: Đang khi đối đáp là vật gì?

Câu này nghe rất khó hiểu. Hỏi: thế nào là chân Phật, tức là hỏi: Thế nào là Phật thật? Đáp rằng: Chính khi đối đáp qua lại là Phật, chớ không gì khác. Như vậy dễ quá, ai mà không có đối đáp. ai cũng nhanh miệng, hỏi đâu đáp đó, đâu có ai ngu xuẩn không đối đáp được, thế thì ai cũng là Phật sao? Khi đối đáp có những lời mỉa mai, những lời lấn lướt châm biếm v.v… vậy Phật là như thế sao? Chính chỗ này khiến cho mọi người nghi. Chúng tôi dẫn câu chuyện Thiền sư Huệ Hải đến tham vấn Mã Tổ.

Huệ Hải hỏi: - Thế nào là Phật?

Mã Tổ bảo: - Kho báu nhà mình chẳng đoái hoài, bỏ nhà đi tìm cái gì?

Huệ Hải thưa: - Cái gì là kho báu nhà mình của Huệ Hải?

Mã Tổ bảo: - Chính cái ngươi hỏi ta đó là kho báu của ngươi.

Như thế là đúng với câu “đang khi đối đáp là vật gì”. Vậy trong khi đối đáp có phải là Phật không? Vì lâu nay chúng ta có lầm lớn là mong tìm Phật, mà tìm bên ngoài, cứ nghĩ rằng Phật ở Ấn Độ hay ở các ngọn núi cao bên Trung Quốc như Ngũ Đài Sơn v.v… chúng ta không nhớ Phật là cái hiện thực ngay nơi mình, mà cái hiện thực đó là cái gì? Tức là cái tri giác đang biết, đang nói, đang trả lời, chính cái đó là Phật chớ không phải tìm ở đâu. Nhưng đang nói, đang trả lời, chớ không phải đang suy nghĩ, nếu suy nghĩ thì mất Phật. Tuy có đối đáp mà không phải là cái suy nghĩ, như vậy mới là Phật thật. Còn Phật ngồi trên bàn là Phật hình tướng để chúng ta nương thôi, chớ không phải Phật thật. Phật thật là Phật của chính mình.

Câu 4

Hỏi: Thế nào là chân kinh?

Đáp: Đang khi đề khởi rất phân minh.

Như vậy Phật là lúc chúng ta đối đáp, kinh là khi chúng ta đề khởi. Chân kinh tức là kinh chân thật, còn gọi là Tâm kinh. Kinh đó là khi chúng ta dấy khởi nó rõ ràng, chỗ đó là kinh chớ không phải ở đâu khác. Vì sao? Vì Phật là tâm hiện hữu của chúng ta, không phải hiện hữu trong sanh diệt, mà hiện hữu sẵn ở mắt tai mũi lưỡi thân. Còn kinh là từ cái hiện hữu đó dấy khởi lên lời hay lẽ đẹp. Thế nên ngộ được tâm thì các lời nói chúng ta đều là kinh.

Câu 5

Hỏi: Thế nào là truyền trao?

Đáp: Thầy trò bốn mắt cùng nhìn nhau.

Chỗ này hơi lạ đối với đạo, lại dễ lầm lẫn đối với đời. Khi hỏi “thế nào là truyền trao”, tức là người thầy truyền tâm ấn cho người trò như thế nào, đáp rằng“thầy trò bốn mắt cùng nhìn nhau”. Câu đáp này có nguồn gốc từ xưa: Trên hội Linh Sơn, khi thuyết pháp xong, Phật cầm cành hoa đưa lên, đồng thời mắt Ngài nhìn khắp đại chúng, nhìn đến Ca-diếp, Ca-diếp nhìn Phật mỉm cười. Ngay đó Phật liền truyền tâm ấn, nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm v.v… nay trao cho Ca-diếp”, đó là truyền trao. Như vậy có phải là thầy trò bốn mắt cùng nhìn nhau không? Tại sao ngày nay chúng ta cùng nhìn nhau mà không có ai ngộ? Không có truyền trao?

Khi xưa ở Trung Hoa có Thiền sư Tỉnh Niệm đệ tử ngài Phong Huyệt, đi đứng nằm ngồi đều thầm tụng kinh Pháp Hoa, nên có hiệu là Niệm Pháp Hoa. Một hôm trong hội chúng tám trăm người, ngài Phong Huyệt ngồi khóc.

Tỉnh Niệm hỏi: - Tại sao Hoà thượng khóc?

Phong Huyệt nói: - Ta lo rằng mai kia ta tịch không còn ai kế thừa, giáo pháp của tông Lâm Tế e ngang đây phải dứt.

Tỉnh Niệm thưa: - Hoà thượng thấy con thế nào?

Phong Huyệt bảo: - Ta trông mong ở ngươi đã lâu, nhưng e ngươi còn đắm mê kinh quá, không thể buông rời.

Tỉnh Niệm thưa: - Việc này không khó, nếu con hiểu được yếu chỉ thì con bỏ rất dễ.

Hôm sau ngài Phong Huyệt lên tòa, ở dưới hội chúng Tỉnh Niệm ngồi chờ nghe pháp, nhưng Phong Huyệt không thuyết gì cả, Ngài nhìn thẳng từng người trong đại chúng, nhìn đến Tỉnh Niệm, Tỉnh Niệm liền ngộ, phủi áo đứng dậy đi ra. Ngay đó Phong Huyệt xuống tòa trở về phương trượng.

Như vậy có phải tứ mục giao tương cố không? Kinh Pháp Hoa gọi là Phật tri kiến, tức cái thấy biết Phật. Chư Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên là khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Vậy Phật tri kiến ở đâu? Ở ngay nơi Tánh thấy của chính mình, không có đâu xa. Ngay nơi Tánh thấy mà nhận ra Phật tri kiến, trong nhà thiền gọi là truyền tâm. Phong Huyệt chỉ cần nhìn đại chúng, khi nhìn tới Tỉnh Niệm, Tỉnh Niệm nhận ra được, thay vì mỉm cười như ngài Ca-diếp, Tỉnh Niệm đứng dậy phủi áo đi. Hành động này tỏ rằng mình đã thâm nhập được yếu chỉ kinh Pháp Hoa, cho nên từ đó Tỉnh Niệm không còn trì kinh nữa và được Phong Huyệt truyền tâm ấn để kế thừa.

Thế nên từ Phật ở Ấn Độ cho đến Tổ ở Trung Hoa và ở Việt Nam có Thiền sư Chân Nguyên đời Lê, sự truyền tâm và ngộ đạo đều từ “tứ mục tương cố”. Vì vậy nói đến thiền, nói đến sự truyền trao là nói chỗ “tứ mục tương cố”.

Trên hội Linh Sơn đức Phật đưa cành hoa sen rồi nhìn đại chúng, Ca-diếp lãnh hội được nên mỉm cười gọi là “niêm hoa vi tiếu”. Tại sao bao nhiêu người trong chúng không ai lãnh hội được, chỉ có ngài Ca-diếp lãnh hội? Là vì những người kia chưa có nhóm đầy đủ những hạt giống trong thâm tâm, cho nên khi Phật nhìn không biết Phật muốn nói gì. Còn khi Phật nhìn tới Ca-diếp, Ca-diếp lãnh hội được ngay, tức là thâm nhập được điều Phật muốn chỉ. Truyền tâm là như vậy.

Lại trong hội chúng tám trăm người, ngài Phong Huyệt lên tòa ngồi nhìn khắp chúng, Tỉnh Niệm liền ngộ. Tại sao? Là vì những người kia không có uẩn tích, không có nuôi dưỡng sâu đậm hạt giống trong tâm cho nên nhìn mà không có dính dáng gì cả. Chỉ có Tỉnh Niệm đã tích lũy hạt giống sâu đậm rồi nên khi thầy nhìn đến, Tỉnh Niệm hiểu được ý của thầy liền ngộ. Vậy ngộ này không phải bốn mắt nhìn nhau rồi ngộ, mà ngộ từ cái tích lũy đầy đủ ở trong tâm mình, cho nên khi gợi đến liền bừng sáng. Chúng ta đừng hiểu lầm, tưởng lấy mắt nhìn nhau là ngộ, không phải như vậy.

Ở ngoài thế gian, khi có tình ý với nhau người ta cũng dùng mắt nhìn nhau thông cảm, còn nếu không có tình ý thì không có thông cảm nhau. Trong đạo vì hạt giống đã nuôi dưỡng đến thời kỳ khai mầm cho nên một phen nhìn là cảm thông ngay, như thế mới hiểu được câu “tứ mục tương cố”. Vậy truyền trao không phải là đưa một vật, mà chính khi người thầy muốn chỉ điều gì, người trò liền thông cảm lãnh hội được ý của thầy, đó gọi là truyền trao tâm ấn.

Câu 6

Hỏi: Thế nào là lãnh chỉ?

Đáp: Trở về nguồn gốc không nghĩ bàn,

Nếu sanh nghĩ bàn sai lầm mất.

Lãnh chỉ là lãnh hội được yếu chỉ thiền. Sở dĩ chúng ta lãnh hội được yếu chỉ thiền là vì chúng ta biết quay lại soi sáng tâm mình, không chạy theo suy nghĩ luận bàn, mà trở về nguồn gốc của tâm. Còn nếu dấy niệm suy nghĩ luận bàn thì sai lầm mất yếu chỉ rồi.

BÀI KỆ I

Cừ kim chính thị ngã,
Ngã kim bất thị cừ.
Nhược năng như thị hội,
Phương đắc khế Chân như (hay như như).

Bốn câu này là trích từ bài kệ của ngài Động Sơn. Khi đi qua cầu nhìn thấy bóng mình ở dưới nước Ngài ngộ, nên có làm bài kệ tám câu, ở đây là trích bốn câu sau.

Cừ kim chính thị ngã. Khi đứng trên cầu nhìn xuống nước ngài Động Sơn thấy bóng của mình nên nói “nó nay chính là ta”. Cừ là nó, nó là bóng của mình, cho nên nó chính là mình. Nếu nói cái bóng chính là mình, vậy cái thật này không phải là mình sao? Câu thứ hai nói:

Ngã kim bất thị cừ, tức là ta nay không phải nó. Tuy bóng chính là mình, nhưng mình không phải là bóng. Nói cái bóng mà cũng muốn nói những niệm trong nội tâm của mình. Niệm dấy lên duyên theo cảnh, đó là bóng, nhưng cái bóng đó của mình chớ không phải của ai khác. Nếu cái bóng đó là mình, thì mình là bóng mất rồi! Nếu Tâm thể là cái nghĩ suy duyên theo ngoại cảnh, thì cái nghĩ suy đó chợt có chợt không, chợt sanh chợt diệt. Nếu ta là cái chợt có chợt không thì khi không duyên theo ngoại cảnh lúc đó mất ta rồi sao? Thế nên cái nghĩ suy là bóng của mình chớ không phải thật mình, thấy như vậy là thấy đúng lẽ thật. Nếu nhận bóng là mình, thì mình thành ảo ảnh không thật. Nhưng mình còn có cái thật ở trong.

Hai câu kệ trên vừa diễn tả cái bóng ở dưới dòng suối, vừa chỉ những vọng tưởng ở nội tâm đang chạy theo ngoại cảnh. Những suy nghĩ vọng tưởng đó chỉ là cái bóng của mình chớ không phải thật mình, cái thật mình luôn luôn hiện hữu ở mắt, ở tai… Như mắt nhìn thì thấy, có thấy là có biết, thấy trắng biết trắng, thấy xanh biết xanh v.v… Thấy màu sắc đâu có suy nghĩ, không suy nghĩ mà vẫn biết, thì cái biết đó không có động. Thí dụ chúng ta đang đi trên đường, mở mắt nhìn thấy cây cối biết cây cối, thấy người vật biết người vật, thấy cái gì biết cái ấy mà không cần suy nghĩ, cái biết này là hằng hữu. Nơi tai chúng ta cũng vậy, lúc nào cũng đang nghe, nghe tiếng trống biết là trống, nghe tiếng chuông biết là chuông… Nghe tiếng trống tiếng chuông mà không cần suy nghĩ, tuy không suy nghĩ mà vẫn nghe vẫn biết. Cái thấy nghe luôn luôn hiện tiền không đợi suy nghĩ, cho nên cái hiện tiền là cái thật mình, còn cái suy nghĩ là bóng của mình.

Lâu nay chúng ta theo bóng mà quên mình, đó là mê, cái mê muôn đời cho bóng là mình, nên cứ chấp mình suy nghĩ thế này là đúng, người kia suy nghĩ thế kia là sai v.v…, cứ chấp như vậy mà tranh cãi hơn thua phải quấy, không nhận ra cái biết hiện tiền không cần suy nghĩ mà bao giờ cũng sẵn có. Như trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật nói con mắt lúc nào cũng thấy, ngài A-nan nghi như vậy lúc ngủ hay lúc nhắm mắt thì đâu có thấy. Chúng ta ai cũng đồng ý như ngài A-nan là khi nhắm mắt thì không thấy.

Phật hỏi A-nan: - Như ông đi vào trong nhà tối không có đèn, ông thấy cái gì?

A-nan thưa: - Con thấy tối đen.

Phật nói: - Nếu ông hỏi người mù ở ngoài đường “anh thấy cái gì”, người mù đáp “tôi thấy tối đen”. Như vậy người mù thấy tối đen cũng như ông vào trong nhà tối thấy tối đen, có khác nhau không?

Ông thấy tối đen là có thấy, người mù thấy tối đen cũng có thấy. Ông thấy tối vì ở trong nhà không có đèn, nên không thấy cảnh vật, nếu đốt đèn lên liền thấy ngay. Như vậy khi thấy tối là tại cảnh tối chớ cái thấy vẫn có. Người mù thấy tối vì màng mây che mắt, không thấy được cảnh bên ngoài, nếu chữa trị lột màng mây đi, làm cho mắt sáng lại thì cũng thấy cảnh vật, như vậy cái thấy đâu có mất bao giờ! Ngay khi ngủ chúng ta nhắm mắt lại, nhưng vẫn thấy, giả sử có ai bật đèn sáng lên, chúng ta cảm thấy chói mắt, như vậy cái thấy lúc nào cũng sẵn có ở mắt.

Ở tai cũng thế, lúc nào cũng sẵn có cái nghe. Bình thường chúng ta nói có tiếng mới nghe, còn không tiếng thì không nghe, như vậy là quên mình theo vật. Thí dụ như có tiếng động, như tiếng chuông tiếng trống, thì nghe tiếng chuông tiếng trống, còn nếu không có tiếng chuông tiếng trống thì nghe không tiếng, tại sao nói không nghe? Vậy mà chúng ta cứ lầm khi nghe không tiếng lại nói là không nghe! Nhưng cái nghe lúc nào cũng sẵn, có tiếng nghe có tiếng, không tiếng nghe không tiếng, có lúc nào là không nghe đâu. Thế nên Phật nói chúng sanh quên mình chạy theo vật. Có vật bên ngoài thì nói có mình, không vật thì nói không có mình, nhưng không ngờ mình là hiện hữu không bao giờ vắng mặt, chỉ có ngoại cảnh khi có khi không mà thôi. Nếu chấp ngoại cảnh là mình, đó là si mê, không thấy đúng lẽ thật.

Tóm lại ý nghĩa hai câu kệ: Cái bóng suy nghĩ là ta, tức cái suy nghĩ đó chính là mình, không phải ai khác. Nhưng ta không phải là nó, tức cái ta chân thật không phải là cái bóng.

Nhược năng như thị hội,
Phương đắc khế Chân như.

Nếu người nào hiểu được như thế, mới có thể khế hợp với Chân như. Chúng ta nghe mà lãnh hội được, đó là khế hợp với Chân như, còn không hiểu là không khế hợp vậy.

Ngộ Tự tâm thị Phật,
Cố danh liễu đạt Chân như.

Ngộ tâm mình chính là Phật, gọi là thấu suốt được Chân như. Chân như không phải cái gì bên ngoài mà là Tâm chân thật của chính mình. Ngộ được tâm đó gọi là Phật, gọi là thấu suốt được Chân như.

Ngộ Tự tâm thị pháp,
Cố danh nhất tự pháp môn.

Ngộ tâm mình là pháp, gọi là nhất tự pháp môn, tức là pháp môn một chữ, một chữ tâm, vì tất cả pháp đều từ tâm lưu xuất. Khi đức Phật giác ngộ Tự tâm rồi, Ngài nói pháp cho chúng ta nghe, tất cả pháp Ngài nói là từ tâm mà ra. Khi nghe pháp chúng ta nhận được Tự tâm, vậy chỉ có một chữ tâm thôi. Thế nên từ một chữ tâm mà lưu xuất, rồi ngộ được cũng trở về một chữ tâm, gọi là nhất tự pháp môn.

Khi xưa Thiền sư Thanh Nguyên sai đệ tử đem thơ sang Thiền sư Nam Nhạc, trong lá thơ chỉ viết có một chữ Tâm. Như vậy người xưa cũng ngộ ở nhất tự pháp môn. Còn chúng ta ngày nay có tới Tam tạng kinh điển, thành ra cứ đi loanh quanh mãi không ngộ được.

Vạn pháp qui nhất,
Cố danh nhất thể Như Lai.

Muôn pháp trở về một, hiểu được như vậy gọi là nhất thể Như Lai, tức là Chân như một thể. Muôn pháp không ngoài Thể chân như, cho nên nói muôn pháp trở về một.

BÀI KỆ II

Đường đường chân diện mục,
Lộ lộ chủ nhân ông.

Đường đường chân diện mục, đường đường là rành rành, chân diện mục là mặt mắt thật xưa nay của mình. Mặt mắt thật xưa nay hiện rành rành ra đó, chớ không có giấu giếm.

Lộ lộ chủ nhân ông, Ông chủ bày ra rõ ràng mà chúng ta không nhận thấy. Xin hỏi tất cả quí vị ở đây, có người nào không thấy chăng? Tất cả ai cũng thấy, vậy cái thấy đó là cái gì? Quí vị có nghe chúng tôi giảng không? Có nghe! Như vậy ai cũng thấy, ai cũng nghe, nó hiện rành rành, nó bày lồ lộ ra chớ gì. Thế mà chúng ta không chấp nhận cái đó, chỉ theo cái lăng xăng suy nghĩ cho là mình, còn cái đang thấy đang nghe lại quên mất. Nếu chúng ta sống với cái đang thấy đang nghe, lúc đó tâm chúng ta có tịnh không? Nghe thì cứ lắng nghe không nghĩ suy gì cả, thấy thì cứ nhìn thấy không phân biệt gì hết, đó là cái chân thật hiện tiền có giấu giếm đâu, cho nên nói rành rành chân diện mục, lồ lộ chủ nhân ông.

Bao hàm thiên địa ngoại,
Quán triệt sát hải trung.

Chân diện mục hay chủ nhân ông bao hàm thiên địa ngoại, tức là bao trùm ngoài trời đất và quán triệt sát hải trung, là xuyên suốt cả muôn cõi, sát hải là những cõi nước nhiều như biển. Vậy chân diện mục hay chủ nhân ông bao trùm tất cả trời đất và muôn cõi, chớ không phải là cái gì riêng nhỏ. Như hiện giờ chúng ta khởi nghĩ về người thì tâm duyên ở người, khởi nghĩ về vật thì tâm duyên theo vật… Thế nên khi tâm khởi nghĩ thì nó duyên theo từng mảnh vụn của thế gian. Còn nếu chúng ta không nghĩ gì cả thì cái thấy cái nghe của chúng ta trùm khắp không có dính vào đâu, nên nơi nào cũng thấy, nơi nào cũng nghe. Vì vậy cái “không tướng” và “không bị cột trong hình tướng” thì không có giới hạn, còn cái gì “có tướng” và “cột trong hình tướng” thì bị giới hạn. Như cái nhà, ngọn núi hay con sông vì có tướng nên có giới hạn. Còn hư không không tướng nên chỗ nào cũng có hư không, cũng như Tâm thể không có tướng nên bao trùm tất cả.

Dụng thời thành diệu hữu,
Tĩnh xứ thái hư không.

Khi khởi dụng, tức là khởi tâm làm Phật sự, thì thành diệu hữu tức là có đủ các phương tiện, đủ thứ công dụng để hành sử. Còn chỗ lặng lẽ thì rộng lớn như hư không. Giả sử như khi tôi nghĩ phải thuyết pháp, thì tôi có những công dụng để thuyết pháp. Khi tôi không thuyết pháp, không nghĩ gì cả, thì tâm tôi ở đâu? Tôi có tâm không? Tôi vẫn thấy vẫn nghe thường xuyên không thiếu, cái đó đồng với hư không rộng lớn thênh thang.

Nhân nhân giai cụ túc,
Vật vật tổng viên thông.

Người người đều đầy đủ, ai mà không có cái thấy cái nghe. Ai cũng thấy, cũng nghe, cũng biết, đâu có người nào thiếu. Vật vật thảy viên thông, mỗi vật mỗi vật đều bao trùm thông suốt với nhau. Thí dụ như hiện giờ quí vị nhìn lên, có thấy tôi không? Những cái thấy của quí vị có chọi nhau, chướng ngại nhau không? Nếu cái thấy có hình tướng, thì cái thấy này làm trở ngại cái thấy kia, nhưng tất cả quí vị đều thấy tôi, không ai bị ngăn ngại cả. Đó gọi là viên thông không chướng ngăn. Như vậy mới thấy tất cả đều dung thông nhau không có trở ngại.

Tùng tư lãnh ngộ đắc,
Liễu hưu tẩu tây đông.

Nếu từ đây mà lãnh ngộ được, thì đâu còn phải chạy đông chạy tây để tìm kiếm Phật, vì Phật chính sẵn nơi mình. Đây là tinh thần Thiền tông Việt Nam.

Trong hai bài kệ này, các Thiền sư Việt Nam tóm tắt cho chúng ta hiểu cội gốc của sự tu thiền. Tu thiền là trở về chính mình để nhận rõ ai ai cũng sẵn có cái chân thật. Chỉ vì chúng ta mê lầm nên chạy theo cái giả mà quên đi cái thật. Một khi nhận ra cái thật rồi, không còn mê lầm nữa, chúng ta sẽ yên lòng ngồi tu không có gì phải thắc mắc, không cần phải tìm kiếm nơi đâu.

Chúng tôi nghĩ rằng bài này do Thiền sư Chân Nguyên viết ra, để nói lên đường hướng tu thiền của Phật giáo Việt Nam.

Mục Lục
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Danh sách chương: