Thiền Tông Việt Nam
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Tổ thứ hai phái Trúc Lâm THIỀN SƯ PHÁP LOA - CÁCH HỌC CẦN BIẾT RÕ (Yếu minh học thuật)

DỊCH:

Người học trước phải khảo xét Kinh, Pháp, sau mới tu hành. Kinh có năm vị, Pháp có bốn pháp.

Kinh có năm vị: 1. Tư lương vị tức là Thập tín. 2. Gia hạnh vị tức là Thập trụ. 3. Kiến đạo vị tức là Thập hạnh. 4. Tu đạo vị tức là Thập hồi hướng. 5. Cứu kính vị tức là Thập địa.

Pháp có bốn pháp: 1. Pháp chọn bạn. 2. Pháp nghe đạo. 3. Pháp giữ đạo. 4. Pháp chứng đạo.

Vị tư lương ở đầu là phước điền chung cho tất cả, bốn vị sau là tu hành riêng. Bốn vị phối hợp với bốn pháp:

1. Pháp chọn bạn có hai: a. Không nên thân cận. b. Nên thân cận.

a. Không nên thân cận.

Tăng có bốn hạng si: Tăng tham, Tăng ác, Tăng dối trá, Tăng không có lòng tin. Thầy có bốn thứ lỗi: Thầy tà, Thầy ngoại đạo, Thầy tật đố, Thầy tiểu tâm. Bạn có bốn hạng kém: Chấp pháp Tiểu thừa, tham cầu phước báo, chấp tướng ngã nhân, tâm không trí tuệ. Những vị này đều không nên thân cận.

b. Nên thân cận.

Tăng có lục hòa: thân hòa cùng ở, miệng hòa không tranh, ý hòa không trái (ý hòa cùng vui), hiểu biết hòa cùng giải bày, giới hòa cùng tu, lợi hòa chia đồng nhau. Thầy có bốn hạng chánh: Thầy chánh tông, Thầy chánh tâm, Thầy chánh hạnh, Thầy chánh ngữ. Bạn có bốn hạng thù thắng: học Đại thừa, thông suốt kinh điển, thấy việc vô ích thì khuyên can, có nạn giúp đỡ nhau. Những người này nên thân cận, tức thuộc Gia hạnh vị.

2. Pháp nghe đạo. Vì thân cận thầy bạn nên được ngộ chánh tông, xa lìa pháp tướng, thường giữ nội tâm, tức là vị Kiến đạo.

3. Pháp giữ đạo. Người đã ngộ chánh tông nên chọn cảnh mà ở. Cảnh thì có núi dữ, nước (sông) dữ không nên ở. Cảnh phải đủ bốn duyên: nước, lửa, lương thực, rau quả, là đủ bốn duyên. Lại nói: Cảnh không gần nhân gian, chẳng xa nhân gian. Gần thì ồn náo, xa thì không người hộ trì, đây là cảnh nên ở. Ở cảnh này dễ dứt nghiệp, dưỡng thần nuôi trí, sanh tâm Bát-nhã, tính ghi nhớ, nuôi lớn thai thánh, ắt được chứng đạo. Đây tức thuộc vị Cứu kính, tức pháp viên mãn đạo, mới được siêu phàm nhập thánh.

Kinh Pháp Hoa phẩm An Lạc Hạnh dẫn kinh A-hàm nói: Xa lìa bốn hạng bạn ác, gần gũi bốn hạng bạn lành. Xa lìa bốn hạng bạn ác là:

1. Gần gũi bạn ác bên ngoài thì sợ, mà trong lòng không thân.

2. Nói lời êm đẹp với bạn ác, lời thì thuận mà ý thì trái.

3. Kính thuận bạn ác, tâm tuy kính thuận đối với việc làm thiện ác đều hùa theo, mà không có tâm can gián nhau.

4. Đồng sự với bạn ác, là cùng bạn ác làm việc ác, như cùng uống rượu, cờ bạc, dâm dật, ca múa…

Bốn hạng bạn lành là: 1. Bạn lành dừng lỗi, mọi việc ác cùng dừng. 2. Bạn lành thương mến, gặp việc khổ thương mến nhau. 3. Bạn lành lợi người, được việc vui chia sớt nhau. 4. Bạn lành đồng sự, gặp việc lành chung nhau làm.

Thấy học giả thời nay, chưa nghe đạo tự xưng mình hành đạo. Chẳng biết họ hành cái đạo gì? Cổ đức nói: “Ăn được vài cọng rau, tự xưng là Tổ sư trai.” Lại nói: “Như con trâu trọn đời ăn cỏ, mà chưa từng thành Phật”. Cho nên ngài Tuệ Trung nói: “Ăn rau cùng ăn thịt, chúng sanh mỗi sở thuộc; Xuân về trăm cỏ sanh, làm sao thấy tội phước?” Lý (Linh) Nguyên nói: “Ba chục năm qua tầm kiếm khách.” Đây là nghe đạo, sau mới hành đạo vậy.

*

Vả lại, Sư là người tiếp mùi thơm bủa khắp của hai mươi tám vị Tổ Ấn Độ, mồi đèn trao đuốc của sáu vị Tổ Trung Hoa, noi dấu tông Dương Kỳ, được yếu chỉ ngài Viên Ngộ. Thường ngày bàn thiền nói pháp, mà không một pháp có thể được. Nơi nơi tiếp độ chúng sanh, mà không phải chúng sanh, nhưng chẳng chúng sanh nào không được lợi. Ngài khi đi thì xem trâu đá rống trăng, đứng thì nghe ngựa gỗ hí gió, ngồi thì tựa gốc cây không bóng, nằm thì nghỉ trong tháp Vô phùng. Ai có thể dò xét được bờ mé của Ngài.

Kinh Chư Sơn Lâm nói: “Thiền tông ở nơi triều thị, nếu gặp được chỉ thú ngoài lời, chẳng dính nơi thấy nghe, chớ kẹt lý huyền trong ngôn cú, buông lỏng nghĩ bàn. Về sau ở trong Tông môn mới được một chuyển ngữ, quyết nhận ông nắm tay nhau cùng đi. Nếu không được vậy, ắt giống loài mọt đục sách chẳng khác.”

Tuy tôi có duyên kim cải, gặp được sách quí, hổ thẹn không có tài nhả phượng, lạm biên dấu vết Thánh Hiền, nhờ việc thiện nhỏ này, dâng lên đền đáp bốn ân. Dù cho nhiều đời nát xương, cũng khó đền được bốn ơn như trời cao lồng lộng. Nghe một câu mà lặng thần có thể thành được Chánh giác.

Ôi!

Kiếm vì bất bình rời vỏ báu
Thuốc do trị bịnh thoát bình vàng.

Kệ rằng:

Ma cường pháp nhược đạo sao côi,
Phật Tổ khuyên răn tạo bản đồ.
Chỉ có lời huyền làm mẫu mực,
Ai hay thức giả giải hạnh vô.

Phạm Văn Vũ ở xã Thanh Liệu khắc bản in.

GIẢNG:

Người học trước phải khảo xét Kinh, Pháp, sau mới tu hành. Kinh có năm vị, Pháp có bốn pháp.

Kinh có năm vị:

1. Tư lương vị, tức là Thập tín.

2. Gia hạnh vị, tức là Thập trụ.

3. Kiến đạo vị, tức là Thập hạnh.

4. Tu đạo vị, tức là Thập hồi hướng.

5. Cứu kính vị, tức là Thập địa.

Kinh có năm vị, mỗi vị có mười phần gọi là Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng và Thập địa.

Theo kinh Lăng Nghiêm, năm vị gồm có:

1. Tư lương vị tức là Thập tín. Bước vào vị Bồ-tát, Thập tín là căn bản, gồm có: 1. Tín tâm, 2. Niệm tâm, 3. Tinh tấn tâm, 4. Tuệ tâm, 5. Định tâm, 6. Bất thối tâm, 7. Hộ pháp tâm, 8. Hồi hướng tâm, 9. Giới tâm, 10. Nguyện tâm.

2. Gia hạnh vị tức là Thập trụ: 1. Phát tâm trụ, 2. Trị địa trụ, 3. Tu hành trụ, 4. Sinh quí trụ, 5. Phương tiện cụ túc trụ, 6. Chánh tâm trụ, 7. Bất thối trụ, 8. Đồng chân trụ, 9. Pháp vương tử trụ, 10. Quán đỉnh trụ.

3. Kiến đạo vị tức là Thập hạnh: 1. Hoan hỉ hạnh, 2. Nhiêu ích hạnh, 3. Vô sân hận hạnh, 4. Vô tận hạnh, 5. Ly si loạn hạnh, 6. Thiện hiện hạnh, 7. Vô trước hạnh, 8. Tôn trọng hạnh, 9. Thiện pháp hạnh, 10. Chân thật hạnh.

4. Tu đạo vị tức là Thập hồi hướng: 1. Cứu hộ nhất thiết chúng sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng, 2. Bất hoại hồi hướng, 3. Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng, 4. Chí nhất thiết xứ hồi hướng, 5. Vô tận công đức tạng hồi hướng, 6. Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng, 7. Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng, 8. Chân như tướng hồi hướng, 9. Vô phược giải thoát hồi hướng, 10. Pháp giới vô lượng hồi hướng.
5. Cứu kính vị tức là Thập địa: 1. Hoan hỉ địa, 2. Ly cấu địa, 3. Phát quang địa, 4. Diệm tuệ địa, 5. Nan thắng địa, 6. Hiện tiền địa, 7. Viễn hành địa, 8. Bất động địa, 9. Thiện tuệ địa, 10. Pháp vân địa.

Đây là phối hợp năm vị trải qua năm mươi địa của chư Bồ-tát.

Pháp có bốn pháp: 1. Pháp chọn bạn, 2. Pháp nghe đạo, 3. Pháp giữ đạo, 4. Pháp chứng đạo.

Vị tư lương ở đầu là phước điền chung cho tất cả, bốn vị sau là tu hành riêng. Bốn vị phối hợp với bốn pháp.

Đây nói bốn pháp:

1. Pháp chọn bạn có hai:

a. Không nên thân cận.

b. Nên thân cận.

Về chọn bạn thì phải biết bạn nên thân cận và bạn không nên thân cận. Đây là nói về pháp số, nhưng thật ra là chỉ cho chúng ta sống trong tùng lâm biết người nào nên gần, người nào không nên gần.

a. Không nên thân cận.

Tăng có bốn hạng si: Tăng tham, Tăng ác, Tăng dối trá, Tăng không có lòng tin. Tăng là chỉ chung cả Tăng và Ni.

Một là Tăng tham, người tu dù Tăng hay Ni nhưng lòng tham muốn chứa chấp nhiều của cải tiền bạc, Tăng đó chúng ta không nên thân cận, gần gũi.

Hai là Tăng ác, thường gọi là ác Tăng, cũng không nên gần gũi. Tại sao? Vì những người đó tuy hình thức người tu mà không có tâm từ bi hỉ xả, chỉ chứa chấp sự nóng giận hung dữ.

Ba là Tăng dối trá, bên ngoài thì hình thức người tu mà trong lòng chứa chấp những điều gian giảo, dối trá, lừa bịp người chớ không thật tu.

Bốn là Tăng không có lòng tin. Tuy tu Phật mà không tin Phật, lại tin những chuyện đâu đâu. Thí dụ như pháp Phật dạy phải lấy nhân quả làm căn bản, nhưng chúng ta không tin nhân quả, lại tin bùa chú… các thứ mê tín bên ngoài.

Đây là nói về Tăng bạn bè ngang hàng.

Thầy có bốn thứ lỗi: Thầy tà, Thầy ngoại đạo, Thầy tật đố, Thầy tiểu tâm.

Thầy tà là thầy dạy mình những điều không đúng chánh pháp.

Thầy ngoại đạo như ở những ngôi chùa có vị thầy dạy mình coi tay, coi tướng, bói quẻ v.v…

Thầy tật đố, tức là thầy cứ chê người này, ghét người kia, giận người nọ, nghe nói ai hơn mình thì tức tối, chống cự v.v…

Thầy tiểu tâm tức thầy tâm nhỏ hẹp, làm việc gì cũng nhắm vào sự ích kỷ của bản thân, của cá nhân.

Học những điều này có lợi cho người học trò và cả người thầy, để biết mình thuộc hạng nào mà dè dặt.

Bạn có bốn hạng kém: chấp pháp Tiểu thừa, tham cầu phước báo, chấp tướng ngã nhân, tâm không trí tuệ.

Những người bạn nói: làm đi có phước lắm, đời sau sanh ra giàu sang sung sướng, bạn đó là bạn tham cầu phước báo.

Bạn chấp tướng ngã nhân là người bạn khi nói chuyện luôn luôn đem người này người kia ra để phê phán khen chê.

Bạn tâm không trí tuệ, si mê không biết lẽ phải quấy, đúng sai, đó là không có trí tuệ.

Những vị này đều không nên thân cận.

Tóm lại, Ngài dạy chúng ta mỗi phần có bốn hạng không nên thân cận. Tăng là chung cho cả Tăng Ni, những vị Tăng nào thuộc về tham, ác, dối trá, không có lòng tin thì chúng ta không nên gần.

Kế đến là thầy, vị thầy nào không dạy chánh đạo, lại đem pháp ngoại đạo dạy là thầy tà, thầy ngoại đạo không nên gần. Vị thầy nào khinh người này, chê người kia, hoặc ai hơn thì kiếm chuyện gièm pha, nhỏ nhen ích kỷ là thầy tật đố, thầy tiểu tâm thì không nên gần.

Còn bạn thì nhớ bạn thích pháp Tiểu thừa, bạn thích cầu phước báo, bạn nói về nhân ngã, bạn không có trí tuệ thì không nên gần.

Những điều này quí vị phải biết để chọn Tăng, chọn thầy, chọn bạn không bị lầm.

b. Nên thân cận.

Tăng có lục hòa: thân hòa cùng ở, miệng hòa không tranh, ý hòa không trái (ý hòa cùng vui), tức là ý hòa đồng duyệt, duyệt là vui, chẳng những không trái mà còn vui với nhau. Hiểu biết hòa cùng giải bày, giới hòa cùng tu, lợi hòa chia đồng nhau. Tăng có sáu hòa là Tăng chúng ta nên thân cận.

Thầy có bốn hạng chánh: Thầy chánh tông, Thầy chánh tâm, Thầy chánh hạnh, Thầy chánh ngữ.

Thầy chánh tông là thầy dạy chúng ta con đường tu hành đúng như Phật Tổ.

Thầy chánh tâm là thầy hướng chúng ta tu, đi thẳng vào con đường đạo chớ không quanh co.

Thầy chánh hạnh tức là thầy có hạnh chân chánh để hướng dẫn mình.

Thầy chánh ngữ tức thầy dùng lời chân chánh của Phật Tổ đem ra dạy.

Bạn có bốn hạng thù thắng: học Đại thừa, thông suốt kinh điển, thấy việc vô ích thì khuyên can, có nạn giúp đỡ nhau.

Bốn hạng đó là nên thân cận. Quí vị nhớ bốn hạng bạn này để chọn cho kỹ và nên gần. Còn thấy chuyện vô ích mà không khuyên can để mặc làm gì làm, đó chưa phải là bạn tốt, chưa phải là bạn lành. Có tai nạn thì ngó lơ, đó cũng không phải là bạn lành.

Những người này nên thân cận, tức thuộc Gia hạnh vị.

Tóm lại Tăng thì phải được lục hòa mới nên gần. Thầy thì phải chánh tông, chánh tâm, chánh hạnh, chánh ngữ mới nên gần. Bạn thì phải thông Đại thừa, suốt kinh điển, khuyên can mình điều quấy, giúp đỡ khi khó khăn, mới nên gần.

2. Pháp nghe đạo. Vì thân cận thầy bạn nên được ngộ chánh tông, xa lìa pháp tướng, thường giữ nội tâm, tức là vị Kiến đạo.

Nếu người tu được gần những vị Tăng lục hòa, những Thầy chân chánh, những người bạn tốt, tức là đã tiến được một bước rồi.

3. Pháp giữ đạo. Người đã ngộ chánh tông nên chọn cảnh mà ở. Cảnh thì có núi dữ, nước (sông) dữ không nên ở. Chữ “dữ” này là chỗ xấu, tức là những núi hiểm nguy, những nơi nước độc v.v… không nên ở.

Cảnh phải đủ bốn duyên: nước, lửa, lương thực, rau quả, là đủ bốn duyên. Ở đâu có đủ bốn duyên đó thì nên ở, vì ở mà không có rau ăn cũng không được, không có lương thực làm sao ở? Cho nên chỗ ở phải có đủ nước, đủ lửa, đủ lương thực, đủ rau quả.

Lại nói: Cảnh không gần nhân gian, chẳng xa nhân gian. Gần thì ồn náo, xa thì không người hộ trì, đây là cảnh nên ở.

Người xưa kỹ như vậy. Chúng ta có bệnh là khi thích ồn thì đến chỗ chợ búa thật đông, khi thích vắng thì muốn vào tận rừng sâu. Chợ búa hoặc rừng sâu, thích hai nơi đó đều là bệnh. Thế nên ở đây dạy đừng gần nhân gian lắm, gần thì ồn, mà xa thì không ai ủng hộ, như vậy phải vừa chừng. Trúc Lâm bây giờ rất là vừa, không gần mà không xa. Cho nên chỗ ở phải lựa kỹ, không phải muốn ở đâu là ở chỗ đó cho bằng được(1).

Ở cảnh này dễ dứt nghiệp, dưỡng thần nuôi trí, sanh tâm Bát-nhã, tính ghi nhớ, nuôi lớn thai thánh, ắt được chứng đạo. Đây tức thuộc vị Cứu kính, tức pháp viên mãn đạo, mới được siêu phàm nhập Thánh. Kinh Pháp Hoa phẩm An Lạc Hạnh dẫn kinh A-hàm nói: Xa lìa bốn hạng bạn ác, gần gũi bốn hạng bạn lành.

Xa lìa bốn hạng bạn ác là:

1. Gần gũi bạn ác bên ngoài thì sợ, mà trong lòng không thân. Vì họ có qui luật thì sợ chớ trong lòng không ưa.

2. Nói lời êm đẹp với bạn ác, lời thì thuận mà ý thì trái. Nói hùa, nói nịnh theo, trong ý lại không thuận.

3. Kính thuận bạn ác, tâm tuy kính thuận đối với việc làm thiện ác đều hùa theo, mà không có tâm can gián nhau. Tốt xấu gì cũng hùa làm hết, không biết can gián nhau.

4. Đồng sự với bạn ác, là cùng bạn ác làm việc ác, như cùng uống rượu, cờ bạc, dâm dật, ca múa…

Bốn hạng bạn lành là:

1. Bạn lành dừng lỗi, mọi việc ác cùng dừng. Gần bạn lành thì những lỗi lầm của mình, nhờ bạn khuyên can, nên càng ngày chúng ta càng dừng được lầm lỗi.

2. Bạn lành thương mến, gặp việc khổ thương mến nhau. Khi gặp tai nạn thì thương mến cứu giúp nhau.

3. Bạn lành lợi người, được việc vui chia sớt nhau, nghĩa là những gì cùng vui, cùng được lợi ích thì chia sớt với nhau.

4. Bạn lành đồng sự, gặp việc lành chung nhau làm.

Ngài muốn dẫn cho chúng ta nhớ trong kinh dạy phải nên gần những người lành như vậy, chớ không nên gần những người dữ.

Thấy học giả thời nay, chưa nghe đạo tự xưng mình hành đạo.

Chưa có học mà nói hành là hành cái gì? Nói hành đạo là phải học đạo, không học đạo mà nói hành đạo, đó là nói dối không đúng sự thật.

Chẳng biết họ hành cái đạo gì? Cổ đức nói: Ăn được vài cọng rau, tự xưng là Tổ sư trai, mới ăn vài cọng rau mà xưng là Tổ rồi, Tổ sư trai.

Lại nói: “Như con trâu trọn đời ăn cỏ, mà chưa từng thành Phật.” Cho nên ngài Tuệ Trung nói: “Ăn rau cùng ăn thịt, chúng sanh mỗi sở thuộc; Xuân về trăm cỏ sanh, làm sao thấy tội phước?”

Lý (Linh) Nguyên nói: “Ba chục năm qua tầm kiếm khách.” Đây là nghe đạo, sau mới hành đạo vậy.

Tôi nghi Ngài lầm Linh Vân là Lý Nguyên vì câu “ba chục năm qua tầm kiếm khách”, là một câu trong bốn câu thơ của ngài Linh Vân. Khi thấy hoa đào ngộ đạo, Ngài đọc lên bài kệ:

Tam thập niên lai tầm kiếm khách,
Kỷ hồi lạc diệp hựu trừu chi.
Tự tùng nhất kiến đào hoa hậu,
Trực chí như kim cánh bất nghi.

Như vậy câu được dẫn là câu đầu bài thơ của ngài Linh Vân. Nguyên Thiền sư Chí Cần ở núi Linh Vân, khi nhìn thấy hoa đào Ngài ngộ đạo, làm bài kệ này, cho nên không thể nói câu này là của Lý Nguyên được. Vì thế câu này là của Linh Vân thì hợp lý hơn.

Tóm lại Ngài nói rõ rằng người muốn ngộ đạo, trước phải học đạo, nên nói ba chục năm qua tầm kiếm khách, tức là đi chỗ này chỗ kia để cầu học, tìm hiểu. Đó là ý: Đây là nghe đạo, sau mới hành đạo vậy. Nhờ tìm học, chúng ta mới thực hiện được những gì đã học, gọi đó là hành.

(1) Nghi là: Đây thuộc vị Tu đạo.

4. Pháp chứng đạo: Ở cảnh này…

Mục Lục
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Danh sách chương: